HOA KỲ VÀ DẦU LỬA

Hoa Kỳ và dầu lửa: có cái nầy là cần phải có cái kia. Trong lịch sử, đó cũng là công thức có lúc đã đem lại sự vĩ đại và ưu việt toàn cầu cho Hoa Kỳ. Ngày nay, đó cũng có thể là con đường dẫn xuống địa ngục. Người Trung Quốc (TQ) đã hiểu. Còn người Mỹ thì sao?

QUAN HỆ HỔ TƯƠNG

Sự trổi dậy của Hoa Kỳ như một bá quyền quân sự và kinh tế phần lớn là nhờ đã nắm được quyền kiểm soát các nguồn cung cấp dầu khí thế giới. Dầu lửa đã là nguồn lực của các đại công ty đầu tiên, đem lại thắng lợi trong Đệ Nhị Thế Chiến, và nền tảng của sự bùng nổ kinh tế lớn lao trong thời kỳ hậu chiến. Ngay cả trong kỷ nguyên vũ khí nguyên tử, cũng chính sự giàn trải bố trí các tàu chạy bằng dầu, các trực thăng, các phi cơ , xe bọc sắt, và tên lửa trên toàn cầu đã giúp duy trì địa vị siêu cường suốt thời chiến tranh lạnh và sau đó của Hoa Kỳ.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi đà tuột dốc kinh tế và quân sự hiên nay của Mỹ đã trùng hợp với đà suy giảm tương đối của dầu lửa như nguồn năng lượng chính.

Đà tuột dốc kinh tế vừa nói đã được phản ảnh qua bách phân ngày một bé dần của GDP Hoa Kỳ trong tổng GDP thế giới, trong khi nền kinh tế đã từng giữ vai trò đầu tàu của Mỹ nay không còn đủ khả năng đem lại xung lực tăng trưởng và thăng tiến. Trong lúc đó, tỉ suất tăng trưởng của những cường quốc đang lên như Ấn Độ, TQ thường từ 8 đến 10% mỗi năm. Phối hợp với thành tích tiến bộ kỹ thuật của các đại cường nầy, các con số hiện nay rõ ràng đã là những tín hiệu cho thấy uy lực toàn cầu của Mỹ ngày một bị xói mòn.

Trên bình diện quân sự, viễn ảnh cũng tương tự. Đã hẳn, đội biệt kích tinh nhuệ, Navy SEALs, đã hạ sát Osama bin Laden, nhưng sự thành công trong cuộc hành quân đơn độc đó – mặc dù đã được chào đón ở Hoa Kỳ với sự hồ hởi chỉ thích hợp, chẳng hạn,  với thành tích thắng lợi sau một cuộc chiến lớn lao – cũng khó lòng bù đắp được tình trạng thảm hại trong hai cuộc chiến chống các lực lượng trổi dậy ở Iraq và Afghanistan.

Thực vậy, gần một thập kỷ sau khi bị lật đổ, các lực lượng Taliban đã trổi dậy mạnh mẽ để đối đầu ngay với toàn lực quân sự của Hoa Kỳ và đồng minh, trong khi ở Iraq các lực lượng kháng chiến hỗn hợp đã chứng tỏ đủ sức đứng vững. Trong lúc đó, Iran – một xứ thù nghịch hay bête noire của Hoa Kỳ ở Trung Đông – luôn chứng tỏ hùng cường. Al Qaeda có thể đã có phần thất thế, nhưng như những biến động gần đây ở Ai Cập, Libya, Syria, Yemen, và Pakistan cho thấy, ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong khu vực hiện nay đã giảm thiểu khá nhiều so với thời tiền xâm lăng Iraq năm 2003.

Song song với quyền lực ngày một giảm sút của Hoa Kỳ, vai trò tương đối của dầu lửa trong phương trình năng lượng cũng suy giảm theo. Trong ấn bản 2000 của phúc trình “Triển Vọng Năng Lượng Thế Giới” – International Energy Outlook (IEO), Cơ Quan Thông Tin Năng Lượng (EIA) thuộc Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ tiên đoán với tin tưởng sản lượng dầu hỏa sẽ ngày một gia tăng ở Phi Châu, Alaska, vùng Vịnh Ba Tư, Vịnh Mexico, và nhiều nơi khác. Thực vậy,  EIA đã tiên đoán sản lượng dầu lửa toàn thế giới có thể đạt 97 triệu thùng (barrel) mỗi ngày vào năm 2010 và 115 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2020. EIA cũng đã kết luận dầu lửa có thể duy trì vị trí nguồn năng lượng hàng đầu lâu dài của thế giới – 38% năng lượng toàn cầu.

Tuy nhiên, chỉ sau một thập kỷ, mọi dự đoán đã hoàn toàn thay đổi. Vào năm 2010,  các chuyên gia EIA chợt hiểu rõ giới hạn thiên nhiên của sản lượng dầu lửa và đã điều chỉnh dự phóng sản lượng tương lai xuống một mức khiêm tốn đáng thất vọng. Trong thực tế, sản lượng dầu toàn thế giới vào năm 2010 chỉ lên tới 82 triệu thùng mỗi ngày, 15 triệu thùng ít hơn mức chờ đợi.

Vả chăng, so với con số dự đoán trong IEO ấn bản 2000, EIA giờ đây dự phóng sản lượng năm 2020 chỉ ở mức 85 triệu thùng/ngày – cao hơn sản lượng năm 2010 chút ít, và 30 triệu thùng thấp hơn dự phóng một thập kỷ trước đây, một dự phóng bây giờ đã được quẳng vào sọt rác lịch sử. Tưởng cũng cần ghi nhận, những con số dự phóng trên đây chỉ bao gồm dầu ở thể lỏng quy ước và loại ra ngoài dầu khó khai thác hay dầu dơ, như  tar sands Canada, shale oil, và những loại nhiên liệu phi quy ước.

Những dự phóng gần đây nhất của EIA cũng cho thấy bách phân dầu trong tổng  số cung năng lượng thế giới – rất xa với vị trí vững bền 38% trước đây – đã sụt xuống mức 35% năm 2010 và tiếp tục sụt giảm xuống còn 32% năm 2020 và 30% năm 2035. Thay vào đó, các nguồn cung hơi đốt thiên nhiên và năng lượng tái tạo được chờ đợi giữ một vai trò ngày một quan trọng hơn.

Vì vậy, một câu hỏi cần được đặt ra: Phải chăng có một liên hệ nhân quả giữa khuynh hướng suy giảm trong uy quyền toàn cầu của Hoa Kỳ và sụt giảm trong sản lượng dầu lửa toàn cầu? Một phân tích nghiêm túc cho thấy có nhiều lý do chính đáng để tin như vậy.

TỪ STANDARD OIL ĐẾN CHỦ THUYẾT CARTER

Hơn 100 năm trước đây, sự bành trướng kinh tế đầu tiên của Hoa Kỳ ra thế giới bên ngoài đã được khởi động bởi các công ty dầu khổng lồ, đặc biệt là công ty Standard Oil Company của John D. Rockfeller. Các công ty nầy đã thiết lập những đầu cầu hùng mạnh ở Mexico và Venezuela, được tiếp nối tại vài nơi ở Á châu, Bắc Phi, và cố nhiên ở Trung Đông.

Cùng với tình trạng lệ thuộc ngày một sâu xa vào số dầu ở nhiều lãnh thổ xa xôi, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ khởi sự được tái định hình chung quanh mục tiêu thủ đắc và bảo vệ những nhượng địa quan yếu trong những khu vực nhiều trữ lượng dầu có thể khai thác. Với Thế Chiến II và chiến tranh lạnh, dầu và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ trở nên chồng chéo. Xét cho cùng, Hoa Kỳ đã chiến thắng phe Trục Đức-Ý-Nhật chính là nhờ ở trữ lượng dầu quốc nội dồi dào trong khi Đức và Nhật thiếu dầu không đủ cung cấp nhiên liệu thiết yếu cho quân đội trong những năm cuối của cuộc chiến.

Tuy nhiên, trong thực tế, các trữ lượng dầu quốc nội của Hoa Kỳ đã cạn kiệt nhanh chóng ngay cả trước ngày Thế Chiến II kết thúc. Vì vậy, Hoa Thịnh Đốn đã phải tìm kiếm những nguồn cung mới có thể kiểm soát ở hải ngoại. Do đó, Saudi Arabia, Kuwait, và các xứ Trung Đông khác đã trở thành những nhà cung cấp dầu thô then chốt được sự che chở quân sự của Hoa Kỳ.

Và trong một thời gian dài lâu, quyền thống trị các nguồn sản xuất dầu cũng đã  đem lại quyền lực kinh tế hùng mạnh của Mỹ.

Sau Thế Chiến II, sự dồi dào của dầu lửa rẻ tiền đã là động lực thúc đẩy đà phát triển của các ngành kỹ nghệ mới lớn lao – hàng không dân dụng, xây dựng xa lộ, các khu gia cư và thương mãi ngoại ô, nông nghiệp cơ giới hóa, và kỹ nghệ đồ nhựa.

Dầu lửa dồi dào cũng là nền tảng của sự bành trướng quyền lực quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ.  Ngũ Giác Đài đã thiết lập nhiều căn cứ quân sự khắp thế giới và cùng lúc đã trở thành quốc gia xài phí dầu lửa khổng lồ. Sự khống chế toàn cầu của Mỹ đã hẳn đã cơ sở trên hàng loạt các tàu biển, phi cơ, thiết giáp, và tên lửa, tiêu thụ nhiều dầu. Chừng nào vùng Trung Đông, và nhất là Saudi Arabia, tiếp tục giữ vai trò một trạm xăng của Hoa Kỳ và dầu lửa còn là một món hàng giá rẻ, người Mỹ tương đối còn đủ khả năng gánh chịu các tổn phí.

Vả chăng, nhờ ở quyền kiểm soát dầu Trung Đông, Hoa Thịnh Đốn cũng dễ dàng chi phối kinh tế Âu châu và Nhật, cả hai đều lệ thuộc vào dầu nhập khẩu từ Vùng Vịnh. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên, một chuổi các tổng thống kế tiếp đã nhấn mạnh Hoa Thịnh Đốn sẽ không cho phép bất cứ quốc gia cạnh tranh nào thách thức quyền kiểm soát các nguồn cung dầu lửa  của Hoa Kỳ – một nguyên tắc cốt lõi của chủ thuyết Carter từ tháng 1-1980 – khi Hoa Kỳ tuyên bố sẽ tuyên chiến với bất cứ cường quốc thù nghịch nào đe dọa dòng chảy dầu lửa từ Vùng Vịnh Ba Tư.

Theo chủ thuyết nầy, sử dụng lực lượng quân sự  là nguyên tắc chủ yếu trong chính sách đối ngoại của Mỹ kể từ năm 1987,  khi nguyên tắc đã được T T Ronald Reagan viện dẫn lần đầu để cho phép tàu chiến Hoa Kỳ hộ tống các tàu dầu Kuwait suốt trong chiều dài cuộc chiến Iran-Iraq. George H. W. Bush cũng viện dẫn cùng một nguyên tắc khi quyết định can thiệp quân sự trong cuộc chiến Vùng Vịnh I, 1990-1991, cũng như T T Clinton khi ra lệnh tấn công Iraq bằng tên lửa vào cuối thập kỷ 1990, và George W. Bush khi phát động cuôc chiến xâm lăng Iraq năm 2003.

Vào thời đó, Hoa Kỳ và dầu lửa là hai đỉnh cao của quyền lực. Với chiến thắng trong chiến tranh lạnh và cuộc chiến Vùng Vịnh I, lực lượng quân sự Hoa Kỳ đã được xếp vào hàng tối thượng, và thế giới đang vắng bóng một cường quốc đủ sức mạnh để thách thức. Và không nơi nào trên hành tinh có những tín đồ cuồng nhiệt hơn Hoa Thịnh Đốn trước khả năng một Hoa Kỳ đơn phương đủ điều kiện gây sốc và kinh hoàng.

Kinh tế Hoa Kỳ vẫn còn tương đối mạnh trong khi bong bóng bất động sản mới bắt đầu manh nha. Kinh tế TQ lúc đó chỉ ở mức bé nhỏ – 15% so với Hoa Kỳ. Chỉ bảy năm sau, bách phân đó đã leo lên 40%. Qua hành động xâm lăng Iraq, Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld muốn chứng minh tính ưu việt của vũ khí công nghệ cao của Hoa Kỳ trong khi chuẩn bị sân khấu chào đón những chiến thắng quân sự tương lai trong khu vực, kể cả một cuộc tấn công khả dĩ vào Iran.

Tương lai dầu lửa hình như không kém phần quan trọng trong năm 2003: số cầu tăng nhanh, giá dầu thô từ 25 đến 30 USD một thùng, và ý niệm “sản lượng dầu đã lên đỉnh điểm” — ý niệm số cung trên hành tinh bị giới hạn nhiều hơn tưởng tượng, và trong một tương lai gần số sản xuất sẽ lên đỉnh điểm, sau đó sẽ tiệm giảm  — vẫn còn là đối tượng chế nhiễu bởi đa số các chuyên viên trong ngành.

Qua quyết định xâm lăng Iraq và thiết lập những căn cứ quân sự lâu dài ngay trong  trung tâm dầu lửa toàn cầu, Tòa Bạch Ốc hy vọng sẽ có thể liên tục duy trì quyền kiểm soát dòng chảy dầu lửa từ Vịnh Ba Tư và tiếp cận trữ lượng khổng lồ của Iraq, trữ lượng đứng thứ nhì sau Saudi Arabia và Iran.

Từ quan điểm một đế quốc, đây là giấc mơ đẹp người Mỹ trước sau gì cũng đến lúc phải tỉnh mộng bất thần. Ngay từ đầu, Hoa Kỳ cũng đã nhanh chóng nhận thức  sức mạnh kỹ thuật của Hoa Kỳ không phải là vạn ứng linh đơn trước chiến lược du kích trong thành phố, và người Mỹ cũng  đã phải cần đến một đội quân chiếm đóng lớn lao và tiếp tục các chiến dịch bình định, bình định, và bình định…Một tình trạng tiến thối lưỡng nan tương tự  ở Afghanistan, nơi chiến binh các giáo phái đã trổi dậy với chiến thuật bất cân xứng đủ sức trung hòa hỏa lực siêu đẳng của Mỹ.  

Để yểm trợ hàng trăm nghìn quân Mỹ trong những khu vực xa xôi, thường rất khó tiếp cận, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã trở thành cơ quan tiêu thụ lớn nhất với số dầu  sử dụng mỗi ngày còn nhiều hơn toàn thể quốc gia Thụy Điễn – trong thời buổi giá dầu thô đã tăng lên 50, rồi 80, và cuối cùng trên 100 USD một barrel. Tậu mãi và cung cấp những số lượng ngày một gia tăng dầu tinh lọc, diesel, nhiên liệu phản lực cơ của các lực lượng Mỹ ở Iraq và Afghanistan có thể chưa phải là lý do chính yếu các phí tổn ngày một lên cao của các cuộc chiến, nhưng chắc chắn được xếp hạng trong nhóm những nguyên do trọng đại. Chỉ riêng phí tổn cung cấp máy điều hòa nhiệt độ cho quân đội Hoa Kỳ trong hai xứ  hiện nay cũng đã được ước tính lên đến 20 tỉ USD mỗi năm.

Với dầu lửa ngày một cạn kiệt, khan hiếm, và đắt giá, Bộ Quốc Phòng buộc lòng phải xét lại những nguyên tắc hoạt động căn bản mỗi khi liên hệ tới năng lượng. Ý niệm quân đội có thể được thay thế bằng con số ngày một gia tăng các siêu vũ khí tiêu thụ nhiều dầu của Bộ trưởng Quốc phòng Rumsfeld đã tỏ ra không thực tế, ngay cả đối với một siêu cường có căn cứ quân sự trên khắp hành tinh, với chiến tranh triền miên đã trở thành chuẩn mực thông thường.

Khỏi phải nói, Ngũ Giác Đài cũng đã lưu tâm đến việc sử dụng các nhiên liệu sinh học, tia nắng mặt trời, và nhiều năng lượng xanh thay thế dầu lửa làm nhiên liệu cho phi cơ và thiết giáp, nhưng tương lai đó vẫn còn xa vời. Tuy vậy, ý nghĩ đến nhiều cuộc chiến đòi hỏi con số bộ binh lớn lao trong các cuộc hành quân chống nổi loạn dài ngày trong những nơi xa xôi trong Vùng Trung Đông nới rộng với phí tổn 400 USD hay cao hơn cho mỗi gallon dầu sử dụng đã rõ ràng lúc một khó nuốt ngay đối với một “siêu cường duy nhất” trước đây. Có lẽ vì vậy mới có hiện tượng đột nhiên có sự vồ vập chiến lược phi cơ không người lái.

Với cách nhìn theo triển vọng, đà tuột dốc của Hoa Kỳ và khuynh hướng tiệm giảm trong địa vị dầu lửa như nguồn năng lượng chính quả thật đã có một liên hệ khắng khít.

ĐỪNG CHỜ ĐỢI QUÁ NHIỀU Ở WASHINGTON

Đây không chỉ là một nối kết biểu kiến duy nhất. Vì lệ thuộc quá sâu xa vào dầu lửa, kinh tế Hoa Kỳ đặc biệt dễ tổn thương vì dầu lửa ngày một khan hiếm, giá cả luôn chao đảo, và tương đối ít nguồn cung cấp.

Một điều khác cũng cần lưu ý: hiện nay, 40% năng lượng ở Hoa Kỳ đến từ dầu lửa, cao hơn bất cứ cường quốc kinh tế nào khác. Điều nầy có nghĩa khi giá dầu tăng hay nguồn cung cấp bị nhiễu loạn vì bất cứ lý do gì –bão tố trong Vịnh Mexico, chiến tranh ở Trung Đông, tai họa môi trường – kinh tế Hoa Kỳ đều dễ lâm nguy .

Trong khi  bong bóng bất động sản xìu xẹp và các trò ma giáo tài chánh đã đưa đến đại suy thoái trong năm 2008, chúng ta cần ghi nhớ suy thoái cũng trùng hợp với sự khởi đầu một đợt gia tăng choáng ngợp trong giá dầu. Như mọi người lái xe đến trạm xăng đều biết, với mức giá 3,70 USD một gallon dầu bình thường, khả năng  giá dầu cao kéo dài đã làm tê liệt điều mà cho đến gần đây người ta thường gọi là đà “phục hồi yếu ớt” – weak recovery.

Mặc dù Washington đang tranh luận ồn ào về khiếm hụt ngân sách và nợ nần, dầu lửa là yếu tố hiếm khi được nhắc tới khi bàn đến gánh nặng công nợ của Hoa Kỳ.  Trong lúc đó, Hoa Kỳ nhập khẩu khoảng 50 đến 60% số dầu sử dụng, và với mức giá ít ra trên dưới 100 USD một thùng hay barrel, người Mỹ đang phải thanh toán trên dưới một tỉ USD mỗi ngày với các nhà cung cấp dầu hải ngoại. Các chi phí nầy luôn chiếm phần lớn nhất trong số khiếm hụt của cân chi phó Hoa Kỳ, và do đó, là nguyên do quan trọng của suy thoái kinh tế.

Đến đây, tưởng phải cần so sánh với TQ, quốc gia cạnh tranh kinh tế hàng đầu của Mỹ. Chỉ trên dưới 20% năng lượng tiêu thụ ở TQ lệ thuộc vào dầu lửa, khoảng 50% con số ở Hoa Kỳ. Thay vào đó, TQ đã dùng than đá, một tài nguyên quốc nội dồi dào. Nhờ vậy, TQ đã có thể sản xuất hàng với phí tổn tương đối thấp. Đã hẳn, vì lệ thuộc vào than đá, TQ cũng đã phải trả một giá cao về môi trường. Người TQ cũng phải nhập khẩu dầu, nhưng kém xa Hoa Kỳ, và phí tổn nhập khẩu ít hơn. Vả chăng, phí tổn dầu nhập khẩu cũng không có cùng tác động làm suy yếu kinh tế như ở Hoa Kỳ, bởi lẽ cân thương mãi hữu hình của TQ đang luôn thặng dư (một phần phương hại cho Hoa Kỳ). Chính vì vậy, khi giá dầu vọt cao trong các năm 2008 và 2011, Bắc Kinh đã không phải trải nghiệm những chấn động đớn đau như Hoa THịnh Đốn.

Đã hẳn, còn nhiều yếu tố khác  giúp giải thích sự trổi dậy ngoạn mục của kinh tế TQ, kể cả phí sản xuất thấp và luật lệ môi trường lỏng lẻo. Tuy nhiên, cũng khó lòng tránh được kết luận sự lệ thuộc sâu xa vào dầu lửa của Hoa Kỳ khi số cung dầu lửa ngày một khan hiếm đã giữ một vai trò quan trọng trong cán cân quyền lực kinh tế thay đổi giữa hai quốc gia.

Tất cả những điều nói trên đã dẫn tới một câu hỏi nghiêm trọng: Trong những năm sắp tới, Hoa Kỳ cần phải đáp ứng như thế nào trước những sự kiện thực tế vừa nói?

Để bắt đầu, vấn đề là Hoa Kỳ cần hành động nhanh chóng nhằm giảm thiểu trình độ lệ thuộc vào dầu lửa và gia tăng số cung các nguồn năng lượng khác, đặc biệt là các năng lượng tái tạo không đe dọa môi trường. Điều nầy không những chỉ giảm thiểu sự lệ thuộc vào dầu nhập khẩu, như vài người đã gợi ý. Chừng nào dầu lửa vẫn còn là nguồn năng lượng chính yếu, người Mỹ sẽ phải chịu thương tổn trước các thăng trầm chao đảo trong giá dầu trên thị trường toàn cầu, dù nguồn gốc phát xuất từ đâu.

Cách chọn lựa duy nhất còn lại là những hình thức năng lượng không chịu ảnh hưởng các xáo trộn quốc tế và có thể giúp phát huy đầu tư quốc nội. Với chọn lựa nầy, người Mỹ mới có thể đặt nền móng cho tiến bộ kinh tế trong tương lai.

Đã hẳn,  nói dễ làm khó. Với Hoa Thịnh Đốn đang trong tình trạng chính trị hầu như hoàn toàn tê liệt, khuynh hướng tiếp tục tuột dốc nhanh chóng hình như rất khó tránh.

Cũng không nên nghĩ TQ sẽ luôn xuôi chèo mát mái. Nếu không nhanh chóng vồ vập các kỷ thuật năng lượng mới, các phí tổn môi trường, do tình trạng lệ thuộc quá đáng vào than đá, không sớm thì muộn sẽ làm què quặt đà tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khác với Hoa Thịnh Đốn, cấp lãnh đạo TQ không những đã nhận thức đầy đủ vấn nạn vừa nói, mà còn đang có hành động để giải quyết với những số đầu tư khổng lồ vào các kỷ thuật năng lượng xanh. Nếu TQ thành công và giữ địa vị khống chế trong địa hạt nầy  – như đã bắt đầu diễn tiến – TQ chắc chắn sẽ qua mặt Hoa Kỳ về tăng trưởng kinh tế.

Từ bỏ dầu lửa để chọn các kỷ thuật năng lượng mới phải là ưu tiên kinh tế số một của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nếu bạn thích cá cược, có lẽ bạn không nên bỏ tiền vào Hoa Thịnh Đốn.

CHIẾN TRANH IRAQ VÀ DẦU LỬA

Trước năm 2003, nhiều biểu ngữ đã xuất hiện trên đường phố: ” ‘Không lấy máu đổi dầu’, ‘Bằng cách nào dầu của Mỹ đã  xuống nằm dưới cát của Iraq?’ và ‘Không đánh đổi sinh mạng lấy dầu!’[1] Những áp phích hay biểu ngữ  viết tay tiêu biểu, do các thành phần phản chiến dương cao trong các cuộc biểu tình lớn lao chống chiến tranh trước ngày chính quyền Bush phát động cuộc chiến xâm lăng Iraq tháng 3-2003, đã bị gạt bỏ. Dầu lửa? Không thể nào!

Đúng vậy, Thứ trưởng Quốc Phòng Paul Wolfowitz hăm hở khoa trương Iraq đang “bềnh bồng trên biển dầu,”[2] nhưng ông đã chỉ vô tình lỡ lời. T T Bush đã tỏ ra cẩn trọng hơn nhiều. Mặc dù đã từng lăn lộn nhiều năm trong kỹ nghệ dầu lửa, cũng như Phó T T Cheney và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Condoleezza Rice, Bush đã không hề nhắc đến từ “dầu”. Khi cần nói, Bush không dùng từ “dầu”, mà là “tài sản quốc gia của Iraq” – Iraq’s “patrimony.”

Vào thời diểm đó, đã hẳn, những người trong cấp lãnh đạo đều hiểu rõ dù lý do cuộc chiến xâm lăng Iraq là gì – tự do, bụi phóng xạ trên bầu trời các thành phố Hoa Kỳ, các cuộc tấn công bằng vũ khí sinh hóa, hay lật đổ một tên độc tài man rợ – nhưng chắc chắn không phải vì dầu!  Một cuộc chiến tranh vì dầu? Quá phủ phàng, ngay cả khi Iraq, vì trùng hợp, tình cờ tọa lạc ngay trung tâm một vùng giàu trữ lượng dầu lửa của hành tinh.

Và không phải chỉ riêng chính quyền Bush. Bạn cũng không hề thấy báo The New York Times hay tạp chí The Economist nhắc đến “dầu”. Trong thực tế, cho đến nay, cũng chẳng mấy thay đổi. Ngay vào trung tuần tháng 9-2011, trong  những bài thú tội mea culpa tám năm muộn màng về cuộc chiến Iraq của phe diều hâu tự do trước đây, các bạn có thể tìm thấy ngay cả những ân hận, tiếc rẽ về lâp trường trong quá khứ, nhưng cũng không thấy nhắc đến từ “dầu lửa” hay đến các đoàn người phản chiến xuống đường kể cả các chuyên gia hơn tám năm trước đây.

Còn về cuộc chiến Libya gần đây nhất (cũng không vì dầu lửa), nơi các oanh tạc cơ của Mỹ và NATO vẫn đang dội bom các tàn quân của lực lượng Muammar Gaddafi, các bài giải thích trên báo chí và các cơ quan truyền thông luôn tập trung vào mục tiêu  “ngăn ngừa tàn sát  thường dân”, “can thiệp nhân đạo”, và “đạp đổ các nhà độc tài tàn ác”. Muốn thấy từ “dầu”, bạn phải lật đến phần D (những trang doanh thương) nơi dưới tiêu đề “Cuộc Tranh Giành Tiếp Cận Tài Nguyên Dầu Libya Bắt Đầu,”[3] cuối cùng bạn cũng có thể đọc một lời bình luận như sau:”Sự tái tục sản xuất dầu Libya có thể giúp hạ thấp giá dầu ở Âu châu, và gián tiếp, giá dầu ở Bờ Biển Miền Đông Hoa Kỳ. Các quốc gia Tây phương – nhất là các xứ NATO đã cung cấp không lực, loại yểm trợ thiết yếu cho phe chống đối – muốn cầm chắc các công ty dầu của mình được ưu tiên bơm dầu thô  Libya.”[4]

Đã hẳn, mặc dù các nổ lực của các tay chân của Bush ở Baghdad, Hoa Kỳ đã chưa hưởng được tí dầu Iraq nào. Nhưng đó là nổi đắng cay Hoa Kỳ phải gánh chịu khi, như một siêu cường đế quốc, người Mỹ trong thực tế đã không chiến thắng trong cuộc chiến dầu lửa. Và còn nhiều đắng cay khác khi người Mỹ không thể thắng bất cứ cuộc chiến nào, dầu hỏa hay gì khác nữa.

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

24-9-2011


[1] ‘No Blood for Oil,’ How did USA’s oil get under Iraq’s sand?’ and Don’t trade lives for oil!.’

[2] ..Iraq “floating on a sea of oil.”

[3] The Scramble for Access to Libya’s Oil Wealth Begins…

[4] The resumption of Libyan production would help drive down oil prices in Europe, and indirectly, gasoline prices on the East Coast of The United States. Western nations – especially the NATO countries that provided crucial air support  to the rebels – want to make sure their companies are in prime position to pump the Libyan crude.

Advertisements