CÁNH TẢ HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC

 

Sau nhiều lần thăm viếng Trung Quốc (TQ) kể từ năm 2002, Andy Stern – nguyên   chủ tịch SEIU[1], hồi tưởng những cuộc thảo luận với cấp lãnh đạo ACFTU[2] về các vấn đề tổ chức và thương lượng tập thể. Chuyển hóa kinh tế ở TQ là một thách thức lớn đối với Hoa Kỳ, nhất là công nhân Mỹ. Stern nói: “Chúng ta phải công nhận TQ là xứ cạnh tranh kinh tế đầu tiên thực sự đe dọa địa vị siêu cường toàn cầu duy nhất của Hoa Kỳ”[3].

SỰ TRỔI DẬY CỦA TRUNG QUỐC VÀ HỆ QUẢ

Ít ai có thể chối cãi sự trổi dậy của TQ mang ý nghĩa thay đổi thế giới. Tuy nhiên, trong nội bộ phe tả ở Mỹ, người ta ghi nhận nhiều dị biệt sâu sắc mang tính nguyên tắc về hai vấn đề: phản ứng thích hợp trước sự trổi dậy của TQ như một siêu cường và sự trổi dậy báo hiệu nhiều viễn tượng tốt đẹp hay chỉ là triệu chứng chẳng lành.

Ngay cả những chuyến viếng thăm TQ của Stern trong thập kỷ vừa qua cũng đã bị cấp lãnh đạo lao động chỉ trích nặng nề. Chẳng hạn, giới hoạt động nhân quyền và toàn cầu hóa lên án ACFTU là khí cụ đàn áp công nhân lao động của Đảng Cộng Sản cầm quyền ở TQ.

Sophie Richardson , giám đốc Human Rights Watch phân bộ Á châu, đặt câu hỏi: “Andy Stern hình như nghĩ, ông ta có thể tìm thấy những thành phần cấp tiến trong nội bộ ACFTU. Và SEIU cũng đồng ý?”[4].

Jeffrey Fieldler, một nhà hoạt động lâu năm về TQ, một quan chức IUOE[5], và một thành viên ESRC[6], còn gay gắt hơn: “Andy Stern đã bất chấp mọi nguyên tắc và đã khởi sự thương nghị với ACFTU. Người cầm đầu ACFTU là thành viên của Bộ Chính Trị dơ bẩn! Hắn là một tên đạo tặc”[7].

Đã hẳn, nhiều người trong giới lao động đã bị chế nhiễu khi tin các công xưởng sản xuất hàng xuất khẩu ở TQ, thường do các công ty đa quốc gia Mỹ sở hữu và quản trị, đang giành mất  việc làm trong khu vực kỹ nghệ chế biến. Họ xem TQ, như tay chơi lớn nhất  trong cơn sốt quốc tế khởi động bởi các đại công ty đa quốc gia, lợi dụng lao động rẻ tiền và pháp chế lỏng lẻo trong phần lớn thế giới đang phát triển trong quá trình sản xuất và cung cấp hàng nhập khẩu tràn ngâp các cữa hàng trong các khu thương mãi Hoa Kỳ.

Theo Robert Borosage, đồng giám đốc Chiến Dịch Vận Động Cho Tương Lai Hoa Kỳ[8], ” những mất thăng bằng toàn cầu nói chung – với Đức, Nhật, TQ, Hàn quốc, và nhiều xứ khác, chuyên chú vào mô hình xuất khẩu và gắn bó  với mô hình nầy, không mấy quan tâm chuyển dịch đến một thị trường quân bình hơn – có tác động gây mất ổn định trong kinh tế toàn cầu, nhất là kinh tế Mỹ, và không thể bền lâu. Vì vậy, Hoa Kỳ phải đối đầu với một loạt các xô xát và thử thách, không chỉ với người TQ”[9].

Hệ quả sự trổi dậy của TQ còn sâu rộng hơn nhiều. TQ đã nhanh chóng trở thành một nền kinh tế khổng lồ, đi từ những nhà máy lắp ráp thô sơ và các xưởng may hực nóng đến các sản phẩm cao cấp và nhiều cách tiếp cận sáng tạo các kỹ thuật xanh, kể cả các tuốc-bin chạy bằng gió, các pa-nô năng lượng mặt trời, và các xe hơi chạy bằng điện. Mặc dù chỉ là một mô hình kinh tế tư bản “mang tính Viễn Tây”,  không bị trói buộc, nhưng đối với các nền kinh tế đang phát triển, sự kết hợp chặt chẻ giữa guồng máy kiểm soát chính trị từ trung ương và tăng trưởng kỹ nghệ do nhà nước chỉ đạo, tượng trưng một thách thức rõ rệt đối với mô hình tăng trưởng áp đảo kiểu Mỹ trong thời hậu chiến. Và mô hình TQ đã được xem như  mô hình quyến rũ đối với nhiều giới.

Carolyn Bartholomew, phó chủ tịch ESRC và nguyên trợ tá của Nancy Pelosi, chủ tịch Hạ Viện, đã lên tiếng: “Tôi quan ngại, ở nhiều nơi trên thế giới, hình thức tư bản chuyên chế của TQ đang bám trụ. Hãy nhìn phương cách dấn thân của TQ ở Phi châu”[10].

Orville Schell, giám đốc Trung Tâm Quan Hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc thuộc Hội Á Châu[11], cũng ghi nhận: “Chẳng khác gì các địa tầng chính trị toàn cầu đang chuyển dịch dưới chân mọi người. Chúng ta bất thần đối mặt một mô hình tư bản chuyên chế  khác rất thành công , và thậm chí đang trở thành một thách thức về kinh tế, chính trị, và ngay cả đối với lòng tin ở hệ thống quản trị dân chủ của chúng ta là hệ thống tốt nhất có thể đem lại một đời sống tốt đẹp”[12].

Một hệ quả không thể tránh là sớm muộn gì TQ, một cường quốc kinh tế ngày một lớn mạnh, cũng trổi dậy như một cường quốc chính trị và quân sự với ảnh hưởng từ Đông Á đến Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Trung Đông, Phi Châu và xa hơn nữa.

CÁNH TẢ HOA KỲ THIẾU NHẤT QUÁN

Trong nội bộ, phe cấp tiến hình như  không đồng thuận về phản ứng đối với sự trổi dậy của TQ. Theo John Feffer, đồng giám đốc Chính Sách Đối Ngoại Trọng Tâm thuộc Viện Nghiên Cứu Chính Sách IPS tả phái[13] “điều nầy đã chia rẽ cộng đồng cấp tiến”[14].

Với ý thức  chính sách TQ của Hoa Kỳ chịu sự chi phối chặt chẽ của các đại công ty đa quốc gia, các ngân hàng đầu tư vào TQ, và tập đoàn quân sự-kỹ nghệ luôn xem TQ là đối thủ và địch thủ tiềm năng, giới cấp tiến hiểu rõ  họ khó thể ảnh hưởng đến quá trình định hình chính sách quốc gia.

Tuy vậy, họ vẫn tham gia thảo luận các lựa chọn khả dĩ: đối đầu hay thỏa hiệp với một TQ đang lên? Áp đặt thuế quan và các biện pháp chế tài hay mở cữa đón nhận các xí nghiệp quốc doanh ngày một bành trướng – đầu tư chứng khoán vào các công ty Mỹ và đầu tư trực tiếp qua việc xây dựng những công xưởng ở Hoa Kỳ? Cộng tác hay tránh xa ACFTU và các định chế khác của TQ? Ngoài ra còn có các vấn đề nhân quyền, kể cả quyền công nhân,  quyền tự do tôn giáo, và quyền các dân tộc thiểu số như người Tây Tạng và người Hồi giáo Uighur ở miền Tây TQ? Liệu nạn thiếu nhân công lao động, đã đưa đến làn sóng đình công và phản kháng gần đây, sẽ khiến TQ dành nhiều tự do hơn cho công nhân như quyền tổ chức, quyền tranh đấu đòi tăng lương và nâng cao mực sống?

Sau nhiều lần phỏng vấn một số các nhà phân tích chính sách cấp tiến, các kinh tế gia, các nhà hoạt động môi trường, nhân quyền, lao động, các viên chức chính quyền, và các chuyên gia TQ trong giới đại học, Robert Dreyfuss cho biết, hầu hết đều đồng ý: muốn cạnh tranh với TQ, Hoa Kỳ phải chấp nhận một số chính sách kỹ nghệ rõ ràng, đầu tư vào hạ tầng cơ sở, tạo công ăn việc làm, giáo dục và huấn nghệ, kỹ nghệ chế biến công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển, đặc biệt là trong kỹ thuật xanh.

Theo Schell, ưu tiên hàng đầu là củng cố nội bộ. Nhưng ngay cả về điểm nầy, các  nhà hoạt động cánh tả cũng ghi nhận nhiều ý kiến bất đồng, bởi lẽ: thật khó lòng đề xướng một chính sách kỹ nghệ của Hoa Kỳ – đánh thuế giới nhà giàu, trợ cấp các kỹ nghệ cốt lỏi, chi tiêu nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng và huấn nghệ – mà không cùng lúc đề cập vấn đề ý thức hệ tân bảo thủ áp đảo về toàn cầu hóa và mậu dịch tự do, và điều đó gồm cả vấn đề TQ. Thực vậy, người ta không thể nói đến một chính sách kỹ nghệ quốc nội mà không đề cập đến chế độ mậu dịch.

Đối với nhiều người trong phong trào lao động Mỹ, không ai nghi ngờ TQ là một đe dọa trầm trọng, ít ra, đối với công ăn việc làm và sự phồn vinh của người Mỹ.

Tại trụ sở AFL-CIO, Viện Chính Sách Kinh TếEPI [15] Liên Minh Kỹ Nghệ Chế Biến Hoa KỳAAM[16], một dự án được nghiệp đoàn United Steelworkers ủng hộ, trong phúc trình về TQ, đã ghi nhận: Đó là một cường quốc hù dọa, trọng thương, cạnh tranh bất chính với các nước khác bằng cách nhào nặn giá trị đơn vị tiền tệ, đàn áp giới lao động, chà đạp các chuẩn mực môi sinh, và bóc lột thế hệ nhân công du cư để sản xuất hàng xuất khẩu rẽ tiền…Phúc trình còn cho biết: TQ lợi dụng sự hăm hở của các công ty đa quốc gia đang nôn nóng xây dựng những cơ xưởng ít bị giám sát trong những khu kỹ nghệ ven biễn Nam TQ, đồng thời bắt chẹt các công ty nầy san sẻ bí quyết thương mãi và kỷ thuật như cái giá phải trả để được phép kinh doanh. Đó là một sự lên án bao quát, và giải pháp đề nghị là một hổn hợp các thuế quan mang tính trừng phạt – lối 25% cho nhiều loại sản phẩm nhập khẩu từ TQ – cùng với các chế tài và biện pháp buộc TQ phải tái định giá đồng nhân dân tệ lên 40% hay cao hơn.

Nhóm nầy không tin sẽ có đụng độ hay chiến tranh thương mãi với TQ, và trong thực tế, họ nhấn mạnh nếu Hoa Kỳ đợi càng lâu trước khi trực tiếp đương đầu với  TQ, vấn đề sẽ ngày một khó khăn thêm.

Kuttner nói: “Tôi có thể nói với người TQ, ‘chúng tôi sẽ không cho phép tự do tiếp cận hàng TQ, chừng nào quý vị còn lấy trộm kỷ thuật, đòi hỏi các công ty Mỹ chỉ có thể sản xuất hàng hóa ở TQ để xuất khẩu và không để bán trên thị trường TQ, đòi hỏi các thỏa ước chuyển giao công nghệ mang tính cưởng ép, và nhào nặn giá trị đơn vị tiền tệ của quý vị’. Lúc đó mỡ đã ở trên lữa, và người TQ sẽ phải quyết định họ sẽ làm được gì trong tình trạng đó. Điều nầy rất có thể đưa đến xung đột. Nếu chúng ta có phản ứng cứng rắn đối với chủ nghĩa trọng thương của TQ, điều đó có thể trở nên rất tồi tệ, khả ố trong ngắn hạn”[17].

Robert Scott, kinh tế gia của EPI – tác giã một nghiên cứu xuất bản trong tháng 3-2010 – đã kết luận, trong khoảng 2001- 2008, gần 2,5 triệu việc làm của Mỹ đã thất thoát qua TQ, kể cả hơn 600.000 chỉ riêng trong ngành vi tính và điện tử. Giống như nhiều người trong quỹ đạo AFL-CIO, Scott đứng trên lập trường quốc gia để bảo vệ các biện pháp tái lập quân bình cân thương mãi Hoa Kỳ-Trung Quốc hiện đang khuy khiếm. Trong cuộc phỏng vấn tại trụ sở, Scott tuyên bố, “Chính quyền Hoa Kỳ có trách nhiệm đối với công nhân Mỹ, phải khai triển các chính sách trong quyền lợi quốc gia của chúng ta”[18].

Khi có người nêu rõ trong ba thập kỷ vừa qua TQ đã giải phóng hàng trăm triệu người khỏi nghèo đói, và thái độ của Scott có thể bị một số người xem như bài ngoại. Scott gật đầu đồng ý: “Đúng. Tôi xem công việc của tôi là phải quan tâm đến mực sống của công nhân Mỹ”[19]. Và ông nhấn mạnh chỉ động thái đe dọa đóng cữa thị trường Hoa Kỳ đối với hàng nhập khẩu từ TQ mới mong đủ sức thuyết phục Bắc Kinh phải lưu ý. 

Người ta có thể dễ dàng kết luận sự thành công cuả TQ trong chương trình xóa đói giảm nghèo cho trên dưới 400 triệu người là sự kiện quan trọng nhất trên thế giới trong 1/4 thế kỷ vừa qua. Đã hẳn, phần lớn tăng trưởng của TQ từ cuối thập kỷ 1970s đã được trả giá với ô nhiễm môi trường và điều kiện lao động tồi tệ của nhân công.

Nhưng những người chủ trương cần có lập trường cứng rắn đối với TQ chối bỏ hiện tượng cải thiện lớn lao trong mực sống ở TQ hay nghi ngờ sự hiện hữu của hiện tượng nầy. Họ lập luận TQ đã thành đạt tăng trưởng kỷ lục đáng kinh ngạc, trung bình khoảng 10% /năm kể từ 1979, qua sự bóc lột giai cấp công nhân, với rất ít hay không có lợi ích vật chất dành cho người dân bình thường.

Scott Paul – giám đốc sáng lập Liên Minh AAM, nhà vận động hành lang cho  giới lao động và nguyên trợ tá cho David Bonio, nguyên dân biểu Michigan –  lập luận: công nhân TQ thường không được thù đáp tương xứng và lao động trong môi trường thiếu an toàn. Qua áp lực buộc TQ tái định giá đồng nhân dân tệ, theo Paul và phe nhóm, Hoa Kỳ có thể buộc TQ phải tăng lương và cải thiện mức tiêu thụ và đời sống của giới lao động. Scott Paul nói tiếp:”Điều nầy sẽ cho phép người TQ hưởng thụ thành quả của tăng trưởng kinh tế”[20].

Thea Lee, phụ tá giám đốc chính sách công AFL-CIO, cũng không sẵn sàng công nhận sự tăng trưởng ở TQ mang lại lợi ích lớn lao cho người dân. Lee, một phụ nữ gốc Hoa, rất am tường chính sách TQ của Hoa Kỳ, một chính sách, theo bà, quá thỏa hiệp và chịu ảnh hưởng các công ty Mỹ đang có quyền lợi làm ăn ở TQ. Lee nói: “Tôi không gọi tình trạng nầy là một thành công đối với dân lao động. Đây là một ô nhục. Hệ thống điều hành tương tự một Miền Tây Man Rợ, và chẳng ai quan tâm. Các bạn chứng kiến các tai họa: tàn phá môi trường dài hạn,  lao động vị thành niên, lao động cưởng bách, lạm dụng sức khỏe công nhân”[21]. Đối với ACFTU, với gần 200 triệu đoàn viên, giống như Fiedler, Lee nói: “Chúng tôi không công nhận ACFTU như một công đoàn thực sự. Tôi xem họ như chính quyền. Họ là giới quản trị”[22].

Ngay cả các viên chức và các nhà hoạt động bên trong phong trào lao động và  đồng minh của họ cũng kêu gọi đối đầu với những gì họ xem như những xảo thuật mậu dịch cướp đoạt của TQ, đôi khi họ dùng cả ngôn từ thời chiến tranh lạnh. Chẳng hạn, Paul của AAM cũng bày tỏ sự quan ngại sâu xa trước các nổ lực tăng cường quân lực của TQ. Paul đặt câu hỏi: “Thặng dư mậu dịch đang được TQ sử dụng để tăng cường quân lực. Họ muốn tăng cường hải quân trong vùng Thái Bình Dương, phát triển vũ khí hạt nhân tiền tiến, các vũ khí hủy diệt vệ tinh. Những việc đó nói lên điều gì về hòa bình? Mục tiêu họ theo đuổi là sự hiện diện trong vùng duyên hải Thái Bình Dương và thách thức bá quyền của Hoa Kỳ trên Thái Bình Dương. Điều đó mang nhiều ẩn ý lớn lao”[23]. Và trên danh sách những bước cần thiết để chứng tỏ với TQ – Hoa Kỳ đang xử sự rất nghiêm chỉnh, Fiedler liệt kê: giảm tốc độ hay ngưng các quan hệ quân sự Hoa Kỳ-TQ và hạn chế tối đa số du học sinh TQ đến Mỹ. Fiedler còn dùng cả từ “phát xít” khi nói về TQ, và còn nói thêm: “Tôi còn muốn tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan”[24].

Đã hẳn,  cũng có một số người có quan điểm trái ngược. Thực vậy, vài người lập luận, tìm cách thu hút việc làm từ TQ trở về Mỹ là việc làm thiếu thực tế, và trong mọi trường hợp, Hoa Kỳ cũng phải dành không gian cho Bắc Kinh trổi dậy như một đại cường. Đối với những nhà phân tích nầy, những luận điệu tăng cường phản ứng quân sự của Mỹ đối với TQ là điều thật sự rất đáng lo ngại.

Chẳng hạn, James Galbraith, kinh tế gia “dị giáo hay phi chính thống” và giáo sư Đại Học Texas, nhân vật thuộc phe tự do nhưng không được giới lao động và đồng minh ưa thích,  thường chỉ trích nghiêm khắc những ai nghĩ có thể khuyến dụ và thu hút việc làm từ TQ qua một phối hợp các chiến thuật gây sức ép. Những nhân vật như Galbraith thường bị gạt bỏ một cách thô lỗ và động lực của họ bị nghi ngờ. Galbraith đại diện cho một quan điểm hoàn toàn trái ngược với các tổ chức AFL-CIO/EPI/AAM, và quan điểm của ông được chia sẻ bởi những nhân vật như Joseph Stiglitz ở Đại Học Columbia, Alice Amsden ở MIT, và nhiều người khác.

Galbraith gạt bỏ luận cứ tăng trưởng kinh tế ở TQ đã không đem lại  lợi ích vật chất  lớn lao cho hàng trăm triệu người trong một thời gian ngắn. Rõ ràng là một thế hệ quần chúng đông đảo đã thoát khỏi nghèo đói – với một cuộc sống mới, họ hiểu rất rõ, tốt hơn trước rất nhiều. Ông lập luận, một số lớn những sản phẩm biến chế ở  TQ đã được sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường quốc nội, công xá và điều kiện làm việc được cải thiện, nhất là trong khu vực xuất khẩu, và ép buộc TQ tái định giá trị đơn vị tiền tệ ở một mức cao sẽ chẳng ảnh hưởng gì đến việc tạo công ăn việc làm ở Mỹ.

Một luận cứ chính yếu trong giới viên chức lao động và đồng minh của họ là không những giữ hối suất đơn vị tiền tệ ở mức thấp, TQ đồng thời cũng kìm hảm mức tiêu thụ quốc nội quá khe khắt. Và, họ lập luận, tỉ suất tiết kiệm ở TQ cao nhất thế giới, trên 40% hàng năm – so với Hoa Kỳ luôn lên xuống trong khoảng từ số không đến 5% mỗi năm – chỉ đạt được bằng cách dìm nén mức sống của 1,3 tỉ dân. Vì vậy, theo họ, khi buộc TQ tái định tỉ suất hối đoái đơn vị tiền tệ ở một mức cao và lèo lái tài hóa trở lại thị trường nội địa, họ chỉ làm những gì tốt nhất cho TQ – và đồng thời giúp tạo thêm nhu cầu của người Hoa đối với hàng hóa Mỹ.

Galbraith diễu cợt ý tưởng người Mỹ biết những gì tốt cho TQ hơn là người TQ. Ông nói: “Ý niệm TQ có thể gia tăng tiêu thụ quốc nội một cách nào đó có lợi cho công nhân Mỹ về phương diện vật chất là điều không hợp lý. Trước hết, tiêu thụ ở TQ đã gia tăng nhanh chóng trong nhiều thập kỷ. Thứ hai, nâng cao mức tiêu thụ hơn nữa có ý nghĩa gì? Phải chăng có thêm nhiều xe hơi và ít đường sá để lái xe đi lại? Từ quan điểm phát triển, điều nầy không có ý nghĩa gì hết. Tại sao người TQ nên giảm tốc độ xây cất hạ tầng cơ sở tương đối với việc tăng sức mua tiêu thụ phẩm? Tại sao họ nên xây ít nhà máy phát điện hơn và mua thêm máy móc để gây nạn thiếu điện?”[25].

Giống như Galbraith, một vài người – nghi ngờ lập trường chống TQ không lay chuyển của giới lao động –  không e ngại lên án những người to tiếng chỉ trích TQ là bài ngoại, phân biệt chủng tộc, là gieo rắc ý niệm Họa Da VàngYellow Peril-style alarmism, một đồng vọng của chiến dịch gây hoang mang về một đe dọa tưởng tượng đối với sự thịnh vượng và công ăn việc làm ở Hoa Kỳ của người Nhật hai thập kỷ trước đây.

Các nhà phân tích cấp tiến, chỉ trích chính sách chống TQ của AFL-CIO, thường đưa ra hai luận cứ: TQ xứng đáng được tán thưởng về thành tích và uy tín đã giúp hàng trăm triệu người tiếp cận một đời sống thành thị phồn vinh, và Hoa Kỳ đã thực sự sai lầm khi xúc phạm TQ với mục đích đánh lạc hướng công luận về lịch sử lãnh đạo kinh tế sai lầm của chính mình trong nhiều thập kỷ.

Feffer của IPS nói: “Chúng ta đang bàn về một xứ có tiềm năng liên tục giải phóng một số dân khổng lồ khỏi nghèo đói. Tôi không nghĩ quốc gia liên hệ có thể làm được việc nầy bằng cách cạnh tranh ‘công bằng’ theo đúng quy luật của chính sách quốc tế”[26]. So với công nhân ở TQ, chưa nói gì đến thợ thuyền trong các nhà máy sắt thép ở Nigeria hay nhân công may mặc ở Ba Tây, công nhân Hoa Kỳ tương đối khá giả hơn nhiều.

Theo Doug Henwood, biên tập viên nhà xuất bản Left Business Observer, ” luận bàn về Họa Da Vàng đã có từ lâu ở Hoa Kỳ, và khá nhiều luận bàn dễ dàng hòa nhập vào  loại nầy . Vâng, họ rất cạnh tranh, nhưng …lịch sử ‘Họa Da Vàng’ làm cho đề tài đầy vẻ tai họa và độc địa. Chỉ trích TQ luôn dễ dàng hơn là nhìn xem những gì sai trái với Hoa Kỳ. Đây là một thứ quốc gia chủ nghĩa quá gần gũi với bài ngoại,  đã thêm dầu vào lữa, và các thành phần mị dân cánh tả cũng như cánh hữu đều dễ đồng tình trong tâm thức không ưa thích TQ”[27].

Khuynh hướng nầy càng đáng tiếc hơn vì đã tăng cường  luận điệu hiếu chiến từ cánh hữu. Trong nhiều năm gần đây, Ngũ Giác Đài luôn phổ biến những cảnh báo ngày một nghiêm trọng hơn về sự trổi dậy của TQ như một thách thức chiến lược đối với Hoa Kỳ, và kể từ khi chiến tranh lạnh chấm dứt, phái tân bảo thủ và cánh ủng hộ giới quân sự hữu phái đã dùng ‘bóng ma TQ để hù dọa’ khả dĩ lấp lỗ hổng “hội chứng thiếu kẻ thù”(enemy deprivation syndrome), như Charles Freeman, một quan chức ngoại giao cao cấp nói được tiếng Quang Thoại, trước đây thích gọi.

Selig Harrison, một nhà báo và giám đốc Chương Trình Á Châu thuộc Trung Tâm Chính Sách Quốc Tế – CIP [28], đã gợi ý: giới cấp tiến cần làm quen với ý niệm quyền lợi quốc gia chính đáng của TQ trong khu vực. Harrison nói: “Ý tưởng chúng ta nên chấp nhận quyền lợi của TQ trong vùng Đông Á, theo tôi nghĩ, phải được phe tự do sẵn sàng đón nhận. Thực tế TQ sắp có một hải quân có tầm với dài, sẽ là một siêu cường, giống như Ấn Độ, và Hoa Kỳ phải tự điều chỉnh”[29].

Nhưng nước Mỹ đã không tự điều chỉnh tốt và kịp thời. Thật khó lòng tưởng tượng một chính trị gia Mỹ bênh vực lập trường: Hoa Thịnh Đốn nên rút khỏi hiện tình dàn trải quá mỏng ở Á châu và Thái Bình Dương hoặc nhường chỗ cho một sự hiện diện rộng lớn của TQ.

Mới đây, trong mùa hè vừa qua, chính quyền Obama đã đặt viên gạch đầu tiên xây Bức Trường Thành Ngăn Bờ chung quanh TQ, qua động thái hàn gắn quan hệ với  lực lượng đặc biệt tàn bạo của Indonesia, và tham gia vào hàng ngũ chống đối TQ trong vụ tranh giành có tiềm năng nguy hiểm khi TQ đòi chủ quyền một chuổi các hải đảo trong khu vực Biển Đông.  Michael Klare – tác giả cuốn Các Cường Quốc Đang Lên , Hành Tinh Co Rút – Rising Powers, Shrinking Planet – nói: “Thật là một tai họa khi giới cấp tiến cung cấp cỏ khô cho mồi lữa tập đoàn quân-sự-kỹ-nghệ qua việc bêu xấu hay chụp mũ TQ. Nhiều nhóm  lợi ích hùng mạnh ở Hoa Thịnh Đốn muốn xô đẩy chúng ta vào con đường xung đột”[30].

Vấn đề Đài Loan là một điểm nóng đặc biệt, và nếu quan hệ giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn tuột dốc, một đại họa giữa hai cường quốc nguyên tử rất dễ xẩy ra vì hải đảo nầy. Theo Harrison, sự chấm dứt hậu thuẩn quân sự cho Đài Loan phải là khởi điểm cho mọi nổ lực cải thiện quan hệ Hoa Kỳ-TQ, kể cả quan hệ kinh tế. Harrison nói: “Chúng ta sẽ không bao giờ có thể buộc TQ ứng xử phải chăng trên bình diện kinh tế, về các vấn đề then chốt như tỉ suất hối đoái và lập trường tương lai về việc nắm giữ các trái phiếu ngân khố của chúng ta, nếu chúng ta tiếp tục gây rối về vấn đề Đài Loan”[31].

Lập trường của chúng ta đối với TQ một phần tùy thuộc vào thái độ: liệu chúng ta có đủ niềm tin TQ có thể chuyển biến từ một hệ thống độc tài qua một hệ thống tự do, dân chủ hơn, và nếu vậy, phải chờ đợi bao lâu?

Thánh kinh của những kẻ tin TQ sẽ không thay đổi là tác phẩm 2007 của James Mann, “The China Fantasy” (Trung Quốc Hoang tưởng). Nguyên phóng viên báo Los Angeles Times và hiện công tác ở Johns Hopkins School for Advanced International Studies,  Mann lập luận: TQ rất có thể không tan rã hay dân chủ hóa. Thay vào đó, rất có thể sau nhiều thập kỷ, TQ sẽ cực giàu và không dân chủ, và những ai tin ở khả năng dân chủ hóa của TQ là hết sức sai lầm. Mann nói, TQ “vẫn còn là một chế độ Leninist, do Đảng Cộng Sản lãnh đạo theo những vòng tròn cấp bậc từ dưới lên, với một Ủy Ban Trung Ương Đảng, một Bộ Chính Trị, và một Ủy Ban Thường Vụ của Bộ Chính Trị”.

Đã hẳn trong những thập kỷ sắp tới, hệ thống chính trị TQ có thể có nhiều lựa chọn  đường hướng thay đổi.Tuy nhiên, nếu có thay đổi, động lực thúc đẩy chắc sẽ đến từ tầng lớp lao động; và gần đây, đã có nhiều dấu hiệu giới công nhân đã bắt đầu chứng tỏ thực lực của chính mình. Trong những năm vừa qua, họ đã phô trương một chuổi các hành động ngày một tăng tốc, đình công và phản kháng, với cao điểm khi báo chí đưa tin các xưởng lắp ráp Honda đã phải đóng cửa trong tháng 5-2010.

Và trái với nhiều người quen nhìn TQ theo nhãn quan trắng đen rõ rệt –  một tầng lớp lao động bị một chế độ thuần nhất và một công đoàn tay chân, ACFTU, áp bức – những động thái  gần đây của giới lao động đã phơi bày một hình ảnh với nhiều sắc thái tế nhị khác xa. Ít nhất, làn sóng đình công gần đây là dấu hiệu tất cả các tay chơi  – công nhân, chính quyền cấp tỉnh và địa phương, ACFTU, chế độ ở Bắc Kinh – đang công diễn một vũ điệu phức tạp. Đáng ngạc nhiên nhất là trong nhiều nơi ở TQ, công nhân, chính quyền trung ương và nhà cầm quyền cấp tỉnh, khá sáng suốt, đã đoàn kết nhất trí trong nổ lực tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc.

Theo Geoffrey Crothall, người phát ngôn của China Labour Bulletin (CLB), một nhóm các nhà hoạt động lao động ở Hong Kong, “hơn 20 tỉnh đã thể hiện tăng lương tối thiểu khoảng 20%. Sau khi đình công xẩy ra , nhiều chính quyền địa phương đã can thiệp và tìm cách giúp giới quản trị và công nhân thương thảo”[32]. Crothall nói, rõ ràng chính quyền trung ương muốn tăng lương và góp phần vào ổn định xã hội. Và cũng có nhiều yếu tố khác giúp nâng cao lương bổng: chẳng hạn, TQ đang cần một lực lượng lao động với chất lượng và kỷ năng cao khi đang chuyển qua giai đoạn biến chế các sản phẩm cao cấp, trong lúc sớm có dấu hiệu khan hiếm nhân công lao động vì tăng trưởng dân số thấp , chính sách một con và sự kiện nhiều triệu dân đã rời nông thôn ra thành thị tìm việc làm trong các xưởng máy. ACFTU, từ lâu được xem như tổ chức bảo vệ Đảng và một công đoàn với đặc trưng TQ, hiện đang bị áp lực phải thay đổi từ dưới lên bởi các công nhân đình công và từ trên xuống bởi chính quyền trung ương ở Bắc Kinh.

Crothall  là người thành lập nghiệp đoàn độc lập đầu tiên của TQ trong thời gian biến động ở Quảng Trường Thiên An Môn năm 1989. Ông nhắc lại tình hình sôi động ở Quảng Đông, nơi tọa lạc của hầu hết các cơ sở biến chế quan trọng nhất của TQ. Ông nói, “ACFTU hiện đang tiến hóa và không phải một khối nhất trí. Đó là một định chế của chính quyền. Tuy nhiên, ở Quảng Đông, công đoàn khá cấp tiến và thực tiển. Và cũng ở Quảng Đông, theo CLB, chính quyền tỉnh đang thử nghiệm nhiều quy luật mới có thể dành cho công nhân quyền thương nghị tập thể”.

Chính vì vậy, những nổ lực của Andy Stern ở TQ, mặc dù thường mang tính chỉ trích, hình như rất được trân quý. Stern nói: “Tôi không nhất trí với lời kêu gọi của Glenn Beck, ‘Công nhân toàn thế giới hãy đoàn kết lại!’. Đây không chỉ là một  chiêu bài”[33]. Stern còn thêm, đây là điều thực sự quan trọng khi công nhân Hoa Kỳ và công nhân TQ xem nhau như đồng minh. Stern lập luận: những nổ lực của những người như ông có thể giúp ACFTU chuyển hướng mang tính đại diện nhiều hơn của hàng trăm triệu đoàn viên. Stern cũng nói: “Hiện có một tiến hóa lớn lao đang tiếp diễn. Và đối với tôi, vấn đề là: Cuối cùng công đoàn sẽ đi đến đâu, không phải đã khởi hành từ đâu”[34]. Giống như Crothall, Stern nhấn mạnh không phải chỉ công nhân mới muốn ACFTU thay đổi phương thức hoạt động, “chính quyền cũng đang thúc đẩy các công đoàn phải chuyển hóa”[35].

Katie Quan – một lãnh tụ nghiệp đoàn trước đây và hiện là phó chủ tịch Trung Tâm Lao Động, Đại Học California, Berkeley[36] – hậu thuẩn cho nổ lực của Stern nhằm đối thoại với ACFTU. Bà nói: “Chính sách tẩy chay TQ của AFL-CIO, và không muốn dính dáng gì đến TQ, đã chỉ khiến giai cấp lao động tụt hậu”[37]. Katie Quan đề nghị một cách tiếp cận ba mặt đối với TQ và ACFTU: đối thoại giữa nghiệp đoàn và nghiệp đoàn, trao đổi giữa công nhân và công nhân, và thảo luận giữa các học giả. Trong những năm gần đây, theo bà, TQ đã có nhiều thay đổi lớn lao trong chính sách lao động, khởi đầu với pháp chế  lao động về hợp đồng, ban hành vào tháng 1-2008. Những đổi thay nầy đã giúp công nhân ý thức đầy đủ quyền lợi của mình và trong thực tế đã giúp khởi động các cuộc đình công bột phát. Và nhiều cải cách tương lai đang được xúc tiến, kể cả pháp chế thương lượng hay mặc cả tập thể.

Một phúc trình gần đây của CLB, “Tự Quyết Định: Phong Trào Công Nhân Ở Trung Quốc, 2007-2008”[38], đã kết luận: bất kể lịch sử ACFTU ra sao, không thể có biện pháp thay thế nhằm tìm cách tái định hình liên hiệp nghiệp đoàn. Phúc trình nêu rõ: “Điều thiết yếu là quyền tổ chức chính thức của ACFTU một cách nào đó phải được hội nhập với sức mạnh và hậu thuẩn của công nhân. Cả hai phía sẽ phải tìm cách đến với nhau”[39].

Đã hẳn, chúng ta có lý do để tìm hiểu những đổi thay đó có đến đủ nhanh hay không. Ralph Nader – người đã đem lại cảm hứng cho một thế hệ các nhà hoạt động đòi hỏi công bình toàn cầu và cũng là người nhiều năm vận động chống lại chế độ mậu dịch chi phối bởi các quy luật do các đại ngân hàng và các đại công ty áp đặt – chủ trương đối đầu với TQ và các xứ xuất khẩu có phí lao động thấp, như Ấn Độ, với một thứ quan thuế xã hội được thiết kế nhằm trung hòa hóa tình trạng thiếu quyền mặc cả tập thể, mức lương tối thiểu tương đối phải chăng, và sự thiếu vắng các quy luật đứng đắn. Nader công nhận cuối cùng rồi TQ cũng có thể thay đổi, nhất là phong trào canh tân đã dẫn đến tình trạng công nhân đòi hỏi quyền lợi nhiều hơn và tầng lớp trung lưu tăng thêm áp lực đòi hỏi phát huy dân chủ. Nhưng Nader không sẵn sàng nhẫn nại. Ông nói: “Nếu chúng ta đợi đủ lâu, chừng 35 năm sau, mức lương và điều kiện làm việc và những thứ đó có thể lên bằng nhau. Nhưng trong lúc giao thời,  hãy nhìn các cộng đồng rổng ruột ở Hoa Kỳ”[40].

Tuy nhiên, cuối cùng Hoa Kỳ cũng chẳng làm được gì nhiều để thay đổi lộ trình hay quỹ đạo của TQ. Rất ít, nếu có, các biện pháp kinh tế đã được đề nghị, có thể buộc TQ phải thay đổi. Những biện pháp nầy chẳng những thiếu hữu hiệu, mà còn phản tác dụng, gây đổ vỡ lớn hơn cho Hoa Kỳ.

Henwood từ Left Business Observer nói: “Bất cứ biện pháp cứng rắn nào đối với TQ cũng đem lại phản tác dụng tai hại cho chính chúng ta”[41]. Nếu chiến tranh thương mãi xảy ra, TQ có thể, trong nhiều lựa chọn, dùng số mỹ kim dự trữ và các công khố phiếu của Hoa Kỳ như một thứ khí giới, và có thể nhập khẩu hàng từ nhiều xứ khác hơn là Hoa Kỳ.

Sophie Richardson của Human Rights Watch nói, Hoa Kỳ phải đặt nặng vấn đề dân chủ hóa và nhân quyền hơn nữa trong nghị trình, ngay cả trong các cuộc họp về các đề tài khác , không phải e ngại làm phật  lòng TQ: “Có rất nhiều cách để diễn đạt các đòi hỏi ấy trong các phiên họp giữa hai quốc gia mà không phải quá nặng lời giữa cuộc họp”[42]. Cho đến nay, T T Obama hình như luôn tránh né không nhắc đến vấn đề nhân quyền.

Hoa Kỳ có thể có rất ít lựa chọn , ngoài việc phải làm quen với sự kiện: TQ sẽ tự mình chuyển hóa. Dù vậy, Hoa Kỳ vẫn có thể dùng sự thách thức của TQ để nhanh chóng thay đổi phương thức làm việc trong quốc nội. Orville Schell nói: “Đây không phải chỉ là sự kiện TQ trổi dậy như một địa chấn, nhưng chính sự sụp đổ tài chánh, kinh tế và văn hóa của chính chúng ta đã là nguyên nhân còn đáng kinh ngạc hơn. Chúng ta cần tìm cách để thích nghi với TQ, và để gây ảnh hưởng với TQ. Và đây không phải một kết luận tất yếu là vấn đề sẽ dễ dàng, hay ngay cả hòa dịu”[43].

QUAN HỆ HOA KỲ-TRUNG QUỐC: HỢP TÁC VÀ THÙ NGHỊCH

Chính quyền Obama, trong quan hệ đối nghịch với TQ về tỉ giá hối đoái, mậu dịch, và an ninh, đã trở nên ngày một cứng rắn hơn trong phương cách tiếp cận với Bắc Kinh. Hoa Thịnh Đốn hiện đang tìm kiếm đồng minh để đối đầu với siêu cường đang lên và đang tự khẳng định, cũng như chẳng mấy sẵn sàng hợp tác với Hoa Kỳ.

Trong một thay đổi từ quá trình ve vản tay đôi kiên trì, Obama đang cố gắng vận động thành lập những liên minh – trong số các đồng minh và đối tác thương mãi xa gần – với lập trường thống nhất đối với TQ về các vấn đề gai gốc như tỉ giá hối đoái và tranh giành chủ quyền trên các hải đảo trong vùng Biển Đông.

Những lợi điểm và giới hạn của cách tiếp cận mới nầy đã phơi bày rõ nét trong phiên họp giữa các nền kinh tế lớn nhất ở Hàn Quốc tuần trước. Hoa Kỳ đã giành   được sự ủng hộ về một cam kết giảm thiểu các mất quân bình mậu dịch, một cam kết giúp tăng cường sức ép đối với TQ trong vấn đề tái định giá đồng nhân dân tệ với một tỉ suất cao hơn.

Tuy nhiên, Đức, Ý và Liên Bang Nga chống lại đề nghị của Hoa Kỳ ấn định những giới hạn bằng con số (numerical limits) trên số mất quân bình, một động thái lẽ ra đã có thể cô lập hóa Bắc Kinh nhiều hơn nữa. Điều nầy đã buộc bộ trưởng Ngân Khố, Timothy F. Geithner, trên đường về từ Nam Hàn, phút chót đã phải dừng chân,  không dự liệu trước, ở TQ, để thảo luận với quan chức tài chánh cao cấp Zhang Guobao về tình hình lúc một căng thẳng liên quan đến vấn đề tỉ giá hối đoái.

Các quan chức chính quyền đã tiết lộ trình độ mất tin tưởng đáng lo ngại giữa TQ và Hoa Kỳ trong hai năm qua, buộc họ phải giảm thiểu hy vọng hợp tác với TQ trong nổ lực đối phó với những thách thức quan trọng như biến đổi khí hậu, cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, và một trật tự kinh tế toàn cầu mới.

Một nguyên nhân căng thẳng mới là TQ vừa quyết định ngưng chuyển tải số khoáng sản đất-quí-hiếm xuất khẩu qua Hoa Kỳ: “neodymium” cần thiết trong việc sản xuất hỏa tiễn điều khiển từ xa, các turbines gió, xe hơi chạy bằng xăng và điện, Apple iPhones…; hay “lanthanum” cần cho các máy xúc tác, catalytic converters, làm sạch hệ thống thoát hơi trong xe chạy bằng xăng dầu… Các quan chức Hoa Thịnh Đốn đang âu lo – tự hỏi động lực bên sau động thái nầy mang tính chiến lược hay kinh tế. Tuy nhiên, tin tức mới nhất (29-10-2010) cho biết, TQ đã cho phép tái tục việc chuyển tải trước ngày ngoại trưởng Clinton đến Bắc Kinh.

Theo David Shambaugh, giám đốc chương trình Chính Sách TQ tại Đại Học George Washington, “chính quyền Obama bắt đầu nhiệm kỳ với một ý tưởng quan yếu: biến đổi TQ thành một đối tác toàn cầu cùng chung sức đối phó với các thách thức toàn cầu. TQ đã từ chối bước tới và đảm nhận vai trò của mình. Nay họ hiểu,  họ đang đối mặt với một xứ ngày một nhỏ nhen, ích kỷ, hung hăng, quốc gia cực đoan và hùng cường”[44].

Để chống lại điều Hoa Thịnh Đốn xem như sự trổi dậy của chủ nghĩa thủ thắng TQ[45], Hoa Kỳ đang cố gắng vực dậy các đồng minh thời chiến tranh lạnh, như Nhật và Nam Hàn, và tăng cường sự hiện diện  của mình ở vài nơi khác ở Á châu. Trong tuần nầy, ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton sẽ viếng thăm Việt Nam lần thứ hai trong vòng 4 tháng, để tham dự hội nghị thượng đỉnh Đông Á, rất có thể với các đề tài lấn át  liên quan TQ.

Hiện T T Obama đang công du Á châu đến Nhật, Indonesia, Ấn và Nam Hàn, và bỏ qua TQ. Hành trình, trên nguyên tắc, không mang ý nghĩa một động thái nhằm làm mất mặt TQ. Trước đây, T T Obama đã một lần công du đến Bắc Kinh, và chuyến viếng thăm Indonesia cũng đã bị trì hoản khá lâu. Nhưng tính tượng trưng của hành trình vẫn lẩn quất trong đầu óc các quan chức Hoa Thịnh Đốn.

Jeffrey A. Bader, cố vấn cao cấp về chính sách TQ tại tòa Bạch Ốc, cho biết, sự kiện TQ khẳng định quyền lực của mình đã trở thành đặc biệt rõ nét tiếp theo sau khủng hoảng kinh tế 2008, một phần vì sự hồi phục chóng vánh của Bắc Kinh đã đưa đến phán xét khá phổ biến: Hoa Kỳ là một siêu cường đang tuột dốc và TQ một siêu cường đang lên.

Nhưng Bader nói tiếp, chính quyền Obama cương quyết trung hòa hóa ấn tượng nầy qua nổ lực tái khẳng định vai trò lãnh đạo của Mỹ.

Các yếu tố chính trị quốc nội cũng đã góp phần vào lập trường cứng rắn của chính quyền Obama. Với kinh tế còn khập khiểng và tỉ lệ thất nghiệp cao ở Mỹ, Bắc kinh đã trở thành mục tiêu trong mọi trạng huống. Trong mùa bầu cử Quốc Hội giữa kỳ, ứng viên, ít ra trong 30 đơn vị bầu cử, đã cảnh báo: TQ là một đe dọa đối với công ăn việc làm của người Mỹ.

Vào một thời điểm Quốc Hội bị tê liệt vì chính trị đảng phái, nỗi ấm ức về việc nhào nặn giá trị đồng nhân dân tệ của TQ đã trở thành một trong số ít đề mục giành được đồng thuận lưỡng đảng.  Trình độ đồng thuận đã lên đỉnh điểm trong tháng 9-2010  khi đa số dân biểu Hạ Viện đã bỏ phiếu đe dọa áp đặt thuế quan lên hàng xuất khẩu TQ, nếu Bắc Kinh không cho phép đồng nhân dân tệ tăng giá theo luật cung cầu trên thị trường.

Điều rắc rối là chính trị nội bộ TQ đã đặt Bắc Kinh vào vị thế không thể làm gì khác. Với đảng Cộng Sản đang trong quá trình chuyển tiếp từ Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào qua người kế nhiệm chuẩn bị từ trước, Xi Jinping, cấp lãnh đạo TQ luôn cảnh giác đối với mọi đổi thay có thể phương hại đến tỉ suất tăng trưởng kinh tế.

Ngoài ra, tình trạng chia rẽ giữa các lãnh đạo dân sự TQ và các thành phần lãnh đạo trong Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân đang ngày một sâu sắc. Nhiều sĩ quan TQ giữ thái độ công khai thù nghịch đối với Hoa Kỳ, vì họ  tin chắc những cuộc tập trận của Hải  Quân Mỹ gần đây trong vùng Hoàng Hải là một phần trong chính sách bao vây TQ.

Ngay cả nổ lực của chính quyền Hoa Kỳ hợp tác với TQ trong vấn đề biến đổi khí hậu và cấm phổ biến vũ khí hạt nhân cũng đã bị một số lãnh đạo ở Bắc Kinh nghi ngờ.

Các phụ tá của T T Obama, đa số là cựu quan chức dưới thời T T Clinton, đều hiểu rõ: trong quan hệ kinh tế, người ta luôn thấy có nhiều bước chiến thuật cận kề vực thẳm (brinkmanship), hàm ngụ gay cấn nhiều hơn trong thực tế.

Tuy nhiên, Tòa Bạch Ốc cũng có đủ lý do để quan ngại, và vì vậy, trong tháng 9-2010, đã gửi một phái đoàn cao cấp đến Bắc Kinh, gồm cả Bader, Lawrence H. Summers – nguyên giám đốc Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia, và Thomas E. Donilon, người vừa được cử giữ chức vụ cố vấn an ninh quốc gia.

Summers nói: “Chúng tôi rất ấn tượng với thái độ nghiêm chỉnh họ chia sẻ sự cam kết của chúng tôi về phương cách xử lý các dị biệt và công nhận hai quốc gia chúng tôi sẽ có tác động rất lớn trên kinh tế toàn cầu”[46].

Ngay trước cuộc họp mặt, TQ đã bắt đầu cho phép đồng nhân dân tệ tăng giá với một tỉ suất ít nhiều nhanh hơn, mặc dù tổng giá trị gia tăng, kể từ khi Bắc Kinh loan báo trong tháng 6-2010 họ sẽ buông lỏng các biện pháp kiểm soát hối đoái, vẫn chưa đến 3%. Các kinh tế gia ước tính đồng nhân dân tệ đã được đánh giá thấp khoảng 20%.

Trong lúc đó, căng thẳng mậu dịch giữa hai xứ lại một lần nữa bùng phát. Hoa Thịnh Đốn mới đây đã đồng ý điều tra vụ nghiệp đoàn United Steelworkers lên án TQ vi phạm quy chế Tổ Chức Thương Mãi Quốc Tế – WTO, qua các biện pháp hổ trợ của nhà nước dành cho các kỹ thuật năng lượng sạch. Động thái nầy đã khiến Zhang Guobao, quan chức năng lượng hàng đầu TQ, tố cáo chính quyền Mỹ đang tìm cách kiếm phiếu – một lối nói chua cay gây căm phẫn trong các quan chức Bạch Ốc.

Theo Summers, việc TQ ngưng chuyển tải các khoáng sản đất-quí-hiếm xuất khẩu qua Hoa Kỳ đang đặt ra nhiều vấn đề quan trọng trong cả hai địa hạt kinh tế và chiến lược, đòi hỏi một nghiên cứu cẩn mật trong nội bộ chính quyền Mỹ.

Trước đây, Bắc Kinh cũng đã ngưng chuyển tải loại khoáng sản nầy đến Nhật Bản, sau vụ tranh cãi khi tàu đánh cá TQ đụng vào hai tàu tuần tiểu Nhật gần những hải đảo đang tranh chấp.

Đây là một trong vài động thái khiêu khích gần đây của Bắc Kinh đối với các xứ láng giềng – kể cả một vụ đã khiến chính quyền Obama phải nhập cuộc.

Tháng 7 vừa qua, tại Hà Nội, ngoại trưởng Hillary R. Clinton đã tuyên bố: Hoa Kỳ sẽ giúp làm dễ dàng các cuộc thương thảo giữa Bắc Kinh và các xứ láng giềng về vấn đề tranh chấp hải đảo ở Biển Đông. Các viên chức TQ rất căm giận khi Hoa Kỳ rõ ràng đã thuyết phục được 12 xứ ủng hộ lập trường của mình.

Với chuyến viếng thăm Hoa Thịnh Đốn sắp tới của chủ tịch Hồ Cẩm Đào vào đầu năm 2011, các quan chức Hoa Thịnh Đốn cho biết bà Clinton sẽ có bài phát biểu hòa dịu hơn ở Á châu vào tuần nầy. Và hiện nay, người Mỹ cảm thấy lập trường của họ đối với TQ cũng đã được làm sáng tỏ.

Shambaugh nói, “tín hiệu gửi đến Bắc Kinh cần phải rõ ràng. Hoa Kỳ hiện có nhiều bạn bè gần gũi và thâm giao khác trong khu vực”.[47]

Trong mọi trường hợp, tưởng cũng nên nhắc lại ở đây lối cảnh giác của dân gian: [Khi] trâu bò húc nhau, ruồi muổi [thường phải] chết oan!

GS Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

05-11-2010


[1] SEIU: Service Employees International Union: Liên Hiệp Công Nhân Ngành Dịch Vụ Thế Giới

[2] ACFTU: All-China Federation of Trade Unions: Liên Hiệp Các Nghiệp Đoàn Trung Quốc.

[3] We have to recognize that China is the first real economic competitor that has ever threatened America’s standing as the global economic superpower.

[4] Andy Stern seems to think he can find progressive elements within the ACFTU. And the SEIU is OK with that?

[5] IUOE: International Union of Operating Engineers: Liên Hiệp Quốc Tế các Kỹ Sư Đang Hành Nghề

[6] ESRC: Congressionally mandated US-China Economic and Security Review Commission: Ủy Hội Thẩm Định Kinh Tế và An Ninh Hoa-Mỹ do Quốc Hội sáng lập.

[7] Andy Stern threw away all principle and started dealing with the ACFTU. The head of the ACFTU is on the fucking Politburo!. He’s a thug.

[8] Campaign for America’s Future.

[9] The global imbalances generally – with Germany, Japan, China, Korea and others focused on an export model and relentlessly wedded to it without concern for moving to a more balanced marketplace – have a direct destabilizing effect  on the global economy, and on this economy in particular, and can’t be sustained. And so the United States has to move into a series of much more fraught confrontations and challenges, not just with the Chinese.

[10] I am concerned that there are other places in the world where China’s form of authoritarian capitalism is taking hold. Look at how China is engaging in Africa.

[11] Asia Society’s Center on U.S.-China Relations

[12] It’s almost as if the continental plates of global politics are shifting beneath our feet. We suddenly have this other model of authoritarian capitalism that is proving remarkably successful, and it is even posing a challenge, not just economically but politically, to our belief that our system of democratic governance is the one that’s best able to deliver a good life.

[13] Foreign Policy in Focus, Institute for Policy Studies (IPS).

[14] This drives a wedge right through the progressive community.

[15] Economic Policy Institute – EPI

[16] Alliance for American Manufacturing -AAM

[17] I would say to the Chinese, ‘We are not going to allow the free access of Chinese goods, as long as you are pirating technology, requiring American companies to produce in China only for export and not for the Chinese market, extracting technology transfer agreements that are plainly coercive, and manipulating your currency.’ Then the fat would be in the fire, and the Chinese would have to decide what they are going to do about it. It might lead to some conflict. If we took a harder line on Chinese mercantilism, it might get kind of ugly in the short term.

[18] The US government has an obligation to US workers to develop policies that are in our national interests.

[19] It does. I view my job as being concerned with the living standards of American workers.

[20] This will allow China to enjoy the fruits of its growth.

[21] I don’t call it a success for working people. It’s a disgrace. The regulatory system is like the Wild West, and nobody cares. You have long-term environmental damage, you have child labor, you have forced labor, the destruction of workers’ health.

[22] We don’t  recognize the ACFTU as a real union. I consider them to be the government. They’re management.

[23] The trade surplus is being used by China to build up a military. They want to build a blue-water navy in the Pacific, to develop sophisticated nuclear weapons, satellite-killing weapons. What does that say about peace? Their stated goal is, they want to have a presence in the Pacific Rim and challenge US supremacy in the Pacific. That has enormous implications.

[24] I would continue to sell arms to Taiwan.

[25] The notion that China could somehow increase its consumption in ways that would materially benefit  American workers is not plausible. First, consumption in China has been rising rapidly for dacades. Second, raising it more rapidly means what? Having more cars and fewer roads to drive on? It doen’t make any sense from a development standpoint. Why should they want to slow the pace at which they build infrastructure relative to the purchase of consumer goods? Why would they build fewer power plants and have more appliances in order to have brownouts?

[26] We’re talking about a country that has the continuing potential to pull a huge number of people out of poverty. I don’t think it can do that by competing fairly according to the rules of international policy.

[27] There is this longstanding Yellow Peril discourse in the United States, and a lot of this stuff fits into it comfortably. Yeah, they’re competitive, but … that history of Yellow Peril-ism makes it seem sinister and virulent. It’s a lot easier to blame China than it is to look at what’s wrong with the United States. There ‘s a kind of nationalism that is a little too close to xenophobia that fuels this sort of thing, and populists on the left and right can agree on not liking China.

[28] Center for International Policy – CIP

[29] The idea that we should accept China’s interests in East Asia, I would think, should be readily understood by liberals. The fact that China is going to have a navy with a long reach, that it’s going to be a superpower, just as India is, well, America has to adjust.

[30] It would be disastrous for progressives to provide fodder for the military-industrial complex by demonising China. There are very powerful interests in Washington who want to set us on a path of confrontation.

[31] We’ll never get China to behave economically on key issues like the currency peg and their position in the future on holding our securities if we continue to fuck them on Taiwan.

[32] More than twenty provinces  have introduced increases in the minimum wage of around 20%. When strikes have broken out, many local governments have interceded and tried to get management and workers to negotiate.

[33] I get in trouble on Glenn Beck saying, ‘Workers of the world unite!’. It’s not just a slogan.

[34] There’s a big evolution going on. And to me, the question is, “Where does the union end up, not where it started”.

[35] The government is pushing them to transform, too.

[36] Labor Center, University of California, Berkeley – UC Berkeley.

[37] The policy of the AFL-CIO to boycott China, to have nothing to do with China, has only kept the working class behind.

[38] Going It Alone: The Workers Movement in China, 2007-2008.

[39] It is essential that the formal organizing power of the ACFTU somehow be integrated with the strength and support of the workers. The two sides will have to find a way of coming together.

[40] If we wait long enough, in thirty-five years wages and working conditions and all that may equal out. But look at the hollowed-out communities in the United States in the meantime.

[41] Any attempt to get tough with the Chinese would also bite us in the ass.

[42] There are all sorts of ways of saying it in meetings between the two countries without it being a giant Fuck you! in the middle of the meeting.

[43] It isn’t just China’s rise, which is tectonic, but it’s our own financial, political and cultural collapse that is cause for even more consternation. We need to find ways to accommodate China, and to influence it. And it’s not a foregone conclusion that it will be easy, or even peaceable.

[44] This administration came in with one dominant idea: make China a global partner in facing global challenges. China failed to step up and play that role. Now, they realize they’re dealing with an increasingly narrow-minded, self-interested, truculent, hyper-nationalist and powerful country.

[45] Chinese triumphalism.

[46] We were struck by the seriousness with which they shared our commitment to managing differences and recognizing that our two countries were going to have a very large effect on the global economy.

[47]The signal to Beijing ought to be clear. The U.S. has other closer,deeper friends in the region.

 

                                  CÁNH TẢ HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC

 

Sau nhiều lần thăm viếng Trung Quốc (TQ) kể từ năm 2002, Andy Stern – nguyên   chủ tịch SEIU[1], hồi tưởng những cuộc thảo luận với cấp lãnh đạo ACFTU[2] về các vấn đề tổ chức và thương lượng tập thể. Chuyển hóa kinh tế ở TQ là một thách thức lớn đối với Hoa Kỳ, nhất là công nhân Mỹ. Stern nói: “Chúng ta phải công nhận TQ là xứ cạnh tranh kinh tế đầu tiên thực sự đe dọa địa vị siêu cường toàn cầu duy nhất của Hoa Kỳ”[3].

SỰ TRỔI DẬY CỦA TRUNG QUỐC VÀ HỆ QUẢ

Ít ai có thể chối cãi sự trổi dậy của TQ mang ý nghĩa thay đổi thế giới. Tuy nhiên, trong nội bộ phe tả ở Mỹ, người ta ghi nhận nhiều dị biệt sâu sắc mang tính nguyên tắc về hai vấn đề: phản ứng thích hợp trước sự trổi dậy của TQ như một siêu cường và sự trổi dậy báo hiệu nhiều viễn tượng tốt đẹp hay chỉ là triệu chứng chẳng lành.

Ngay cả những chuyến viếng thăm TQ của Stern trong thập kỷ vừa qua cũng đã bị cấp lãnh đạo lao động chỉ trích nặng nề. Chẳng hạn, giới hoạt động nhân quyền và toàn cầu hóa lên án ACFTU là khí cụ đàn áp công nhân lao động của Đảng Cộng Sản cầm quyền ở TQ.

Sophie Richardson , giám đốc Human Rights Watch phân bộ Á châu, đặt câu hỏi: “Andy Stern hình như nghĩ, ông ta có thể tìm thấy những thành phần cấp tiến trong nội bộ ACFTU. Và SEIU cũng đồng ý?”[4].

Jeffrey Fieldler, một nhà hoạt động lâu năm về TQ, một quan chức IUOE[5], và một thành viên ESRC[6], còn gay gắt hơn: “Andy Stern đã bất chấp mọi nguyên tắc và đã khởi sự thương nghị với ACFTU. Người cầm đầu ACFTU là thành viên của Bộ Chính Trị dơ bẩn! Hắn là một tên đạo tặc”[7].

Đã hẳn, nhiều người trong giới lao động đã bị chế nhiễu khi tin các công xưởng sản xuất hàng xuất khẩu ở TQ, thường do các công ty đa quốc gia Mỹ sở hữu và quản trị, đang giành mất  việc làm trong khu vực kỹ nghệ chế biến. Họ xem TQ, như tay chơi lớn nhất  trong cơn sốt quốc tế khởi động bởi các đại công ty đa quốc gia, lợi dụng lao động rẻ tiền và pháp chế lỏng lẻo trong phần lớn thế giới đang phát triển trong quá trình sản xuất và cung cấp hàng nhập khẩu tràn ngâp các cữa hàng trong các khu thương mãi Hoa Kỳ.

Theo Robert Borosage, đồng giám đốc Chiến Dịch Vận Động Cho Tương Lai Hoa Kỳ[8], ” những mất thăng bằng toàn cầu nói chung – với Đức, Nhật, TQ, Hàn quốc, và nhiều xứ khác, chuyên chú vào mô hình xuất khẩu và gắn bó  với mô hình nầy, không mấy quan tâm chuyển dịch đến một thị trường quân bình hơn – có tác động gây mất ổn định trong kinh tế toàn cầu, nhất là kinh tế Mỹ, và không thể bền lâu. Vì vậy, Hoa Kỳ phải đối đầu với một loạt các xô xát và thử thách, không chỉ với người TQ”[9].

Hệ quả sự trổi dậy của TQ còn sâu rộng hơn nhiều. TQ đã nhanh chóng trở thành một nền kinh tế khổng lồ, đi từ những nhà máy lắp ráp thô sơ và các xưởng may hực nóng đến các sản phẩm cao cấp và nhiều cách tiếp cận sáng tạo các kỹ thuật xanh, kể cả các tuốc-bin chạy bằng gió, các pa-nô năng lượng mặt trời, và các xe hơi chạy bằng điện. Mặc dù chỉ là một mô hình kinh tế tư bản “mang tính Viễn Tây”,  không bị trói buộc, nhưng đối với các nền kinh tế đang phát triển, sự kết hợp chặt chẻ giữa guồng máy kiểm soát chính trị từ trung ương và tăng trưởng kỹ nghệ do nhà nước chỉ đạo, tượng trưng một thách thức rõ rệt đối với mô hình tăng trưởng áp đảo kiểu Mỹ trong thời hậu chiến. Và mô hình TQ đã được xem như  mô hình quyến rũ đối với nhiều giới.

Carolyn Bartholomew, phó chủ tịch ESRC và nguyên trợ tá của Nancy Pelosi, chủ tịch Hạ Viện, đã lên tiếng: “Tôi quan ngại, ở nhiều nơi trên thế giới, hình thức tư bản chuyên chế của TQ đang bám trụ. Hãy nhìn phương cách dấn thân của TQ ở Phi châu”[10].

Orville Schell, giám đốc Trung Tâm Quan Hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc thuộc Hội Á Châu[11], cũng ghi nhận: “Chẳng khác gì các địa tầng chính trị toàn cầu đang chuyển dịch dưới chân mọi người. Chúng ta bất thần đối mặt một mô hình tư bản chuyên chế  khác rất thành công , và thậm chí đang trở thành một thách thức về kinh tế, chính trị, và ngay cả đối với lòng tin ở hệ thống quản trị dân chủ của chúng ta là hệ thống tốt nhất có thể đem lại một đời sống tốt đẹp”[12].

Một hệ quả không thể tránh là sớm muộn gì TQ, một cường quốc kinh tế ngày một lớn mạnh, cũng trổi dậy như một cường quốc chính trị và quân sự với ảnh hưởng từ Đông Á đến Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Trung Đông, Phi Châu và xa hơn nữa.

CÁNH TẢ HOA KỲ THIẾU NHẤT QUÁN

Trong nội bộ, phe cấp tiến hình như  không đồng thuận về phản ứng đối với sự trổi dậy của TQ. Theo John Feffer, đồng giám đốc Chính Sách Đối Ngoại Trọng Tâm thuộc Viện Nghiên Cứu Chính Sách IPS tả phái[13] “điều nầy đã chia rẽ cộng đồng cấp tiến”[14].

Với ý thức  chính sách TQ của Hoa Kỳ chịu sự chi phối chặt chẽ của các đại công ty đa quốc gia, các ngân hàng đầu tư vào TQ, và tập đoàn quân sự-kỹ nghệ luôn xem TQ là đối thủ và địch thủ tiềm năng, giới cấp tiến hiểu rõ  họ khó thể ảnh hưởng đến quá trình định hình chính sách quốc gia.

Tuy vậy, họ vẫn tham gia thảo luận các lựa chọn khả dĩ: đối đầu hay thỏa hiệp với một TQ đang lên? Áp đặt thuế quan và các biện pháp chế tài hay mở cữa đón nhận các xí nghiệp quốc doanh ngày một bành trướng – đầu tư chứng khoán vào các công ty Mỹ và đầu tư trực tiếp qua việc xây dựng những công xưởng ở Hoa Kỳ? Cộng tác hay tránh xa ACFTU và các định chế khác của TQ? Ngoài ra còn có các vấn đề nhân quyền, kể cả quyền công nhân,  quyền tự do tôn giáo, và quyền các dân tộc thiểu số như người Tây Tạng và người Hồi giáo Uighur ở miền Tây TQ? Liệu nạn thiếu nhân công lao động, đã đưa đến làn sóng đình công và phản kháng gần đây, sẽ khiến TQ dành nhiều tự do hơn cho công nhân như quyền tổ chức, quyền tranh đấu đòi tăng lương và nâng cao mực sống?

Sau nhiều lần phỏng vấn một số các nhà phân tích chính sách cấp tiến, các kinh tế gia, các nhà hoạt động môi trường, nhân quyền, lao động, các viên chức chính quyền, và các chuyên gia TQ trong giới đại học, Robert Dreyfuss cho biết, hầu hết đều đồng ý: muốn cạnh tranh với TQ, Hoa Kỳ phải chấp nhận một số chính sách kỹ nghệ rõ ràng, đầu tư vào hạ tầng cơ sở, tạo công ăn việc làm, giáo dục và huấn nghệ, kỹ nghệ chế biến công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển, đặc biệt là trong kỹ thuật xanh.

Theo Schell, ưu tiên hàng đầu là củng cố nội bộ. Nhưng ngay cả về điểm nầy, các  nhà hoạt động cánh tả cũng ghi nhận nhiều ý kiến bất đồng, bởi lẽ: thật khó lòng đề xướng một chính sách kỹ nghệ của Hoa Kỳ – đánh thuế giới nhà giàu, trợ cấp các kỹ nghệ cốt lỏi, chi tiêu nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng và huấn nghệ – mà không cùng lúc đề cập vấn đề ý thức hệ tân bảo thủ áp đảo về toàn cầu hóa và mậu dịch tự do, và điều đó gồm cả vấn đề TQ. Thực vậy, người ta không thể nói đến một chính sách kỹ nghệ quốc nội mà không đề cập đến chế độ mậu dịch.

Đối với nhiều người trong phong trào lao động Mỹ, không ai nghi ngờ TQ là một đe dọa trầm trọng, ít ra, đối với công ăn việc làm và sự phồn vinh của người Mỹ.

Tại trụ sở AFL-CIO, Viện Chính Sách Kinh TếEPI [15] Liên Minh Kỹ Nghệ Chế Biến Hoa KỳAAM[16], một dự án được nghiệp đoàn United Steelworkers ủng hộ, trong phúc trình về TQ, đã ghi nhận: Đó là một cường quốc hù dọa, trọng thương, cạnh tranh bất chính với các nước khác bằng cách nhào nặn giá trị đơn vị tiền tệ, đàn áp giới lao động, chà đạp các chuẩn mực môi sinh, và bóc lột thế hệ nhân công du cư để sản xuất hàng xuất khẩu rẽ tiền…Phúc trình còn cho biết: TQ lợi dụng sự hăm hở của các công ty đa quốc gia đang nôn nóng xây dựng những cơ xưởng ít bị giám sát trong những khu kỹ nghệ ven biễn Nam TQ, đồng thời bắt chẹt các công ty nầy san sẻ bí quyết thương mãi và kỷ thuật như cái giá phải trả để được phép kinh doanh. Đó là một sự lên án bao quát, và giải pháp đề nghị là một hổn hợp các thuế quan mang tính trừng phạt – lối 25% cho nhiều loại sản phẩm nhập khẩu từ TQ – cùng với các chế tài và biện pháp buộc TQ phải tái định giá đồng nhân dân tệ lên 40% hay cao hơn.

Nhóm nầy không tin sẽ có đụng độ hay chiến tranh thương mãi với TQ, và trong thực tế, họ nhấn mạnh nếu Hoa Kỳ đợi càng lâu trước khi trực tiếp đương đầu với  TQ, vấn đề sẽ ngày một khó khăn thêm.

Kuttner nói: “Tôi có thể nói với người TQ, ‘chúng tôi sẽ không cho phép tự do tiếp cận hàng TQ, chừng nào quý vị còn lấy trộm kỷ thuật, đòi hỏi các công ty Mỹ chỉ có thể sản xuất hàng hóa ở TQ để xuất khẩu và không để bán trên thị trường TQ, đòi hỏi các thỏa ước chuyển giao công nghệ mang tính cưởng ép, và nhào nặn giá trị đơn vị tiền tệ của quý vị’. Lúc đó mỡ đã ở trên lữa, và người TQ sẽ phải quyết định họ sẽ làm được gì trong tình trạng đó. Điều nầy rất có thể đưa đến xung đột. Nếu chúng ta có phản ứng cứng rắn đối với chủ nghĩa trọng thương của TQ, điều đó có thể trở nên rất tồi tệ, khả ố trong ngắn hạn”[17].

Robert Scott, kinh tế gia của EPI – tác giã một nghiên cứu xuất bản trong tháng 3-2010 – đã kết luận, trong khoảng 2001- 2008, gần 2,5 triệu việc làm của Mỹ đã thất thoát qua TQ, kể cả hơn 600.000 chỉ riêng trong ngành vi tính và điện tử. Giống như nhiều người trong quỹ đạo AFL-CIO, Scott đứng trên lập trường quốc gia để bảo vệ các biện pháp tái lập quân bình cân thương mãi Hoa Kỳ-Trung Quốc hiện đang khuy khiếm. Trong cuộc phỏng vấn tại trụ sở, Scott tuyên bố, “Chính quyền Hoa Kỳ có trách nhiệm đối với công nhân Mỹ, phải khai triển các chính sách trong quyền lợi quốc gia của chúng ta”[18].

Khi có người nêu rõ trong ba thập kỷ vừa qua TQ đã giải phóng hàng trăm triệu người khỏi nghèo đói, và thái độ của Scott có thể bị một số người xem như bài ngoại. Scott gật đầu đồng ý: “Đúng. Tôi xem công việc của tôi là phải quan tâm đến mực sống của công nhân Mỹ”[19]. Và ông nhấn mạnh chỉ động thái đe dọa đóng cữa thị trường Hoa Kỳ đối với hàng nhập khẩu từ TQ mới mong đủ sức thuyết phục Bắc Kinh phải lưu ý. 

Người ta có thể dễ dàng kết luận sự thành công cuả TQ trong chương trình xóa đói giảm nghèo cho trên dưới 400 triệu người là sự kiện quan trọng nhất trên thế giới trong 1/4 thế kỷ vừa qua. Đã hẳn, phần lớn tăng trưởng của TQ từ cuối thập kỷ 1970s đã được trả giá với ô nhiễm môi trường và điều kiện lao động tồi tệ của nhân công.

Nhưng những người chủ trương cần có lập trường cứng rắn đối với TQ chối bỏ hiện tượng cải thiện lớn lao trong mực sống ở TQ hay nghi ngờ sự hiện hữu của hiện tượng nầy. Họ lập luận TQ đã thành đạt tăng trưởng kỷ lục đáng kinh ngạc, trung bình khoảng 10% /năm kể từ 1979, qua sự bóc lột giai cấp công nhân, với rất ít hay không có lợi ích vật chất dành cho người dân bình thường.

Scott Paul – giám đốc sáng lập Liên Minh AAM, nhà vận động hành lang cho  giới lao động và nguyên trợ tá cho David Bonio, nguyên dân biểu Michigan –  lập luận: công nhân TQ thường không được thù đáp tương xứng và lao động trong môi trường thiếu an toàn. Qua áp lực buộc TQ tái định giá đồng nhân dân tệ, theo Paul và phe nhóm, Hoa Kỳ có thể buộc TQ phải tăng lương và cải thiện mức tiêu thụ và đời sống của giới lao động. Scott Paul nói tiếp:”Điều nầy sẽ cho phép người TQ hưởng thụ thành quả của tăng trưởng kinh tế”[20].

Thea Lee, phụ tá giám đốc chính sách công AFL-CIO, cũng không sẵn sàng công nhận sự tăng trưởng ở TQ mang lại lợi ích lớn lao cho người dân. Lee, một phụ nữ gốc Hoa, rất am tường chính sách TQ của Hoa Kỳ, một chính sách, theo bà, quá thỏa hiệp và chịu ảnh hưởng các công ty Mỹ đang có quyền lợi làm ăn ở TQ. Lee nói: “Tôi không gọi tình trạng nầy là một thành công đối với dân lao động. Đây là một ô nhục. Hệ thống điều hành tương tự một Miền Tây Man Rợ, và chẳng ai quan tâm. Các bạn chứng kiến các tai họa: tàn phá môi trường dài hạn,  lao động vị thành niên, lao động cưởng bách, lạm dụng sức khỏe công nhân”[21]. Đối với ACFTU, với gần 200 triệu đoàn viên, giống như Fiedler, Lee nói: “Chúng tôi không công nhận ACFTU như một công đoàn thực sự. Tôi xem họ như chính quyền. Họ là giới quản trị”[22].

Ngay cả các viên chức và các nhà hoạt động bên trong phong trào lao động và  đồng minh của họ cũng kêu gọi đối đầu với những gì họ xem như những xảo thuật mậu dịch cướp đoạt của TQ, đôi khi họ dùng cả ngôn từ thời chiến tranh lạnh. Chẳng hạn, Paul của AAM cũng bày tỏ sự quan ngại sâu xa trước các nổ lực tăng cường quân lực của TQ. Paul đặt câu hỏi: “Thặng dư mậu dịch đang được TQ sử dụng để tăng cường quân lực. Họ muốn tăng cường hải quân trong vùng Thái Bình Dương, phát triển vũ khí hạt nhân tiền tiến, các vũ khí hủy diệt vệ tinh. Những việc đó nói lên điều gì về hòa bình? Mục tiêu họ theo đuổi là sự hiện diện trong vùng duyên hải Thái Bình Dương và thách thức bá quyền của Hoa Kỳ trên Thái Bình Dương. Điều đó mang nhiều ẩn ý lớn lao”[23]. Và trên danh sách những bước cần thiết để chứng tỏ với TQ – Hoa Kỳ đang xử sự rất nghiêm chỉnh, Fiedler liệt kê: giảm tốc độ hay ngưng các quan hệ quân sự Hoa Kỳ-TQ và hạn chế tối đa số du học sinh TQ đến Mỹ. Fiedler còn dùng cả từ “phát xít” khi nói về TQ, và còn nói thêm: “Tôi còn muốn tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan”[24].

Đã hẳn,  cũng có một số người có quan điểm trái ngược. Thực vậy, vài người lập luận, tìm cách thu hút việc làm từ TQ trở về Mỹ là việc làm thiếu thực tế, và trong mọi trường hợp, Hoa Kỳ cũng phải dành không gian cho Bắc Kinh trổi dậy như một đại cường. Đối với những nhà phân tích nầy, những luận điệu tăng cường phản ứng quân sự của Mỹ đối với TQ là điều thật sự rất đáng lo ngại.

Chẳng hạn, James Galbraith, kinh tế gia “dị giáo hay phi chính thống” và giáo sư Đại Học Texas, nhân vật thuộc phe tự do nhưng không được giới lao động và đồng minh ưa thích,  thường chỉ trích nghiêm khắc những ai nghĩ có thể khuyến dụ và thu hút việc làm từ TQ qua một phối hợp các chiến thuật gây sức ép. Những nhân vật như Galbraith thường bị gạt bỏ một cách thô lỗ và động lực của họ bị nghi ngờ. Galbraith đại diện cho một quan điểm hoàn toàn trái ngược với các tổ chức AFL-CIO/EPI/AAM, và quan điểm của ông được chia sẻ bởi những nhân vật như Joseph Stiglitz ở Đại Học Columbia, Alice Amsden ở MIT, và nhiều người khác.

Galbraith gạt bỏ luận cứ tăng trưởng kinh tế ở TQ đã không đem lại  lợi ích vật chất  lớn lao cho hàng trăm triệu người trong một thời gian ngắn. Rõ ràng là một thế hệ quần chúng đông đảo đã thoát khỏi nghèo đói – với một cuộc sống mới, họ hiểu rất rõ, tốt hơn trước rất nhiều. Ông lập luận, một số lớn những sản phẩm biến chế ở  TQ đã được sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường quốc nội, công xá và điều kiện làm việc được cải thiện, nhất là trong khu vực xuất khẩu, và ép buộc TQ tái định giá trị đơn vị tiền tệ ở một mức cao sẽ chẳng ảnh hưởng gì đến việc tạo công ăn việc làm ở Mỹ.

Một luận cứ chính yếu trong giới viên chức lao động và đồng minh của họ là không những giữ hối suất đơn vị tiền tệ ở mức thấp, TQ đồng thời cũng kìm hảm mức tiêu thụ quốc nội quá khe khắt. Và, họ lập luận, tỉ suất tiết kiệm ở TQ cao nhất thế giới, trên 40% hàng năm – so với Hoa Kỳ luôn lên xuống trong khoảng từ số không đến 5% mỗi năm – chỉ đạt được bằng cách dìm nén mức sống của 1,3 tỉ dân. Vì vậy, theo họ, khi buộc TQ tái định tỉ suất hối đoái đơn vị tiền tệ ở một mức cao và lèo lái tài hóa trở lại thị trường nội địa, họ chỉ làm những gì tốt nhất cho TQ – và đồng thời giúp tạo thêm nhu cầu của người Hoa đối với hàng hóa Mỹ.

Galbraith diễu cợt ý tưởng người Mỹ biết những gì tốt cho TQ hơn là người TQ. Ông nói: “Ý niệm TQ có thể gia tăng tiêu thụ quốc nội một cách nào đó có lợi cho công nhân Mỹ về phương diện vật chất là điều không hợp lý. Trước hết, tiêu thụ ở TQ đã gia tăng nhanh chóng trong nhiều thập kỷ. Thứ hai, nâng cao mức tiêu thụ hơn nữa có ý nghĩa gì? Phải chăng có thêm nhiều xe hơi và ít đường sá để lái xe đi lại? Từ quan điểm phát triển, điều nầy không có ý nghĩa gì hết. Tại sao người TQ nên giảm tốc độ xây cất hạ tầng cơ sở tương đối với việc tăng sức mua tiêu thụ phẩm? Tại sao họ nên xây ít nhà máy phát điện hơn và mua thêm máy móc để gây nạn thiếu điện?”[25].

Giống như Galbraith, một vài người – nghi ngờ lập trường chống TQ không lay chuyển của giới lao động –  không e ngại lên án những người to tiếng chỉ trích TQ là bài ngoại, phân biệt chủng tộc, là gieo rắc ý niệm Họa Da VàngYellow Peril-style alarmism, một đồng vọng của chiến dịch gây hoang mang về một đe dọa tưởng tượng đối với sự thịnh vượng và công ăn việc làm ở Hoa Kỳ của người Nhật hai thập kỷ trước đây.

Các nhà phân tích cấp tiến, chỉ trích chính sách chống TQ của AFL-CIO, thường đưa ra hai luận cứ: TQ xứng đáng được tán thưởng về thành tích và uy tín đã giúp hàng trăm triệu người tiếp cận một đời sống thành thị phồn vinh, và Hoa Kỳ đã thực sự sai lầm khi xúc phạm TQ với mục đích đánh lạc hướng công luận về lịch sử lãnh đạo kinh tế sai lầm của chính mình trong nhiều thập kỷ.

Feffer của IPS nói: “Chúng ta đang bàn về một xứ có tiềm năng liên tục giải phóng một số dân khổng lồ khỏi nghèo đói. Tôi không nghĩ quốc gia liên hệ có thể làm được việc nầy bằng cách cạnh tranh ‘công bằng’ theo đúng quy luật của chính sách quốc tế”[26]. So với công nhân ở TQ, chưa nói gì đến thợ thuyền trong các nhà máy sắt thép ở Nigeria hay nhân công may mặc ở Ba Tây, công nhân Hoa Kỳ tương đối khá giả hơn nhiều.

Theo Doug Henwood, biên tập viên nhà xuất bản Left Business Observer, ” luận bàn về Họa Da Vàng đã có từ lâu ở Hoa Kỳ, và khá nhiều luận bàn dễ dàng hòa nhập vào  loại nầy . Vâng, họ rất cạnh tranh, nhưng …lịch sử ‘Họa Da Vàng’ làm cho đề tài đầy vẻ tai họa và độc địa. Chỉ trích TQ luôn dễ dàng hơn là nhìn xem những gì sai trái với Hoa Kỳ. Đây là một thứ quốc gia chủ nghĩa quá gần gũi với bài ngoại,  đã thêm dầu vào lữa, và các thành phần mị dân cánh tả cũng như cánh hữu đều dễ đồng tình trong tâm thức không ưa thích TQ”[27].

Khuynh hướng nầy càng đáng tiếc hơn vì đã tăng cường  luận điệu hiếu chiến từ cánh hữu. Trong nhiều năm gần đây, Ngũ Giác Đài luôn phổ biến những cảnh báo ngày một nghiêm trọng hơn về sự trổi dậy của TQ như một thách thức chiến lược đối với Hoa Kỳ, và kể từ khi chiến tranh lạnh chấm dứt, phái tân bảo thủ và cánh ủng hộ giới quân sự hữu phái đã dùng ‘bóng ma TQ để hù dọa’ khả dĩ lấp lỗ hổng “hội chứng thiếu kẻ thù”(enemy deprivation syndrome), như Charles Freeman, một quan chức ngoại giao cao cấp nói được tiếng Quang Thoại, trước đây thích gọi.

Selig Harrison, một nhà báo và giám đốc Chương Trình Á Châu thuộc Trung Tâm Chính Sách Quốc Tế – CIP [28], đã gợi ý: giới cấp tiến cần làm quen với ý niệm quyền lợi quốc gia chính đáng của TQ trong khu vực. Harrison nói: “Ý tưởng chúng ta nên chấp nhận quyền lợi của TQ trong vùng Đông Á, theo tôi nghĩ, phải được phe tự do sẵn sàng đón nhận. Thực tế TQ sắp có một hải quân có tầm với dài, sẽ là một siêu cường, giống như Ấn Độ, và Hoa Kỳ phải tự điều chỉnh”[29].

Nhưng nước Mỹ đã không tự điều chỉnh tốt và kịp thời. Thật khó lòng tưởng tượng một chính trị gia Mỹ bênh vực lập trường: Hoa Thịnh Đốn nên rút khỏi hiện tình dàn trải quá mỏng ở Á châu và Thái Bình Dương hoặc nhường chỗ cho một sự hiện diện rộng lớn của TQ.

Mới đây, trong mùa hè vừa qua, chính quyền Obama đã đặt viên gạch đầu tiên xây Bức Trường Thành Ngăn Bờ chung quanh TQ, qua động thái hàn gắn quan hệ với  lực lượng đặc biệt tàn bạo của Indonesia, và tham gia vào hàng ngũ chống đối TQ trong vụ tranh giành có tiềm năng nguy hiểm khi TQ đòi chủ quyền một chuổi các hải đảo trong khu vực Biển Đông.  Michael Klare – tác giả cuốn Các Cường Quốc Đang Lên , Hành Tinh Co Rút – Rising Powers, Shrinking Planet – nói: “Thật là một tai họa khi giới cấp tiến cung cấp cỏ khô cho mồi lữa tập đoàn quân-sự-kỹ-nghệ qua việc bêu xấu hay chụp mũ TQ. Nhiều nhóm  lợi ích hùng mạnh ở Hoa Thịnh Đốn muốn xô đẩy chúng ta vào con đường xung đột”[30].

Vấn đề Đài Loan là một điểm nóng đặc biệt, và nếu quan hệ giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn tuột dốc, một đại họa giữa hai cường quốc nguyên tử rất dễ xẩy ra vì hải đảo nầy. Theo Harrison, sự chấm dứt hậu thuẩn quân sự cho Đài Loan phải là khởi điểm cho mọi nổ lực cải thiện quan hệ Hoa Kỳ-TQ, kể cả quan hệ kinh tế. Harrison nói: “Chúng ta sẽ không bao giờ có thể buộc TQ ứng xử phải chăng trên bình diện kinh tế, về các vấn đề then chốt như tỉ suất hối đoái và lập trường tương lai về việc nắm giữ các trái phiếu ngân khố của chúng ta, nếu chúng ta tiếp tục gây rối về vấn đề Đài Loan”[31].

Lập trường của chúng ta đối với TQ một phần tùy thuộc vào thái độ: liệu chúng ta có đủ niềm tin TQ có thể chuyển biến từ một hệ thống độc tài qua một hệ thống tự do, dân chủ hơn, và nếu vậy, phải chờ đợi bao lâu?

Thánh kinh của những kẻ tin TQ sẽ không thay đổi là tác phẩm 2007 của James Mann, “The China Fantasy” (Trung Quốc Hoang tưởng). Nguyên phóng viên báo Los Angeles Times và hiện công tác ở Johns Hopkins School for Advanced International Studies,  Mann lập luận: TQ rất có thể không tan rã hay dân chủ hóa. Thay vào đó, rất có thể sau nhiều thập kỷ, TQ sẽ cực giàu và không dân chủ, và những ai tin ở khả năng dân chủ hóa của TQ là hết sức sai lầm. Mann nói, TQ “vẫn còn là một chế độ Leninist, do Đảng Cộng Sản lãnh đạo theo những vòng tròn cấp bậc từ dưới lên, với một Ủy Ban Trung Ương Đảng, một Bộ Chính Trị, và một Ủy Ban Thường Vụ của Bộ Chính Trị”.

Đã hẳn trong những thập kỷ sắp tới, hệ thống chính trị TQ có thể có nhiều lựa chọn  đường hướng thay đổi.Tuy nhiên, nếu có thay đổi, động lực thúc đẩy chắc sẽ đến từ tầng lớp lao động; và gần đây, đã có nhiều dấu hiệu giới công nhân đã bắt đầu chứng tỏ thực lực của chính mình. Trong những năm vừa qua, họ đã phô trương một chuổi các hành động ngày một tăng tốc, đình công và phản kháng, với cao điểm khi báo chí đưa tin các xưởng lắp ráp Honda đã phải đóng cửa trong tháng 5-2010.

Và trái với nhiều người quen nhìn TQ theo nhãn quan trắng đen rõ rệt –  một tầng lớp lao động bị một chế độ thuần nhất và một công đoàn tay chân, ACFTU, áp bức – những động thái  gần đây của giới lao động đã phơi bày một hình ảnh với nhiều sắc thái tế nhị khác xa. Ít nhất, làn sóng đình công gần đây là dấu hiệu tất cả các tay chơi  – công nhân, chính quyền cấp tỉnh và địa phương, ACFTU, chế độ ở Bắc Kinh – đang công diễn một vũ điệu phức tạp. Đáng ngạc nhiên nhất là trong nhiều nơi ở TQ, công nhân, chính quyền trung ương và nhà cầm quyền cấp tỉnh, khá sáng suốt, đã đoàn kết nhất trí trong nổ lực tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc.

Theo Geoffrey Crothall, người phát ngôn của China Labour Bulletin (CLB), một nhóm các nhà hoạt động lao động ở Hong Kong, “hơn 20 tỉnh đã thể hiện tăng lương tối thiểu khoảng 20%. Sau khi đình công xẩy ra , nhiều chính quyền địa phương đã can thiệp và tìm cách giúp giới quản trị và công nhân thương thảo”[32]. Crothall nói, rõ ràng chính quyền trung ương muốn tăng lương và góp phần vào ổn định xã hội. Và cũng có nhiều yếu tố khác giúp nâng cao lương bổng: chẳng hạn, TQ đang cần một lực lượng lao động với chất lượng và kỷ năng cao khi đang chuyển qua giai đoạn biến chế các sản phẩm cao cấp, trong lúc sớm có dấu hiệu khan hiếm nhân công lao động vì tăng trưởng dân số thấp , chính sách một con và sự kiện nhiều triệu dân đã rời nông thôn ra thành thị tìm việc làm trong các xưởng máy. ACFTU, từ lâu được xem như tổ chức bảo vệ Đảng và một công đoàn với đặc trưng TQ, hiện đang bị áp lực phải thay đổi từ dưới lên bởi các công nhân đình công và từ trên xuống bởi chính quyền trung ương ở Bắc Kinh.

Crothall  là người thành lập nghiệp đoàn độc lập đầu tiên của TQ trong thời gian biến động ở Quảng Trường Thiên An Môn năm 1989. Ông nhắc lại tình hình sôi động ở Quảng Đông, nơi tọa lạc của hầu hết các cơ sở biến chế quan trọng nhất của TQ. Ông nói, “ACFTU hiện đang tiến hóa và không phải một khối nhất trí. Đó là một định chế của chính quyền. Tuy nhiên, ở Quảng Đông, công đoàn khá cấp tiến và thực tiển. Và cũng ở Quảng Đông, theo CLB, chính quyền tỉnh đang thử nghiệm nhiều quy luật mới có thể dành cho công nhân quyền thương nghị tập thể”.

Chính vì vậy, những nổ lực của Andy Stern ở TQ, mặc dù thường mang tính chỉ trích, hình như rất được trân quý. Stern nói: “Tôi không nhất trí với lời kêu gọi của Glenn Beck, ‘Công nhân toàn thế giới hãy đoàn kết lại!’. Đây không chỉ là một  chiêu bài”[33]. Stern còn thêm, đây là điều thực sự quan trọng khi công nhân Hoa Kỳ và công nhân TQ xem nhau như đồng minh. Stern lập luận: những nổ lực của những người như ông có thể giúp ACFTU chuyển hướng mang tính đại diện nhiều hơn của hàng trăm triệu đoàn viên. Stern cũng nói: “Hiện có một tiến hóa lớn lao đang tiếp diễn. Và đối với tôi, vấn đề là: Cuối cùng công đoàn sẽ đi đến đâu, không phải đã khởi hành từ đâu”[34]. Giống như Crothall, Stern nhấn mạnh không phải chỉ công nhân mới muốn ACFTU thay đổi phương thức hoạt động, “chính quyền cũng đang thúc đẩy các công đoàn phải chuyển hóa”[35].

Katie Quan – một lãnh tụ nghiệp đoàn trước đây và hiện là phó chủ tịch Trung Tâm Lao Động, Đại Học California, Berkeley[36] – hậu thuẩn cho nổ lực của Stern nhằm đối thoại với ACFTU. Bà nói: “Chính sách tẩy chay TQ của AFL-CIO, và không muốn dính dáng gì đến TQ, đã chỉ khiến giai cấp lao động tụt hậu”[37]. Katie Quan đề nghị một cách tiếp cận ba mặt đối với TQ và ACFTU: đối thoại giữa nghiệp đoàn và nghiệp đoàn, trao đổi giữa công nhân và công nhân, và thảo luận giữa các học giả. Trong những năm gần đây, theo bà, TQ đã có nhiều thay đổi lớn lao trong chính sách lao động, khởi đầu với pháp chế  lao động về hợp đồng, ban hành vào tháng 1-2008. Những đổi thay nầy đã giúp công nhân ý thức đầy đủ quyền lợi của mình và trong thực tế đã giúp khởi động các cuộc đình công bột phát. Và nhiều cải cách tương lai đang được xúc tiến, kể cả pháp chế thương lượng hay mặc cả tập thể.

Một phúc trình gần đây của CLB, “Tự Quyết Định: Phong Trào Công Nhân Ở Trung Quốc, 2007-2008”[38], đã kết luận: bất kể lịch sử ACFTU ra sao, không thể có biện pháp thay thế nhằm tìm cách tái định hình liên hiệp nghiệp đoàn. Phúc trình nêu rõ: “Điều thiết yếu là quyền tổ chức chính thức của ACFTU một cách nào đó phải được hội nhập với sức mạnh và hậu thuẩn của công nhân. Cả hai phía sẽ phải tìm cách đến với nhau”[39].

Đã hẳn, chúng ta có lý do để tìm hiểu những đổi thay đó có đến đủ nhanh hay không. Ralph Nader – người đã đem lại cảm hứng cho một thế hệ các nhà hoạt động đòi hỏi công bình toàn cầu và cũng là người nhiều năm vận động chống lại chế độ mậu dịch chi phối bởi các quy luật do các đại ngân hàng và các đại công ty áp đặt – chủ trương đối đầu với TQ và các xứ xuất khẩu có phí lao động thấp, như Ấn Độ, với một thứ quan thuế xã hội được thiết kế nhằm trung hòa hóa tình trạng thiếu quyền mặc cả tập thể, mức lương tối thiểu tương đối phải chăng, và sự thiếu vắng các quy luật đứng đắn. Nader công nhận cuối cùng rồi TQ cũng có thể thay đổi, nhất là phong trào canh tân đã dẫn đến tình trạng công nhân đòi hỏi quyền lợi nhiều hơn và tầng lớp trung lưu tăng thêm áp lực đòi hỏi phát huy dân chủ. Nhưng Nader không sẵn sàng nhẫn nại. Ông nói: “Nếu chúng ta đợi đủ lâu, chừng 35 năm sau, mức lương và điều kiện làm việc và những thứ đó có thể lên bằng nhau. Nhưng trong lúc giao thời,  hãy nhìn các cộng đồng rổng ruột ở Hoa Kỳ”[40].

Tuy nhiên, cuối cùng Hoa Kỳ cũng chẳng làm được gì nhiều để thay đổi lộ trình hay quỹ đạo của TQ. Rất ít, nếu có, các biện pháp kinh tế đã được đề nghị, có thể buộc TQ phải thay đổi. Những biện pháp nầy chẳng những thiếu hữu hiệu, mà còn phản tác dụng, gây đổ vỡ lớn hơn cho Hoa Kỳ.

Henwood từ Left Business Observer nói: “Bất cứ biện pháp cứng rắn nào đối với TQ cũng đem lại phản tác dụng tai hại cho chính chúng ta”[41]. Nếu chiến tranh thương mãi xảy ra, TQ có thể, trong nhiều lựa chọn, dùng số mỹ kim dự trữ và các công khố phiếu của Hoa Kỳ như một thứ khí giới, và có thể nhập khẩu hàng từ nhiều xứ khác hơn là Hoa Kỳ.

Sophie Richardson của Human Rights Watch nói, Hoa Kỳ phải đặt nặng vấn đề dân chủ hóa và nhân quyền hơn nữa trong nghị trình, ngay cả trong các cuộc họp về các đề tài khác , không phải e ngại làm phật  lòng TQ: “Có rất nhiều cách để diễn đạt các đòi hỏi ấy trong các phiên họp giữa hai quốc gia mà không phải quá nặng lời giữa cuộc họp”[42]. Cho đến nay, T T Obama hình như luôn tránh né không nhắc đến vấn đề nhân quyền.

Hoa Kỳ có thể có rất ít lựa chọn , ngoài việc phải làm quen với sự kiện: TQ sẽ tự mình chuyển hóa. Dù vậy, Hoa Kỳ vẫn có thể dùng sự thách thức của TQ để nhanh chóng thay đổi phương thức làm việc trong quốc nội. Orville Schell nói: “Đây không phải chỉ là sự kiện TQ trổi dậy như một địa chấn, nhưng chính sự sụp đổ tài chánh, kinh tế và văn hóa của chính chúng ta đã là nguyên nhân còn đáng kinh ngạc hơn. Chúng ta cần tìm cách để thích nghi với TQ, và để gây ảnh hưởng với TQ. Và đây không phải một kết luận tất yếu là vấn đề sẽ dễ dàng, hay ngay cả hòa dịu”[43].

QUAN HỆ HOA KỲ-TRUNG QUỐC: HỢP TÁC VÀ THÙ NGHỊCH

Chính quyền Obama, trong quan hệ đối nghịch với TQ về tỉ giá hối đoái, mậu dịch, và an ninh, đã trở nên ngày một cứng rắn hơn trong phương cách tiếp cận với Bắc Kinh. Hoa Thịnh Đốn hiện đang tìm kiếm đồng minh để đối đầu với siêu cường đang lên và đang tự khẳng định, cũng như chẳng mấy sẵn sàng hợp tác với Hoa Kỳ.

Trong một thay đổi từ quá trình ve vản tay đôi kiên trì, Obama đang cố gắng vận động thành lập những liên minh – trong số các đồng minh và đối tác thương mãi xa gần – với lập trường thống nhất đối với TQ về các vấn đề gai gốc như tỉ giá hối đoái và tranh giành chủ quyền trên các hải đảo trong vùng Biển Đông.

Những lợi điểm và giới hạn của cách tiếp cận mới nầy đã phơi bày rõ nét trong phiên họp giữa các nền kinh tế lớn nhất ở Hàn Quốc tuần trước. Hoa Kỳ đã giành   được sự ủng hộ về một cam kết giảm thiểu các mất quân bình mậu dịch, một cam kết giúp tăng cường sức ép đối với TQ trong vấn đề tái định giá đồng nhân dân tệ với một tỉ suất cao hơn.

Tuy nhiên, Đức, Ý và Liên Bang Nga chống lại đề nghị của Hoa Kỳ ấn định những giới hạn bằng con số (numerical limits) trên số mất quân bình, một động thái lẽ ra đã có thể cô lập hóa Bắc Kinh nhiều hơn nữa. Điều nầy đã buộc bộ trưởng Ngân Khố, Timothy F. Geithner, trên đường về từ Nam Hàn, phút chót đã phải dừng chân,  không dự liệu trước, ở TQ, để thảo luận với quan chức tài chánh cao cấp Zhang Guobao về tình hình lúc một căng thẳng liên quan đến vấn đề tỉ giá hối đoái.

Các quan chức chính quyền đã tiết lộ trình độ mất tin tưởng đáng lo ngại giữa TQ và Hoa Kỳ trong hai năm qua, buộc họ phải giảm thiểu hy vọng hợp tác với TQ trong nổ lực đối phó với những thách thức quan trọng như biến đổi khí hậu, cấm phổ biến vũ khí hạt nhân, và một trật tự kinh tế toàn cầu mới.

Một nguyên nhân căng thẳng mới là TQ vừa quyết định ngưng chuyển tải số khoáng sản đất-quí-hiếm xuất khẩu qua Hoa Kỳ: “neodymium” cần thiết trong việc sản xuất hỏa tiễn điều khiển từ xa, các turbines gió, xe hơi chạy bằng xăng và điện, Apple iPhones…; hay “lanthanum” cần cho các máy xúc tác, catalytic converters, làm sạch hệ thống thoát hơi trong xe chạy bằng xăng dầu… Các quan chức Hoa Thịnh Đốn đang âu lo – tự hỏi động lực bên sau động thái nầy mang tính chiến lược hay kinh tế. Tuy nhiên, tin tức mới nhất (29-10-2010) cho biết, TQ đã cho phép tái tục việc chuyển tải trước ngày ngoại trưởng Clinton đến Bắc Kinh.

Theo David Shambaugh, giám đốc chương trình Chính Sách TQ tại Đại Học George Washington, “chính quyền Obama bắt đầu nhiệm kỳ với một ý tưởng quan yếu: biến đổi TQ thành một đối tác toàn cầu cùng chung sức đối phó với các thách thức toàn cầu. TQ đã từ chối bước tới và đảm nhận vai trò của mình. Nay họ hiểu,  họ đang đối mặt với một xứ ngày một nhỏ nhen, ích kỷ, hung hăng, quốc gia cực đoan và hùng cường”[44].

Để chống lại điều Hoa Thịnh Đốn xem như sự trổi dậy của chủ nghĩa thủ thắng TQ[45], Hoa Kỳ đang cố gắng vực dậy các đồng minh thời chiến tranh lạnh, như Nhật và Nam Hàn, và tăng cường sự hiện diện  của mình ở vài nơi khác ở Á châu. Trong tuần nầy, ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton sẽ viếng thăm Việt Nam lần thứ hai trong vòng 4 tháng, để tham dự hội nghị thượng đỉnh Đông Á, rất có thể với các đề tài lấn át  liên quan TQ.

Hiện T T Obama đang công du Á châu đến Nhật, Indonesia, Ấn và Nam Hàn, và bỏ qua TQ. Hành trình, trên nguyên tắc, không mang ý nghĩa một động thái nhằm làm mất mặt TQ. Trước đây, T T Obama đã một lần công du đến Bắc Kinh, và chuyến viếng thăm Indonesia cũng đã bị trì hoản khá lâu. Nhưng tính tượng trưng của hành trình vẫn lẩn quất trong đầu óc các quan chức Hoa Thịnh Đốn.

Jeffrey A. Bader, cố vấn cao cấp về chính sách TQ tại tòa Bạch Ốc, cho biết, sự kiện TQ khẳng định quyền lực của mình đã trở thành đặc biệt rõ nét tiếp theo sau khủng hoảng kinh tế 2008, một phần vì sự hồi phục chóng vánh của Bắc Kinh đã đưa đến phán xét khá phổ biến: Hoa Kỳ là một siêu cường đang tuột dốc và TQ một siêu cường đang lên.

Nhưng Bader nói tiếp, chính quyền Obama cương quyết trung hòa hóa ấn tượng nầy qua nổ lực tái khẳng định vai trò lãnh đạo của Mỹ.

Các yếu tố chính trị quốc nội cũng đã góp phần vào lập trường cứng rắn của chính quyền Obama. Với kinh tế còn khập khiểng và tỉ lệ thất nghiệp cao ở Mỹ, Bắc kinh đã trở thành mục tiêu trong mọi trạng huống. Trong mùa bầu cử Quốc Hội giữa kỳ, ứng viên, ít ra trong 30 đơn vị bầu cử, đã cảnh báo: TQ là một đe dọa đối với công ăn việc làm của người Mỹ.

Vào một thời điểm Quốc Hội bị tê liệt vì chính trị đảng phái, nỗi ấm ức về việc nhào nặn giá trị đồng nhân dân tệ của TQ đã trở thành một trong số ít đề mục giành được đồng thuận lưỡng đảng.  Trình độ đồng thuận đã lên đỉnh điểm trong tháng 9-2010  khi đa số dân biểu Hạ Viện đã bỏ phiếu đe dọa áp đặt thuế quan lên hàng xuất khẩu TQ, nếu Bắc Kinh không cho phép đồng nhân dân tệ tăng giá theo luật cung cầu trên thị trường.

Điều rắc rối là chính trị nội bộ TQ đã đặt Bắc Kinh vào vị thế không thể làm gì khác. Với đảng Cộng Sản đang trong quá trình chuyển tiếp từ Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào qua người kế nhiệm chuẩn bị từ trước, Xi Jinping, cấp lãnh đạo TQ luôn cảnh giác đối với mọi đổi thay có thể phương hại đến tỉ suất tăng trưởng kinh tế.

Ngoài ra, tình trạng chia rẽ giữa các lãnh đạo dân sự TQ và các thành phần lãnh đạo trong Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân đang ngày một sâu sắc. Nhiều sĩ quan TQ giữ thái độ công khai thù nghịch đối với Hoa Kỳ, vì họ  tin chắc những cuộc tập trận của Hải  Quân Mỹ gần đây trong vùng Hoàng Hải là một phần trong chính sách bao vây TQ.

Ngay cả nổ lực của chính quyền Hoa Kỳ hợp tác với TQ trong vấn đề biến đổi khí hậu và cấm phổ biến vũ khí hạt nhân cũng đã bị một số lãnh đạo ở Bắc Kinh nghi ngờ.

Các phụ tá của T T Obama, đa số là cựu quan chức dưới thời T T Clinton, đều hiểu rõ: trong quan hệ kinh tế, người ta luôn thấy có nhiều bước chiến thuật cận kề vực thẳm (brinkmanship), hàm ngụ gay cấn nhiều hơn trong thực tế.

Tuy nhiên, Tòa Bạch Ốc cũng có đủ lý do để quan ngại, và vì vậy, trong tháng 9-2010, đã gửi một phái đoàn cao cấp đến Bắc Kinh, gồm cả Bader, Lawrence H. Summers – nguyên giám đốc Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia, và Thomas E. Donilon, người vừa được cử giữ chức vụ cố vấn an ninh quốc gia.

Summers nói: “Chúng tôi rất ấn tượng với thái độ nghiêm chỉnh họ chia sẻ sự cam kết của chúng tôi về phương cách xử lý các dị biệt và công nhận hai quốc gia chúng tôi sẽ có tác động rất lớn trên kinh tế toàn cầu”[46].

Ngay trước cuộc họp mặt, TQ đã bắt đầu cho phép đồng nhân dân tệ tăng giá với một tỉ suất ít nhiều nhanh hơn, mặc dù tổng giá trị gia tăng, kể từ khi Bắc Kinh loan báo trong tháng 6-2010 họ sẽ buông lỏng các biện pháp kiểm soát hối đoái, vẫn chưa đến 3%. Các kinh tế gia ước tính đồng nhân dân tệ đã được đánh giá thấp khoảng 20%.

Trong lúc đó, căng thẳng mậu dịch giữa hai xứ lại một lần nữa bùng phát. Hoa Thịnh Đốn mới đây đã đồng ý điều tra vụ nghiệp đoàn United Steelworkers lên án TQ vi phạm quy chế Tổ Chức Thương Mãi Quốc Tế – WTO, qua các biện pháp hổ trợ của nhà nước dành cho các kỹ thuật năng lượng sạch. Động thái nầy đã khiến Zhang Guobao, quan chức năng lượng hàng đầu TQ, tố cáo chính quyền Mỹ đang tìm cách kiếm phiếu – một lối nói chua cay gây căm phẫn trong các quan chức Bạch Ốc.

Theo Summers, việc TQ ngưng chuyển tải các khoáng sản đất-quí-hiếm xuất khẩu qua Hoa Kỳ đang đặt ra nhiều vấn đề quan trọng trong cả hai địa hạt kinh tế và chiến lược, đòi hỏi một nghiên cứu cẩn mật trong nội bộ chính quyền Mỹ.

Trước đây, Bắc Kinh cũng đã ngưng chuyển tải loại khoáng sản nầy đến Nhật Bản, sau vụ tranh cãi khi tàu đánh cá TQ đụng vào hai tàu tuần tiểu Nhật gần những hải đảo đang tranh chấp.

Đây là một trong vài động thái khiêu khích gần đây của Bắc Kinh đối với các xứ láng giềng – kể cả một vụ đã khiến chính quyền Obama phải nhập cuộc.

Tháng 7 vừa qua, tại Hà Nội, ngoại trưởng Hillary R. Clinton đã tuyên bố: Hoa Kỳ sẽ giúp làm dễ dàng các cuộc thương thảo giữa Bắc Kinh và các xứ láng giềng về vấn đề tranh chấp hải đảo ở Biển Đông. Các viên chức TQ rất căm giận khi Hoa Kỳ rõ ràng đã thuyết phục được 12 xứ ủng hộ lập trường của mình.

Với chuyến viếng thăm Hoa Thịnh Đốn sắp tới của chủ tịch Hồ Cẩm Đào vào đầu năm 2011, các quan chức Hoa Thịnh Đốn cho biết bà Clinton sẽ có bài phát biểu hòa dịu hơn ở Á châu vào tuần nầy. Và hiện nay, người Mỹ cảm thấy lập trường của họ đối với TQ cũng đã được làm sáng tỏ.

Shambaugh nói, “tín hiệu gửi đến Bắc Kinh cần phải rõ ràng. Hoa Kỳ hiện có nhiều bạn bè gần gũi và thâm giao khác trong khu vực”.[47]

Trong mọi trường hợp, tưởng cũng nên nhắc lại ở đây lối cảnh giác của dân gian: [Khi] trâu bò húc nhau, ruồi muổi [thường phải] chết oan!

GS Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

05-11-2010


[1] SEIU: Service Employees International Union: Liên Hiệp Công Nhân Ngành Dịch Vụ Thế Giới

[2] ACFTU: All-China Federation of Trade Unions: Liên Hiệp Các Nghiệp Đoàn Trung Quốc.

[3] We have to recognize that China is the first real economic competitor that has ever threatened America’s standing as the global economic superpower.

[4] Andy Stern seems to think he can find progressive elements within the ACFTU. And the SEIU is OK with that?

[5] IUOE: International Union of Operating Engineers: Liên Hiệp Quốc Tế các Kỹ Sư Đang Hành Nghề

[6] ESRC: Congressionally mandated US-China Economic and Security Review Commission: Ủy Hội Thẩm Định Kinh Tế và An Ninh Hoa-Mỹ do Quốc Hội sáng lập.

[7] Andy Stern threw away all principle and started dealing with the ACFTU. The head of the ACFTU is on the fucking Politburo!. He’s a thug.

[8] Campaign for America’s Future.

[9] The global imbalances generally – with Germany, Japan, China, Korea and others focused on an export model and relentlessly wedded to it without concern for moving to a more balanced marketplace – have a direct destabilizing effect  on the global economy, and on this economy in particular, and can’t be sustained. And so the United States has to move into a series of much more fraught confrontations and challenges, not just with the Chinese.

[10] I am concerned that there are other places in the world where China’s form of authoritarian capitalism is taking hold. Look at how China is engaging in Africa.

[11] Asia Society’s Center on U.S.-China Relations

[12] It’s almost as if the continental plates of global politics are shifting beneath our feet. We suddenly have this other model of authoritarian capitalism that is proving remarkably successful, and it is even posing a challenge, not just economically but politically, to our belief that our system of democratic governance is the one that’s best able to deliver a good life.

[13] Foreign Policy in Focus, Institute for Policy Studies (IPS).

[14] This drives a wedge right through the progressive community.

[15] Economic Policy Institute – EPI

[16] Alliance for American Manufacturing -AAM

[17] I would say to the Chinese, ‘We are not going to allow the free access of Chinese goods, as long as you are pirating technology, requiring American companies to produce in China only for export and not for the Chinese market, extracting technology transfer agreements that are plainly coercive, and manipulating your currency.’ Then the fat would be in the fire, and the Chinese would have to decide what they are going to do about it. It might lead to some conflict. If we took a harder line on Chinese mercantilism, it might get kind of ugly in the short term.

[18] The US government has an obligation to US workers to develop policies that are in our national interests.

[19] It does. I view my job as being concerned with the living standards of American workers.

[20] This will allow China to enjoy the fruits of its growth.

[21] I don’t call it a success for working people. It’s a disgrace. The regulatory system is like the Wild West, and nobody cares. You have long-term environmental damage, you have child labor, you have forced labor, the destruction of workers’ health.

[22] We don’t  recognize the ACFTU as a real union. I consider them to be the government. They’re management.

[23] The trade surplus is being used by China to build up a military. They want to build a blue-water navy in the Pacific, to develop sophisticated nuclear weapons, satellite-killing weapons. What does that say about peace? Their stated goal is, they want to have a presence in the Pacific Rim and challenge US supremacy in the Pacific. That has enormous implications.

[24] I would continue to sell arms to Taiwan.

[25] The notion that China could somehow increase its consumption in ways that would materially benefit  American workers is not plausible. First, consumption in China has been rising rapidly for dacades. Second, raising it more rapidly means what? Having more cars and fewer roads to drive on? It doen’t make any sense from a development standpoint. Why should they want to slow the pace at which they build infrastructure relative to the purchase of consumer goods? Why would they build fewer power plants and have more appliances in order to have brownouts?

[26] We’re talking about a country that has the continuing potential to pull a huge number of people out of poverty. I don’t think it can do that by competing fairly according to the rules of international policy.

[27] There is this longstanding Yellow Peril discourse in the United States, and a lot of this stuff fits into it comfortably. Yeah, they’re competitive, but … that history of Yellow Peril-ism makes it seem sinister and virulent. It’s a lot easier to blame China than it is to look at what’s wrong with the United States. There ‘s a kind of nationalism that is a little too close to xenophobia that fuels this sort of thing, and populists on the left and right can agree on not liking China.

[28] Center for International Policy – CIP

[29] The idea that we should accept China’s interests in East Asia, I would think, should be readily understood by liberals. The fact that China is going to have a navy with a long reach, that it’s going to be a superpower, just as India is, well, America has to adjust.

[30] It would be disastrous for progressives to provide fodder for the military-industrial complex by demonising China. There are very powerful interests in Washington who want to set us on a path of confrontation.

[31] We’ll never get China to behave economically on key issues like the currency peg and their position in the future on holding our securities if we continue to fuck them on Taiwan.

[32] More than twenty provinces  have introduced increases in the minimum wage of around 20%. When strikes have broken out, many local governments have interceded and tried to get management and workers to negotiate.

[33] I get in trouble on Glenn Beck saying, ‘Workers of the world unite!’. It’s not just a slogan.

[34] There’s a big evolution going on. And to me, the question is, “Where does the union end up, not where it started”.

[35] The government is pushing them to transform, too.

[36] Labor Center, University of California, Berkeley – UC Berkeley.

[37] The policy of the AFL-CIO to boycott China, to have nothing to do with China, has only kept the working class behind.

[38] Going It Alone: The Workers Movement in China, 2007-2008.

[39] It is essential that the formal organizing power of the ACFTU somehow be integrated with the strength and support of the workers. The two sides will have to find a way of coming together.

[40] If we wait long enough, in thirty-five years wages and working conditions and all that may equal out. But look at the hollowed-out communities in the United States in the meantime.

[41] Any attempt to get tough with the Chinese would also bite us in the ass.

[42] There are all sorts of ways of saying it in meetings between the two countries without it being a giant Fuck you! in the middle of the meeting.

[43] It isn’t just China’s rise, which is tectonic, but it’s our own financial, political and cultural collapse that is cause for even more consternation. We need to find ways to accommodate China, and to influence it. And it’s not a foregone conclusion that it will be easy, or even peaceable.

[44] This administration came in with one dominant idea: make China a global partner in facing global challenges. China failed to step up and play that role. Now, they realize they’re dealing with an increasingly narrow-minded, self-interested, truculent, hyper-nationalist and powerful country.

[45] Chinese triumphalism.

[46] We were struck by the seriousness with which they shared our commitment to managing differences and recognizing that our two countries were going to have a very large effect on the global economy.

[47] The signal to Beijing ought to be clear. The U.S. has other closer,deeper friends in the region.