SỰ KIỆN 11/9  VÀ BIỆT LỆ HOA KỲ

Kỷ niệm thứ 10 của sự kiện 11-9-2001, một biến động đã làm thay đổi thế giới, đã đến rồi đi. Ngày 1-5-2011, Osama bin Laden, người chính thức được xem như chủ mưu, đã bị hạ sát ở Pakistan bởi đội biệt kích tinh nhuệ của Hải Quân Hoa Kỳ, SEALS, ngay sau khi bị bắt, không vũ khí và không được bảo vệ, trong cuộc hành quân Geronimo.

Một số nhà phân tích đã ghi nhận: mặc dù cuối cùng đã bị giết, bin Laden cũng đã thành đạt một số thắng lợi đáng kể trong cuộc chiến chống lại Hoa Kỳ.Theo Eric Margolis, “[Bin- Laden] đã nhiều lần khẳng định phương cách duy nhất để buộc Hoa Kỳ phải rút khỏi thế giới Hồi Giáo và đánh bại các tay chân là lôi kéo người Mỹ vào một chuổi các cuộc chiến nhỏ nhưng tốn kém, những cuộc chiến cuối cùng sẽ đẩy Hoa Kỳ đến bờ phá sản. Hay theo ngôn từ của chính bin Laden: Làm Hoa Kỳ mất máu. Hoa Kỳ, trước hết dưới thời George W. Bush, và kế đến, Barack Obama, đã nhảy vào bẩy sập của bin Laden…Các chi tiêu quân sự và nợ nần gia tăng thái quá và lố bịch…có thể là di sản tai hại nhất của nhân vật tự nghĩ có thể đánh bại Hoa Kỳ”[1]nhất là khi số công trái được phe cực hữu lợi dụng bất chấp cả đạo lý, với sự cấu kết của phe Dân Chủ, để xói mòn những gì còn sót lại của các chương trình xã hội, giáo dục, nghiệp đoàn, và nói chung, những rào cản ngăn ngừa và chống đỡ sự bạo ngược chuyên quyền của các đại công ty tư bản.

Trong một thời gian ngắn, Hoa Thịnh Đốn đã tỏ rõ khuynh hướng luôn sẵn sàng thỏa mãn những mong đợi thiết tha nhất của bin Laden. Bất cứ ai với chút kiến thức về vùng Trung Đông đều dễ dàng nhận chân:  một làn sóng tấn công ồ ạt vào thế giới Hồi giáo cũng là một đáp ứng cho những ước nguyện của bin Laden và các cộng sự, và theo lời Bộ trưởng ngoại giao của Pháp, có thể đẩy Hoa Kỳ và các đồng minh vào bẩy sập cực kỳ nguy hiểm.

Như Michael Scheuer, một nhà phân tích cao cấp chịu trách nhiệm theo dỏi Osama bin Laden từ năm 1996, đã viết:“bin Laden đã cho Hoa Kỳ biết chính xác những lý do tuyên chiến với chúng ta. Ông đã quyết tâm thay đổi chính sách của Hoa Kỳ và Tây phương đối với thế giới Hồi giáo,” và phần lớn đã thành công – các lực lượng và chính sách của Hoa Kỳ đang hoàn tất ‘cực đoan hóa’ thế giới Hồi giáo, một mục tiêu Osama bin Laden đã cố gắng thực thi khá thành công nhưng chưa hoàn tất  từ đầu thập kỷ 1990. Vì vậy, tôi nghĩ phải công bằng để kết luận: Hoa Kỳ vẫn luôn là đồng minh thiết yếu duy nhất của bin Laden,”[2] và có thể nói đang tiếp tục như thế ngay sau ngày bin Laden đã bị hạ sát.

11/9 ĐẦU HAY 11/9/1973

Câu hỏi cần được đặt ra: Liệu có thể có một giải pháp thay thế? 

Rất có thể phong trào Thánh Chiến,  phần lớn không mấy ủng hộ bin Laden, có thể đã bị phân hóa và suy yếu sau 11-9. “Tội ác chống lại nhân loại,” như đã được gọi như thế, đã có thể được tiếp cận như một tội phạm, với một chiến dịch quốc tế lùng bắt các nghi phạm. Điều nầy lúc đó đã được công nhận, nhưng một ý tưởng như thế vẫn chưa được xem xét.

Thực vậy, theo lời Robert Fisk: tội phạm khủng khiếp 11-9 đã xẩy ra mang tính “đồi bại và tàn ác kinh tởm”[3] – một phán đoán chính xác.

Tưởng cần nên ghi nhớ các tội phạm cũng có thể đã tệ hại hơn nhiều. Chẳng hạn, giả thiết cuộc tấn công đã đi xa hơn như  bỏ bom Tòa Bạch Ốc, giết chết tổng thống, áp đặt một chế độ độc tài quân sự tàn bạo: giết hại hàng nghìn và tra tấn hàng chục nghìn trong khi thiết lập một trung tâm khủng bố giúp áp đặt những nhà nước tra tấn và khủng bố quốc tế; thực hiện một chiến dịch ám sát quốc tế; và sử dụng một đội ngũ kinh tế gia nhanh chóng đẩy kinh tế vào những cuộc khủng hoảng tệ hại nhất trong lịch sử. Điều đó rõ rệt là đã có thể tai hại hơn 11-9 rất nhiều.

Không may, đó không phải một thí nghiệm chỉ được nghĩ tới. Mà đó là điều đã thực sự xẩy ra. Điều không chính xác duy nhất trong bản liệt kê ngắn ngũi trên đây là các con số cần được nhân lên gấp 25 lần để có được những con số tương đương theo đầu người, một thước đo thích hợp. Chúng ta đang nói đến điều ở Mỹ La Tinh thường được gọi là 11-9 đầu tiên — 11-9-1973,  khi Hoa Kỳ đã thành công trong nổ lực lật đổ chính quyền dân cử của Salvador Allen ở Chí Lợi với cuộc đảo chính quân sự đưa chế độ tàn bạo [của Tướng] Pinochet lên cầm quyền. Mục tiêu, theo ngôn từ của chính quyền Nixon,  là  “giết các ‘vi khuẩn’ có thể khuyến khích “tất cả những người nước ngoài nào muốn hại chúng ta” hầu chiếm lại các tài nguyên riêng của chính họ và trong nhiều cách theo đuổi một chính sách phát triển độc lập không thể tha thứ. Lẫn khuất trong hậu trường là kết luận của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (NSC) : Nếu Hoa Kỳ không thể kiểm soát châu Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ sẽ không thể hy vọng “thành đạt một trật tự mới thành công ở những nơi khác trên thế giới.”[4]

11/9/đầu tiên [1973] – không giống 11/9 lần thứ hai [2001]- đã không thay đổi thế giới. “Đó không là một cái gì có hậu quả thật lớn lao,”[5] như Henry Kissinger đã quả quyết với minh chủ Nixon một vài ngày sau đó.

Những biến cố với rất ít hậu quả không chỉ giới hạn ở cuộc đảo chánh quân sự hủy hoại nền dân chủ Chí Lợi và khởi động câu chuyện rùng rợn sau đó. Biến cố 11/9 đầu tiên chỉ là một hành động trong  bi kịch đã bắt đầu từ 1962, khi JFK đã chuyển dịch sứ mạng của giới quân sự  Mỹ La Tinh từ “bảo vệ bán cầu” – một ý niệm lỗi thời còn sót lại từ Đệ Nhị Thế Chiến – qua “an ninh nội bộ” – một ý niệm với một giải thích ghê rợn trong những giới Mỹ La Tinh dưới sự khống chế của Mỹ.

Trong cuốn History of the Cold War – Lịch Sử Chiến Tranh Lạnh – của Đại Học Cambridge mới xuất bản, học giả Mỹ La Tinh John Coatsworth viết, từ thời đó cho đến “sự tan rã của Liên Bang Xô Viết năm 1990, con số những tù nhân chính trị, nạn nhân các cuộc tra tấn và hành quyết,  những thành phần bất đồng chính kiến và bất bạo động ở Mỹ La Tinh, đã vượt rất xa những con số cùng loại ở Liên Bang Xô Viết và các xứ vệ tinh Đông Âu,” kể cả các người tử vì đạo cũng như các vụ tàn sát hàng loạt, luôn được Hoa Thịnh Đốn hổ trợ hay khởi xướng. Hành động bạo lực quan trọng cuối cùng là vụ giết hại dã man sáu nhà trí thức Mỹ La Tinh hàng đầu, các linh mục Jesuit, vài ngày sau khi Bức Tường Bá Linh sụp đổ. Thủ phạm là tiểu đoàn Salvador, đã từng để lại các dấu tích kinh tởm và  vừa được tái huấn luyện tại Trường Chiến Tranh Đặc Biệt JFK – JFK School of Special Warfare, hành động theo lệnh trực tiếp của Bộ tư lệnh Nhà Nước khách hàng của Mỹ.

Khỏi cần phải nói, các hậu quả của tai họa nầy vẫn còn vang vọng ở Tây Bán Cầu.

TỪ BẮT CÓC VÀ TRA TẤN ĐẾN ÁM SÁT

Tất cả những điều kể trên, và nhiều điều tương tự, đều bị gạt bỏ như chẳng có gì quan trọng và đã chìm vào quên lãng. Những người có sứ mệnh thống trị hoàn cầu được an hưởng một hình ảnh thoải mái hơn, được diễn tả rành mạch trên số báo mới đầy uy tín – The Royal Institute of International Affairs, ở Luân Đôn. Bài viết chủ đạo thảo luận “trật tự thế giới mang tính viễn kiến” của “hậu bán thế kỷ 20” được đánh dấu bằng “sự phổ quát hóa một viễn kiến Hoa Kỳ về thịnh vượng thương mãi.”[6] Cũng có một chút gì đó trong bảng liệt kê, nhưng nó đã không chuyển tải được nhận thức của những ai đang ở đầu họng súng.

Điều đó cũng đúng với vụ ám sát Osama bin Laden, đã đánh dấu chung cuộc của ít ra một giai đoạn trong “cuộc chiến chống khủng bố,” lần nầy do T T George W. Bush tái tuyên chiến sau biến cố 11/9 thứ hai. Chúng ta thử duyệt xét một vài tư tưởng về biến cố nầy và ý nghĩa của nó.

Ngày 1-5-2011, Osama bin Laden đã bị ám sát ngay trong khu nhà đang ở, gần như  hoàn toàn không được bảo vệ, trong cuộc hành quân biệt kích 79 Navy SEALs, vi phạm không phận Pakistan bằng trực thăng. Sau nhiều câu chuyện khủng khiếp do chính quyền tung ra rồi rút lại, những phúc trình chính thức cũng đã cho thấy lúc một sáng tỏ cuộc hành quân là một cuộc ám sát – đã được hoạch định vi phạm nhiều chuẩn mực luật quốc tế sơ đẳng, bắt đầu với chính cuộc xâm lăng.

Cuộc hành quân  hình như  không hề có ý định bắt sống một nghi can không vũ khí, điều lẽ ra  đã có thể thực hiện bởi 79 biệt kích. Họ đã không gặp một kháng cự nào  – ngoại trừ, như chính họ đã phúc trình, từ người vợ nghi can cũng không vũ khí. Họ đã “bắn hạ để tự vệ” khi bà nhào tới, theo Tòa Bạch Ốc.

Các biến cố đã được tái cấu trúc đáng tin cậy của phóng viên Trung Đông kỳ cựu Yochi Dreazen và các đồng nghiệp trong tờ Atlantic. Dreazen, nguyên phóng viên quân sự của tờ Wall Street Journal, là phóng viên cao cấp của National Journal Group về các vấn đề quân sự và an ninh quốc gia. Theo điều tra của nhóm, kế hoạch của Bạch Ốc rõ ràng đã không xét đến sự khả dĩ bắt sống bin Laden: “Nhà cầm quyền đã chỉ thị rõ ràng cho Bộ Chỉ huy Hành Quân Đặc Nhiệm Liên Ngành bí mật là muốn một bin Laden chết, theo một quan chức cao cấp biết rõ các cuộc thảo luận. Một sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ tóm tắt cuộc tấn công đã cho biết SEALs hiểu sứ mệnh của họ là không bắt sống.”[7]

Các tác giả còn nói thêm: “Theo nhiều quan chức ở Ngũ Giác Đài và Cơ Quan Tình Báo Trung Ương có nhiệm vụ săn lùng bin Laden gần một thập kỷ nay, giết chiến binh là một hành động trả thù cần thiết và chính đáng.” Hơn nữa, “bắt sống bin Laden có thể đặt ra cho chính quyền một loạt thách thức luật pháp và chính trị gai góc.” Tốt hơn hết là ám sát nghi can, quẳng thi thể xuống biển, không cần mổ xác phân tích, luôn được xem như thủ tục thiết yếu trong pháp y- một động thái chắc chắn gây ra căm thù và nghi ngờ trong thế giới Hồi Giáo.

Như cuộc điều tra của tờ Atlantic đã ghi nhận, “Quyết định giết bin Laden tức khắc là một minh họa rõ ràng nhất hiện nay của một khía cạnh ít ai lưu ý trong chính sách chống khủng bố của chính quyền. Chính quyền Bush đã bắt hàng nghìn nghi phạm chiến binh và gửi họ đến những trại giam ở Afghanistan, Iraq, và Guantanamo  Bay. Chính quyền Obama, ngược lại, đã tập trung vào việc thanh toán các cá nhân khủng bố thay vì tìm cách bắt sống.” Đây là sự khác biệt đáng kể giữa Bush và Obama. Các tác giả đã trích dẫn, nguyên Thủ Tướng Tây Đức Helmut Schmidt đã tuyên bố với truyền hình Đức: cuộc bố ráp của Hoa Kỳ “rõ ràng là một vi phạm luật quốc tế và bin Laden lẽ ra đã phải được bắt giữ và đưa ra tòa xét xử.” Khác với Schmidt, Bộ trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ, Eric Holder – người bênh vực quyết định giết bin Laden mặc dù bin Laden đã không là một đe dọa trực tiếp cho Navy SEALs – đã tuyên bố trước một tiểu ban Quốc Hội: “…cuộc bố ráp là hợp pháp, chính đáng và thích ứng trên mọi phương diện.”[8]

Cách xử lý thể xác [trái với pháp y] cũng đã bị các đồng minh chỉ trích. Luật sư được kính nể người Anh, Geoffrey Robertson, người ủng hộ sự can thiệp nhưng chống đối việc hành quyết vì những lý do thực tiển, tuy vậy, cũng đã mô tả việc Obama tuyên bố “công lý đã được thực thi” là một điều “phi lý”, lẽ ra đã hiển nhiên và rõ rệt đối với một nguyên giáo sư luật hiến pháp. Luật Pakistan “đòi hỏi một vụ điều tra thuộc địa về cái tử vong do bạo lực, và luật nhân quyền quốc tế nhấn mạnh ‘quyền sống’ cũng đòi hỏi điều tra mỗi khi có trường hợp tử vong vì bạo lực bởi chính quyền hay hành động cảnh sát. Hoa Kỳ, vì vậy, có bổn phận phải mở điều tra để thỏa mãn thế giới về trạng huống đích thực trong vụ hành quyết nầy.”

Robertson nhắc nhở chúng ta thực tế không luôn như thế. Mỗi khi cần xem xét số phận những phạm nhân đã chìm sâu trong tội ác – sâu xa hơn nhiều so với Osama bin Laden, như giới lãnh đạo Quốc Xã, chẳng hạn – chính quyền Anh đã muốn treo cổ phạm nhân nội trong sáu giờ sau khi bắt giữ. Tổng Thống Truman đã tỏ ra ngần ngại, viện dẫn kết luận của thẩm phán tối cao pháp viện Robert Jackson: Việc xử tử giản lược không thể được lương tâm người Mỹ chấp nhận dễ dàng hay được các thế hệ con em sau nầy lấy làm hãnh diện… Con đường duy nhất là thẩm định  bị cáo vô tội hay có tội sau khi phán xử vô tư, trong chừng mức thời gian cho phép và căn cứ trên hồ sơ ghi rõ lý do và động lực.

Eric Margolis bình luận “Hoa Thịnh Đốn chưa bao giờ công bố bằng chứng Osama bin Laden đã chủ mưu các cuộc tấn công 11/9,” có thể vì vậy, các cuộc thăm dò công luận cho thấy 1/3 dân Mỹ tin chính quyền Hoa Kỳ và/hoặc Do Thái đã đứng sau các vụ tấn công,” trong khi trong thế giới Hồi Giáo tỉ số nghi ngờ còn cao hơn. Một cuộc xử công khai ở Hoa Kỳ hay The Hague có thể soi sáng sự quyết đoán, một lý do thực tế Hoa Thịnh Đốn lẽ ra đã cần phải tuân thủ luật pháp quốc tế.

Trong các xã hội thượng tôn luật pháp, các nghi can đều bị cầm giữ và đem ra xét xử công minh. Theo báo Washington Post, tháng 6-2002, người cầm đầu FBI, Robert Mueller, đã mô tả “trong những lời bình luận công khai chi tiết nhất của ông về nguồn gốc các cuộc tấn công, cũng chỉ có thể nói “các viên chức điều tra tin ý tưởng về các cuộc tấn công 11-9 vào Trung Tâm Thương Mãi Thế Giới và Ngũ Giác Đài đã đến từ các lãnh đạo al-Qaeda ở Afghanistan, sự hoạch định thực sự đã được thực hiện ở Đức, và tài trợ đã đến từ các nguồn cung cấp ở Afghanistan qua ngã United Arab Emirates.”[9]

Những gì FBI tin và nghĩ trong tháng 6-2002, họ đã không hề biết tám tháng trước đó, thời điểm Hoa Thịnh Đốn đã bác bỏ những đề nghị thăm dò của Taliban (không ai biết rõ trình độ nghiêm túc) cho phép xét xử bin Laden nếu có được bằng chứng. Như vậy, khi T T Obama đưa ra lời xác nhận trong bản tuyên bố của Tòa Bạch Ốc sau cái chết của bin Laden, “chúng tôi đã nhanh chóng biết được những cuộc tấn công 11-9 là do al-Qaeda thực hiện,”[10] lời tuyên bố đó rõ ràng không đúng sự thật.

Chưa bao giờ có lý do để nghi ngờ những gì FBI đã tin vào giữa năm 2002. Ngay cả  sự tin tưởng đó cũng vẫn còn rất xa với “bằng chứng có tội” đòi hỏi trong các xã hội văn minh.  Trong mọi trường hợp, điều đó cũng không phải lý do đủ xác đáng để biện minh hành động ám sát một nghi phạm có thể đã bị bắt giữ dễ dàng và mang ra xét xử. Nhận định nầy cũng đúng với các bằng chứng đã được đưa ra từ ngày đó.

Như vậy, Ủy Hội 11/9 đã cung cấp nhiều bằng chứng “suy diễn” về vai trò của bin Laden trong biến cố 11-9, căn bản chỉ cơ sở trên những gì người ta được nghe về những lời tự thú của các tù nhân ở Guantanamo. Đã hẳn, những bằng chứng loại nầy khó lòng đứng vững trước một tòa án độc lập, nhất là với phương cách các lời tự thú nầy đã được thâu thập. Trong mọi trường hợp, những kết luận của các cuộc điều tra được Quốc Hội cho phép, dù đáng tin cậy đến mấy, cũng luôn kém xa một phán quyết của một tòa án có uy tín, một văn kiện chuyển dịch loại bị cáo từ “nghi can” qua “có tội” [đã bị kết án phạm tội].

Nhiều người còn nhắc đến lời tự thú của bin Laden, nhưng đó chỉ là một lối khoe khoang, không phaỉ một lời xưng tội. Lời khoe cho chúng ta biết rất nhiều về tư cách của người nói, nhưng chẳng là gì về trách nhiệm đối với những gì anh ta xem như một thành quả to lớn và muốn giành lấy uy tín.

Một lần nữa, tất cả những điều đó rõ ràng khá độc lập với những phán đoán bên ngoài về trách nhiệm của nghi can, mang tính hiển nhiên tức thời, ngay cả trước cuộc điều tra của FBI, và vẫn luôn như thế.

TỘI XÂM LĂNG

Tưởng cần  phải nói thêm trách nhiệm của bin Laden đã được công nhận và lên án trong phần lớn thế giới Hồi giáo. Một ví dụ điển hình là giáo sĩ Lebanon Sheikh Fadlallah, một nhân vật rất được kính nể bởi các nhóm Hizbollah và Shia, ngay cả bên ngoài Lebanon. Ông đã có một ít kinh nghiệm sống về ám sát. Ông đã từng là mục tiêu ám sát bởi một xe bom bên ngoài nhà thờ Hồi giáo, do CIA tổ chức năm 1985. Sheikh Fadlallah thoát nạn, nhưng 80 người khác đã thương vong, phần lớn là đàn bà và trẻ con vừa rời khỏi nhà thờ – một trong vô số tội phạm không được ghi nhận trong lịch sử khủng bố bởi lẽ đây chỉ là ảo tưởng bề ngoài “cơ quan sai quấy.”[11] Sheikh Fadlallah đã gay gắt lên án những cuộc tấn công 11-9.

Một trong các chuyên gia hàng đầu của phong trào Jihad, Fawaz Gerges, đã đưa ra ý  kiến: phong trào có thể đã bị phân hóa vào lúc đó nếu Hoa Kỳ biết lợi dụng cơ hội động viên phong trào thay vì khai thác biến cố, nhất là xâm lăng Iraq, một phần thưởng lớn lao cho bin Laden cũng như một động lực gia tăng khủng bố nhanh chóng, như các cơ quan tình báo đã tiên đoán.

Chẳng hạn, trong cuộc điều trần Chilcot về bối cảnh cuộc xâm lăng Iraq, , người đứng đầu cơ quan tình báo quốc nội MI5 của Anh quốc xác nhận cả tình báo Anh lẫn  Mỹ đều biết rõ Saddam không phải là đe dọa quan trọng; cuộc xâm lăng rất có thể sẽ khiến khủng bố gia tăng, và hai cuộc xâm lăng Afghanistan và Iraq đã cực đoan hóa một thế hệ Hồi Giáo xem các hành động quân sự như một cuộc “tấn công vào đạo Hồi.” Và trong nhiều trường hợp, an ninh không phải là lý do ưu tiên trong các hành động của nhà nước.

Một điều có thể rất bổ ích nếu chúng ta tự hỏi người Mỹ có thể phản ứng như thế nào nếu biệt kích Iraq đã xâm nhập khu gia cư của George W. Bush, ám sát Bush, và quẳng thi hài xuống Đại Tây Dương. Không ai tranh luận hay dị nghị, Bush không phải một nghi can mà là người quyết định và ra lệnh xâm lăng Iraq – có nghĩa, là “tội phạm quốc tế chỉ khác các tội phạm chiến tranh thông thường ở chỗ tội phạm nầy tự thân đã ẩn chứa tất cả tội lỗi lũy tích của toàn bộ,”một tội các phạm nhân Nazi đã phải chịu án treo cổ: hàng trăm nghìn tử vong, hàng triệu người tỵ nạn, hủy hoại phần lớn xứ sở và di sản quốc gia, và xung đột phe phái, tàn sát sinh linh, nay đã lan tràn ra toàn vùng. Cũng không ai tranh luận hay dị nghị, những tội phạm nầy vượt quá xa những gì cho đến nay đã được quy tội cho bin Laden.

Khi nói tất cả những điều nầy đều không thể tranh cãi hay dị nghị,  chúng ta không có ý nói điều nầy không bị phủ nhận. Sự hiện diện của những ai tin quả đất dẹp không làm thay đổi thực tại không thể dị nghị: quả đất không dẹp. Cũng tương tự như vậy, một điều không thể dị nghị là Stalin và Hitler phải chịu trách nhiệm về những tội các ghê rợn, mặc dù các ngưới trung thành với Stalin và Hitler đều phủ nhận. Một lần nữa, tất cả những điều nầy đã quá rõ ràng để tranh cãi hay bình luận; đã hẳn ngoại trừ trường hợp bầu không khí cuồng loạn hay kích động quá trớn đã che khuất mọi tư duy duy lý.

Cũng tương tự như vậy, không còn là điều có thể tranh cãi hay dị nghị, Bush và các cộng sự viên đã phạm “tội quốc tế tột đỉnh”[12] – tội xâm lăng. Tội nầy đã được Thẩm Phán Robert Jackson, trưởng đoàn các luật gia Hoa Kỳ tại Nuremberg, định nghĩa rất rõ ràng. Trong lời tuyên bố mở đầu, Jackson đã đề nghị với Tòa Án Nuremberg:  xâm lăng là nhà nước đầu tiên khởi động  những hành vi như “xâm lăng bởi các lực lượng vũ trang của chính mình, có hay không có tuyên chiến, lãnh thổ một Nhà Nước khác …”[13]  Không ai, ngay cả người ủng hộ cực đoan nhất cuộc xâm lược, có thể chối cãi Bush và các cộng sự viên đã làm chính điều đó.

Chúng ta cũng cần nhắc lại những lời hùng biện của Jackson tại Nuremberg về nguyên tắc phổ quát: “Nếu một vài hành động vi phạm các thỏa ước là tội phạm, các hành động đó luôn là tội phạm dù do Hoa Kỳ hay Đức quốc, và chúng ta sẽ không sẵn sàng đặt ra một quy luật “ứng xử tội phạm” chỉ để áp dụng cho kẻ khác nhưng chính chúng ta có thể không muốn được viện dẫn để chống lại chúng ta.”[14]

Một điều khác cũng không kém rõ ràng: các mục đích công bố  tự chúng đã không thích đáng,  ngay cả khi thật sự được tin như thế. Các hồ sơ nội bộ cho thấy phát xít Nhật rõ ràng đã tin: qua việc tàn phá Trung Quốc, họ đã phải gánh chịu nhiều hy sinh để biến TQ thành một “thiên đường hạ giới.” Và mặc dù  khó lòng tưởng tượng, nhưng cũng có thể quan niệm Bush và phe nhóm đã tin tưởng họ đang bảo vệ thế giới khỏi bị hủy diệt bởi các vũ khí tiêu diệt hàng loạt của Saddam. Nhưng tất cả đều không thích đáng, dù cho các tay chân nhiệt liệt trung thành của họ từ mọi phía có thể tìm mọi cách để tự thuyết phục ngược lại.

Chúng ta chỉ còn lại với hai lựa chọn: hoặc Bush và phe nhóm phạm “tội ác quốc tế tột cùng”[15] gồm tất cả các tội lỗi đi kèm, hoặc ngược lại ,chúng ta phải kết luận thủ tục tố tụng Nuremberg là một trò hề và phe đồng minh đã phạm tội ám sát luật pháp – judicial murder.

TÂM LÝ ĐẾ QUỐC VÀ 11/9

Vài ngày trước khi bin Laden bị ám sát, Orlando Bosch đã lặng lẽ qua đời ở Florida, ngay nơi cư trú cùng với tòng phạm Luis Posada Cariles và nhiều cộng tác viên trong phong trào khủng bố quốc tế. Sau khi bị FBI cáo buộc hàng tá tội khủng bố, Bosch đã được T T Bush ân xá mặc dù Bộ Tư Pháp phản đối – viện dẫn kết luận “không thể tránh:  [biện pháp ân xá] sẽ có hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ vì người Mỹ đang cung cấp chỗ ẩn náu cho Bosch.”[16] Theo chuyên gia quan hệ quốc tế Harvard danh tiếng Graham Allison, sự trùng hợp giữa hai cái chết buộc mọi người phải nghĩ đến chủ thuyết  Bush II –“đã là….một quy luật trong thực tế về quan hệ quốc tế,” — một chủ thuyết đã hủy bỏ quyền tối thượng của các quốc gia cung cấp  chỗ ẩn náu an toàn cho khủng bố.”[17]

Allison viện dẫn lời tuyên bố của Bush II [nhằm Taliban]: “những ai che chở khủng bố cũng có tội như chính người khủng bố.”[18]  Vì vậy, những quốc gia đó đã đánh mất chủ quyền tối thượng của họ và trở thành mục tiêu chính đáng để dội bom và khủng bố — chẳng hạn,  quốc gia che chở cho Bosch và đồng đội. Khi Bush ban hành “quy luật thực tế mới nầy về quan hệ quốc tế,”  hình như không ai lưu ý đến sự kiện tổng thống đang mặc nhiên kêu gọi xâm lăng  và tiêu diệt chính Hoa Kỳ và sát hại các tổng thống có tội của Mỹ.

Chẳng có gì mơ hồ và cần phải bàn, nếu chúng ta bác bỏ nguyên tắc phổ quát của Thẩm Phán Jackson, và thay vào đó chấp nhận nguyên tắc Hoa Kỳ được tự miễn nhiễm đối với các luật lệ và quy ước quốc tế[19] — như trong thực tế chính quyền Mỹ đã thường tỏ rõ – Biệt Lệ Hoa Kỳ.

Tưởng chúng ta cũng nên suy ngẫm về danh hiệu cuộc hành quân ám sát bin Laden: Cuộc Hành Quân Gironimo. Tâm lý đế quốc đã thẩm thấu sâu đậm đến độ rất ít người có thể nhận thức Tòa Bạch Ốc đang vinh danh bin Laden khi dành cho bin Laden tên gọi “Gironimo”-  [lãnh tụ Apache Indian chief -1829-1909,  lãnh đạo cuộc kháng chiến can trường chống lại những kẻ xâm lăng lãnh thổ Apache].

Sự chọn danh xưng tùy tiện cũng làm nhiều người  nhớ lại lối đặt tên cẩu thả cho các vũ khí giết người của Mỹ theo tên các nạn nhân của các tội phạm của Hoa Kỳ: Apache, Blackhawk… người Mỹ đã hẳn có thể phản ứng một cách khác nếu Luftwaffe đặt tên các chiến đấu cơ của mình là “Jew” và “Gypsy.”

Những ví dụ nói trên có thể xếp vào loại “Biệt Lệ Hoa Kỳ” nếu không vì sự kiện lấp liếm dễ dàng các tội phạm của chính mình hầu như đang diễn ra khắp nơi trong các cường quốc, ít ra những nước chưa từng  bị đánh bại và buộc lòng phải công nhận sự thật.

Có thể hành động ám sát đã được chính quyền nhận thức như “một hành động trả thù,” như Robertson kết luận. Và có thể quyết định bác bỏ sự lựa chọn hợp pháp –đưa ra xét xử, đã phản ảnh sự khác biệt văn hóa đạo đức giữa năm 1945 và năm 2011, như Robertson gợi ý. Dù động lực là gì chăng nữa, cũng khó lòng để có thể viện dẫn lý do an ninh. Tương tự với trường hợp “tội phạm quốc tế tột đỉnh” ở Iraq, vụ ám sát bin Laden cũng là minh họa một sự thật quan trọng: trái với chủ thuyết chính thức,  an ninh thường không phải là lý do ưu tiên trong hành động của nhà cầm quyền.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

13-9-2011

 


[1] He repeatedly asserted that the only way to drive the U.S. from the Muslim world and defeat its satraps was by drawing Americans into a series of small but expensive wars that would ultimately bankrupt them. Bleeding the U.S., in his words. The United States, first under George W. Bush and then Barack Obama, rushed right into bin Laden’s trap… Grostesquely over blown military outlays and debt addiction… may be the most pernicious legacy of the man who thought he could defeat the United States.

[2] “…bin Laden has been precise in telling America the reasons he is waging war on us. [He] is out to drastically alter U.S. and Western policies toward the Islamic world”, and largely succeeded: “U.S. forces and policies are completing the radicalization of the Islamic world, something Osama bin Laden has been trying to do with substantial but incomplete success since the early 1990s. As a result, I think it is fair to conclude that the United States of America remains bin Laden’s only indispensible ally.”

[3] …wickedness and awesome cruelty…

[4] …to achieve a successful order elsewhere in the world.

[5] …nothing of very great consequence.

[6] …”the visionary international order” of the “second half of the twentieth century” marked by ” the universalization of an American vision of commercial prosperity”.

[7] The administration had made clear to the military’s clandestine Joint Special Operations Command that it wanted bin Laden dead, according to a senior U.S. official with knowledge of the discussions. A high-ranking military officer on the assault said the SEALs knew their mission was not to take him alive.

[8] …the assault had been lawful, legitimate and apropriate in every  way.

[9] Robert Mueller…among his most detailed public comments on the origins of the attacks, could say only that investigators believe the idea of the Sept. 11 attacks on the World Trade Center and Pentagon came from al Qaeda leaders in Afghanistan, the actual plotting was done in Germany, and the financing came through the United Arab Emirates from sources in Afghanistan.

[10] …We quickly  learned that the 9/11 attacks were carried out by al-Qaeda.

[11]  …because of the fallacy of “wrong agency”.

[12] …”supreme international crime.”

[13] “An aggressor” is a state that is the first to commit such actions as “invasion of its armed forces , with or without a  declatation of war, of the territory of another State…”

[14] If certain acts in violation of treaties are crimes, they are crimes whether the United States does them or whether Germany does them, and we are not prepared to lay down a rule of criminal conduct against others which we would not be willing to have invoked against us.

[15] …”supreme international crime.”

[16] …[The Justice Department ] which found the conclusion “inescapable that it would be prejudicial to the public interest  for the United States to provide a safe haven for Bosch.”

[17] The coincidence of these deaths at once calls to mind the Bush II doctrine –“already…a de facto rule of international ralations,” according to the noted Harvard international ralations specialist Graham Allison — which revokes  ‘the sovereignty of states that provide sanctuary to terrorists.”

[18] Those who harbor terrorists are as guilty as the terrorists themselves.

[19] Xin xem thêm bài Biệt Lệ và Thế Kỷ của Hoa Kỳ: Một Huyền Thoại trong Thế Giới Thời Hậu Chiến Tranh Lạnh, tr.139-158, Nhà Xuất Bản Tri Thức, 2010.