QUAN HỆ MỸ-DO THÁI-PALESTINE VÀ GIẢI PHÁP HAI NHÀ NƯỚC

 

Trong kỷ nguyên Obama, tính khả tín của Hoa Kỳ trên toàn cầu đang trên đà suy giảm . Thực vậy, bằng chứng rõ ràng nhất là cách ứng xử của Netanyahu nhân  cuộc viếng thăm Do Thái của Phó Tổng Thống Joe Biden hồi đầu năm. Biden đến với mục đích kích hoạt quá trình hòa bình; Do Thái lại loan báo chương trình xây các khu định cư mới ở Đông Jerusalem. Tin nầy tự nó chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Việc xây cất những khu định cư trong lãnh thổ chiếm đóng luôn là thực tế  liên tục trong chính sách Do Thái từ nhiều năm nay. Điều đáng ngạc nhiên là thời điểm loan báo và phương cách ứng xử của cấp lãnh đạo một xứ đang lệ thuộc sâu xa vào quyền lực và tiền bạc của Hoa Kỳ. Netanyahu rõ ràng đã không ngần ngại làm mất uy tín nhân vật số hai của Mỹ.

QUAN HỆ MỸ-DO THÁI

Âu lo trước cảnh công khai đối đầu giữa chính quyền Obama và chính phủ Do Thái, Nghị sĩ Connecticut, Joe Lieberman – đại diện cho quyền lợi của Đảng Likud của  thủ tướng Benjamin Netanyahu và kỹ nghệ bảo hiểm y tế trước Quốc Hội – đã lên tiếng kêu gọi chấm dứt cãi vã. Lieberman nói: “Chúng ta hãy chấm dứt cảnh xô xát, thù nghịch trong gia đình. Đó là điều không cần thiết; đó là điều tai hại đối với quyền lợi quốc gia chung giữa chúng ta. Đã đến lúc phải xuống giọng, phải bỏ qua thù nghịch gia đình giữa Hoa Kỳ và Do Thái. Nó không có lợi ích cho ai ngoài kẻ thù của chúng ta”[1].

Ý tưởng – Hoa Kỳ và Do Thái là gia đình với quyền lợi quốc gia chung – là một hư cấu tiện lợi Lieberman và phe ủng hộ Do Thái đã không ngừng cổ súy và khai triển ở Hoa Thịnh Đốn trong hai thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, nếu liên hệ thực sự mang tính gia đình, sự xô xát hồi đầu năm giữa Hoa Thịnh Đốn và chính quyền Netanyahu rất có thể phải được xem như một trong những thù nghịch, dù  bộc lộ trong lúc nóng giận, cũng đã đặt thành vấn đề phải tái thẩm định những chuẩn mực chi phối mối tương quan. Sự thật đó không dễ dàng che đậy sau khi hòa khí đã được vãn hồi. Vết rạn nứt tức thời đã loại hẳn khả năng đơn thuần trở lại “tình trạng trước va chạm”.  Trong thực tế, việc tái thương thảo các điều kiện chi phối mối quan hệ  một cách nào đó đã được đưa lên nghị trình.

Đã hẳn, hai chính quyền Obama và Netanyahu hiện đang ráo riết tìm kiếm một phương thức  ra khỏi tình trạng khó xử, bắt đầu với sự kiện người Do Thái đã phục kích Phó Tổng Thống Joe Biden khi loan báo các kế hoạch xây cất 1.600 căn hộ định cư ở Đông Jerusalem đang bị chiếm đóng. Biden đến Do Thái với mục tiêu kích hoạt các nổ lực của chính quyền Obama, tái khởi động thương nghị về thỏa ước hòa bình  hai nhà nước, một mục tiêu luôn bị Do thái cản trở qua chính sách liên tục bành trướng định cư trên lãnh thổ chiếm đóng kể từ 1967.

Cũng như khi Obama đòi hỏi chính quyền Netanyahu phải ngưng hẳn toàn bộ chương trình định cư trong năm 2009, người Do Thái một lần nữa sẽ chống lại mọi yêu cầu đảo ngược hoàn toàn các kế hoạch xây cất mới nhất. Thay vào đó, họ đề nghị một cách trơ trẻn sẽ tiếp tục các hoạt động định cư trên căn bản “không-hỏi-không-nói”, tuy bề ngoài tuyên bố ủng hộ giải pháp hai nhà nước để trấn an người Mỹ, ngay cả khi họ vẫn tiếp tục bào mòn viễn ảnh giải pháp nầy trong thực tế.

Như nguyên ngoại trưởng James Baker đã ghi nhận, không thiếu gì những việc làm táo tợn như thế trong chính phủ Netanyahu. Trong cuộc phỏng vấn gần đây, Baker đã nói: “Người chịu thuế Hoa Kỳ đã giúp Do Thái  3 tỉ USD mỗi năm, khoảng 1.000 USD cho mỗi công dân Do Thái, trong lúc kinh tế chúng tôi đang gặp nhiều khó khăn,  và nhiều người Mỹ cũng sẽ biết ơn một sự trợ giúp như thế từ chính quyền của chính họ. Trước thực tế đó, thật chẳng có gì quá đáng khi chúng tôi đòi hỏi cấp lãnh đạo Do Thái phải tôn trọng chính sách định cư của Hoa Kỳ.”[2]

TƯỚNG LÃNH VÀO CUỘC

Không sớm thì muộn, mớ bòng bong hiện nay rồi cũng đi vào quên lãng. Tuy nhiên, Hoa Thịnh Đốn chắc rồi cũng phải xét lại túi khôn ước lệ của lập trường hậu thuẩn vô điều kiện cho Do Thái, và đưa ra ánh sáng công luận phương cách các chính quyền Hoa Kỳ kế tiếp trong hai thập kỷ qua đã tiếp tay cho Do Thái liên tục bành trướng chế độ chiếm đóng, và liệu chính sách nầy có phù hợp với quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ ở Trung Đông.

Năm 2006, hai nhà tư tưởng thực tiển về chính sách đối ngoại, John Mearhimer và Stephen Walt, đã gây ra một bảo tố lố lăng và đầy thiên kiến khi gợi ý trong tác phẩm Vận Động Hành Lang Do Thái và Chính Sách Đối Ngoại Hoa Kỳ [The Israel Lobby and U.S. Foreign Policy]: các mục tiêu hai bên theo đuổi, trong thực tế, không hề trùng hợp và luôn trái ngược, và phe thân Do Thái đã cực lực vận động hành lang nhằm ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ có lợi cho Do Thái. Phe ủng hộ Do Thái cũng dèm pha sự gợi ý của Nhóm Nghiên Cứu Iraq do T T George W. Bush thành lập: Hoa Kỳ sẽ không thể thành đạt được các mục tiêu của mình ở Trung Đông nếu không giải quyết trước cuộc xung đột Do Thái-Palestine.

Phản ứng đối với lời nhắc – cách ứng xử của Do Thái có thể phương hại đến quyền lợi của Hoa Kỳ –  lần nầy có vẻ êm dịu  khác thường. Lý do chỉ vì sự nhắc nhở đã đến từ Tướng David Petraeus, tư lệnh U.S.Central Command (Centcom), chịu trách nhiệm điều hành hai cuộc chiến đang tiếp diễn hiện nay. Petraeus là vị tướng được các đồng đội cùng thế hệ ca ngợi, và cũng là vị tướng được phe thân Do Thái, phái tân bảo thủ, sùng bái.

Petraeus đã nói với các Nghị Sĩ Thượng Viện: “tình trạng thù nghịch dai dẳng giữa Do Thái và các xứ láng giềng đã là nguyên nhân đưa đến các thử thách rõ ràng đối với khả năng xúc tiến quyền lợi của chúng ta trong khu vực trách nhiệm [Centcom’s Area of Responsibily – AOR]. Sự xung đột đã gây ra cảm nghĩ chống Mỹ xuất phát từ nhận thức lập trường thiên vị Do Thái của Hoa Kỳ. Thái độ căm tức của người Á Rập về vấn đề Palestine đang giới hạn sức mạnh và chiều sâu các đối tác giữa Hoa kỳ và chính quyền và nhân dân trong vùng trách nhiệm [AOR], và làm suy yếu tính chính đáng của các chế độ ôn hòa trong thế giới Á Rập. Trong khi đó, al-Qaeda và các nhóm kháng chiến khác đang lợi dụng thái độ căm giận nầy để huy động yểm trợ. Tình trạng xung đột cũng giúp Iran tăng cường ảnh hưởng trong thế giới Á Rập qua các tổ chức tay chân như Hezbollah ở Lebanon và Hamas. Tiến bộ trong quá trình giải quyết các xung đột chính trị trong vùng Levant [Đông địa trung hải], nhất là xung đột Á Rập-Do Thái, là mối ưu tư lớn lao đối với Centcom.”[3]

Thông thường, bất cứ ai liên kết sự xung đột Do Thái-Palestine với làn sóng chống Mỹ trong thế giới Hồi Giáo đều bị phái tân bảo thủ và phe thân Do Thái chỉ trích. Điển hình, họ sẽ nhạo báng những ai lập luận theo kiểu “liên kết Petraeus” là ngây thơ, tin tưởng al-Qaeda sẽ từ bỏ thánh chiến [jihad] nếu người Do Thái và người Palestine làm hòa với nhau. Vả chăng, đó chỉ là một luận cứ hù dọa rởm: Hoa Kỳ tự mình đã làm nhiều điều gây căm thù trong thế giới Hồi giáo, và chấm dứt xung đột Do Thái-Palestine tự nó sẽ chẳng giải quyết được mối thù nghịch nầy.

Điều quan trọng chính là: một giải pháp công bình cho vấn đề xung đột Do Thái-Palestine là điều kiện cần, nếu chưa đủ, để cải thiện quan hệ giữa Hoa Kỳ và quần chúng trong nhiều xứ Hồi giáo.

Để thăm dò dư luận, Abe Foxman, lãnh đạo Liên Minh Chống Mạ Lỵ [Anti-Defamation League] – chuyên trách phủ nhận dị biệt giữa “chống-Do-Thái” [anti-Semitism] và “phê bình hay thù nghịch đối với Do Thái” [criticism or hostility to Israel] – đã ướm thử: “Tướng Petraeus đã đơn thuần sai lầm khi liên kết những thách thức, Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh đang đối diện trong khu vực, với một giải pháp cho vấn đề xung đột Do Thái-Á Rập, và quy trách các hoạt động cực đoan là do sự thiếu vắng hòa bình và nhận thức lập trường thiên vị của Hoa Kỳ đối với Do Thái. Một liên kết như vậy thật sự nguy hiểm và phản tác dụng”.[4]

Trong thực tế, người ta có thể cảm nhận được nổi đau trong lời thú nhận của Foxman: “mối âu lo càng lớn lao hơn khi đến từ một nhân vật ái quốc và anh hùng Mỹ”.[5] Khi Petraeus đã chọn công khai nói ra những quan ngại của mình – vào lúc cao điểm của vụ va chạm giữa Do Thái và Hoa Kỳ, và ngay ở Capitol Hill, nơi các nhà lập pháp hình như chưa minh định được câu trả lời – đã là một chỉ dấu tính nghiêm chỉnh của giới quân sự khi nhấn mạnh vấn đề.

Mark Perry, một nhà phân tích quân sự và tình báo lâu năm ở Hoa Thịnh Đốn, đã nắm bắt được ý nghĩa đặc biệt của vấn đề trong website Chính Sách Đối Ngoại [Foreign Policy’s website]: “Ở Hoa Kỳ có nhiều nhóm vận động hành lang quan trọng và đầy thế lực: NRA, AMA, các luật sư… và vận đồng hành lang Do Thái. Nhưng không có  nhóm vận động hành lang nào quan trọng và nhiều thế lực như giới quân sự  Mỹ”.[6] Perry cũng đã ghi nhận trong cuộc điều trần của Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Đề Đốc Michael Mullen, vào tháng 1-2010: Petraeus rõ ràng đã gợi ý các vùng lãnh thổ của Palestine – liên tục dưới quyền kiểm soát quân sự tối cao của Do Thái – phải được đặt trong AOR, một viễn ảnh có thể khiến cấp lãnh đạo Do Thái đứng tim .

Điều nầy không có nghĩa tướng Petraeus đặc biệt ghét bỏ hay yêu thương gì nhà nước Do Thái. Vấn đề là: trong vai trò tư lệnh của hàng trăm nghìn quân nhân Mỹ đồn trú trong khu vực được các chiến lược gia ở Hoa Thịnh Đốn gọi là “vòng cung bất ổn” [arc of instability], Petraeus rất quan ngại trước thái độ thù nghịch ngày một gia tăng đối với Hoa Kỳ.

Ý niệm – Hoa Thịnh Đốn cần kiềm chế chính sách bành trướng của Do Thái và áp đặt một giải pháp chính trị cho mối xung đột Do Thái-Palestine – không có gì mới mẻ đối với giới quân nhân Mỹ, những người không mấy quan tâm đến khía cạnh tình cảm. Nguyên Ngoại Trưởng Colin Powell và nguyên Đặc Sứ Trung Đông của Mỹ , Tướng Anthony  Zinni, những người đã trải nghiệm quá trình trưởng thành trong khu vực, cũng chia sẻ những quan ngại hiện nay của Petraeus.

Tướng Keith Dayton – người chịu trách nhiệm: thành lập và huấn luyện lực lượng an ninh giúp Nhà Cầm Quyền Palestine, lực lượng đã dẹp các kháng chiến quân ở West Bank, và kiềm hãm không cho phép lực lượng nầy tấn công Do Thái trong mấy năm vừa qua – cũng chẳng dè dặt gì hơn Petraeus trong bài nói chuyện ở Hoa Thịnh Đốn trong năm rồi. Ông đã nhấn mạnh tiền đề khi thành lập lực lượng dưới quyền và đã chịu mọi chỉ trích ngay bên trong cộng đồng xem đây chỉ là đội quân cảnh của Do Thái: những quân nhân trong lực lượng nầy tin họ là hạt nhân của quân đội của nhà nước tương lai Palestine. Ông còn cảnh cáo, không nên xem lòng trung thành của những binh sĩ dưới quyền là đương nhiên: “có lẽ có hai năm chờ đợi khi được cho biết quý vị đang thành lập một nhà nước , trong khi quý vị không làm như vậy”[7].

Báo chí Do Thái cũng trích đăng: bên sau các cánh cữa khép kín, Phó Tổng Thống Biden đã quở trách Netanyahu về những kế hoạch bành trướng định cư, cảnh cáo việc làm nầy sẽ làm gia tăng bất trắc và hiểm nguy đối với sinh mạng của các viên chức Hoa Kỳ ở Iraq, Afghanistan và Pakistan.

HIỆN TRẠNG VÀ VAI TRÒ CỦA HOA KỲ

Trước công chúng, đã hẳn, Biden cũng nói không mấy khác Lieberman: “Theo kinh nghiệm của tôi, điều kiện tiên quyết cho tiến bộ [ở Trung Đông], như cả thế giới đều biết, là không có khoảng cách giữa Hoa Kỳ và Do Thái khi nói đến an ninh, không có. Chính những  lúc đó tiến bộ đã được thực hiện”[8].

Trong thực tế, lịch sử xung đột Do Thái-Palestine cho thấy sự thật hoàn toàn trái ngược . Nguyên ủy quá trình hòa bình, chính quyền Obama nay đang tìm cách phục sinh,  không hề liên hệ đến một hậu thuẩn vô điều kiện của Hoa Kỳ dành cho Do Thái. Ngược lại, nguyên ủy đó đã nằm trong quyền lợi quốc gia cơ sở trên một sự yểm trợ đứng đắn, hay như  người Mỹ thường nói – tough love, của chính quyền George H.W. Bush.

Phát sinh từ một quan niệm thực tiển về quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ ở Trung Đông – vào lúc chiến dịch quân sự, nhằm đẩy lùi các lực lượng Iraq của Saddam Hussein ra khỏi Kuwait, đã dàn trải hàng trăm nghìn binh sĩ Mỹ trong vùng –  chính quyền Bush I đã nhận diện được nhu cầu quân bình quyền lợi phải chăng của Do Thái với quyền lợi của các quốc gia Á Rập láng giềng. Chính vì vậy, năm 1991, người Mỹ đã kéo lê chính quyền diều hâu Likud của Yitzhak Shamir tới hội nghị Madrid, do đó, đã phá vỡ điều cấm kỵ trong địa hạt an ninh của Do Thái: trực tiếp thương nghị với Tổ Chức Giải Phóng Palestine – PLO của Yasir Arafat.

Chính quyền Bush I cũng đã nêu rõ: Do Thái sẽ chịu hậu quả tức thì và đau đớn nếu tiếp tục chương trình định cư trên phần lãnh thổ xâm thực trong cuộc chiến 1967, những xây cất lúc đó được gọi không những “vô bổ” [unhelpful] – một mỹ từ các tổng thống Bill Clinton, George W. Bush, và nay Barack Obama ưa chuộng – mà còn “bất hợp pháp” [illegal]. Theo lệnh của Bush I và ngoại trưởng Jim Baker, Hoa Thịnh Đốn đã đe dọa rút lại cam kết bảo đảm 10 tỉ tiền vay nếu Do Thái tiếp tục xâm thực lãnh thổ Palestine. Trong cuộc khủng hoảng chính trị sau đó, người Do Thái, hiểu rõ tình trạng lệ thuộc vào sự hậu thuẩn mang tính quyết định của Hoa Kỳ, đã phải bầu chọn Yitzak Rabin thay thế Shamir trong chức vụ thủ tướng.

Rabin sau đó đã được ca ngợi như một lãnh tụ  can đảm khi quyết định đổi hướng trước sư chống đối kịch liệt trong nội bộ. Tuy nhiên, muốn hiểu rõ tình hình thực tế, chúng ta cũng cần đọc kỷ lại lịch sử.

Chỉ ba năm trước đó, chính Rabin đã ra lệnh cho quân đội Do Thái dùng dùi cui đánh gảy tay gảy chân các thiếu niên ném đá, hy vọng chận đứng được phong trào nổi dậy  hay intifada của người Palestine. Đã hẳn Rabin đã không vồ vập quá trình hòa bình Oslo với PLO vì một thức tỉnh bất chợt của lương tâm đạo đức nào đó. Rabin chỉ quyết định đổi hướng sau khi bình tĩnh tính toán và tái thẩm định vị trí chiến lược của mình.

Trong cùng thời điểm, Hoa kỳ nhận thấy nhiều lợi điểm trong việc tạo dựng một Pax Americana trong vùng,  một quyết định đòi hỏi sự hậu thuẩn của thế giới Á Rập. Với chiến tranh lạnh đã chấm dứt, giá trị của Do Thái như một đồng minh đang suy giảm. Cùng lúc, các chính sách bành trướng đối nghịch với công luận trong các xứ Á Rập và đặt chính quyền các xứ nầy vào vị thế khó khăn và dễ thương tổn trong vai trò đồng minh của Hoa Kỳ, một quốc gia hậu thuẩn cho Do Thái, Hoa Thịnh Đốn nhận thấy Do Thái ngày một trở thành một món nợ nặng gánh hơn.

Vì vậy, Rabin đã có lý do để tin hậu thuẩn của Hoa Kỳ, dành cho Do Thái phương hại đến quyền lợi các xứ Á Rập láng giềng, không thể vô điều kiện hay vĩnh cữu. Trong lúc đó, PLO cũng đã suy yếu nhiều sau nhiều năm tấn công quân sự của Do Thái và sau quyết định “sai lầm” ủng hộ Saddam Hussein trong cuộc chiến Vùng Vịnh I. Và Rabin kết luận, thời cơ đã đến để thương thảo với Palestine một giải pháp chính trị trong những điều kiện thuận lợi lúc đó, bằng cách đổi West Bank và Gaza lấy hòa bình.

DUY TRÌ HIỆN TRẠNG, PHÍ TỔN VÀ LỢI ÍCH

Thực vậy, Rabin đã hành động vì hiểu được hậu quả duy trì hiện trạng [status quo] hình như lúc một bất lợi hơn. Tuy nhiên, đây vẫn là một hành động can đảm. Người ta cũng có thể nói như thế  về Tổng Thống da trắng cuối cùng của Nam Phi – F.W. de Klerk. Klerk đã chọn lựa thương thuyết chấm dứt chính sách phân biệt chủng tộc với đảng ANC của Nelson Mandela,  bởi lẽ sự tan rã của Liên Bang Xô Viết đã lấy mất lý do khá thuyết phục khi Hoa Kỳ và các cường quốc Tây Phương hậu thuẩn cho chế độ cầm quyền da trắng của ông. Cùng một luận lý, có lẽ hệ thống chính trị Xô Viết đã không đưa Mikhail Gorbachev lên cầm quyền nếu KGB, trước đó, đã không quyết định những đổi thay tối quan trọng là thực sự cần thiết để ngăn ngừa Mạc Tư Khoa khỏi bị lu mờ trong vị thế một siêu cường trước các tiến bộ kỷ thuật và kinh tế của Tây phương.

Nếu áp lực của Hoa Kỳ cũng như viễn tượng cô lập và ô nhục đã là nguyên nhân Do Thái phải chấp nhận giải pháp hai nhà nước,  sự buông lỏng áp lực và sáng tạo một ý niệm “gia đình” trong quan hệ Hoa Kỳ-Do Thái cũng đã trùng hợp với một sự chuyển dịch ngày một xa dần quá trình hòa bình. Ngay cả vào thời điểm cao độ của kỷ nguyên Oslo, người Do Thái, được Clinton chiều chuộng, đã tiếp tục bành trướng các chương trình định cư phương hại cho viễn ảnh địa lý của một nhà nước Palestine.

Ariel Sharon và Netanyahu đã tìm cách chứng minh Rabin đã sai lầm. Cả hai tin có thể duy trì hậu thuẩn của Hoa Kỳ mà không phải nhượng bộ về một nhà nước Palestine, qua việc kiên trì vận động hành lang Tòa Bạch Ốc, Capitol Hill, và công luận.

Sharon và Netanyahu đã thắng thế khi “chiến lược nổ bom cảm tử”,  được intifada II của Palestine sử dụng, và  “biến cố 11-9”,  đã thúc đẩy chính quyền Bush quan niệm lại chính trị thế giới trên căn bản “Cuộc Chiến Chống Khủng Bố Toàn Cầu” [Global War on Terror]. Trong bối cảnh đó, giới chính trị  Hoa Thịnh Đốn giờ đây chấp nhận Do Thái không chỉ như một đồng minh trong cuộc chiến, mà còn như một mô hình lãnh đạo chiến tranh.

Trong những năm George W. Bush, quá trình hòa bình với giải pháp hai nhà nước, vì vậy, đã trở thành những chiêu bài trống rỗng, đầu môi chót lưỡi, của cấp lãnh đạo Do Thái và phe ủng hộ ở Hoa Thịnh Đốn, trong lúc họ vẫn tiếp tục chính sách nghiền nát phong trào quốc gia Palestine và bành trướng định cư. Trong thực tế, lộ trình hòa bình – chuổi những động thái tương tác được thiết kế với mục đích xây dựng lòng tin,  nhằm hoàn tất các cuộc thương nghị về quy chế cuối cùng và thực thi giải pháp hai nhà nước – cũng đã mai một ngay sau khi Ariel Sharon lên cầm quyền vào tháng 2-2001.

Ngay cả cuộc triệt thoái dân định cư Do Thái khỏi Gaza năm 2005 cũng chưa bao giờ được quan niệm theo hướng lộ trình hòa bình; và cũng chẳng được thương thảo hay phối trí với Nhà Cầm Quyền Palestine. Thực ra, Sharon đã quan niệm cuộc triệt thoái đơn phương của ông như một biện pháp thay thế cho thỏa ước hòa bình. Cuộc triệt thoái đã được thiết kế, như Dov Weissglass đã giải thích,” như một liều thuốc bảo quản cần thiết hầu tránh lộ trình chính trị với người Palestine”[9].

Mặc dù người Á Rập lúc một căm giận, chính quyền Bush vẫn không sẵn sàng gây áp lực buộc người Do Thái phải hoàn tất lộ trình hòa bình. Với áp lực bên ngoài, nhất là từ Hoa Kỳ, không còn đáng lo ngại, áp lực chính trị từ bên trong Do Thái cũng sụp đổ. Dân Palestine giờ đây bị vây hãm và cô lập bên trong bức tường ngăn cách xuyên vùng West Bank và quanh giải Gaza. Hoàn cảnh bi đát của họ, một lần nữa, không còn phơi bày trước mắt nhiều người Do Thái. 40% dân Do Thái không còn quan tâm đến lộ trình hòa bình; và  20% tin lộ trình giờ đây cũng rất ít hy vọng đem lại kết quả.

Gideon Levy, nhà bình luận chính trị Do Thái đã viết trên báo Haaretz hồi đầu tháng 3-2010: “Do thái không có ý định từ bỏ các lãnh thổ [chiếm đóng] hay cho phép dân Palestine hành xử quyền hạn của họ. Do Thái không thực sự muốn theo đuổi hòa bình, bởi lẽ đời sống ở đây hình như khá tốt ngay trong hiện trạng. Tiếp tục chính sách chiếm đóng không những nguy hiểm cho tương lai Do Thái, mà gây  bất trắc lớn lao cho hòa bình thế giới, tạo cớ cho nhiều kẻ thù tối nguy hiểm của chính Do Thái. Dù sao, khó có gì thay đổi trong một Do Thái tự mãn, hiếu chiến và kiêu ngạo hiện nay”[10].

Chính quyền Obama không thể nuôi ảo tưởng về vấn đề nầy. Obama  buộc lòng  phải đối diện vì một loại áp lực khác. Cuộc Chiến Chống Khủng Bố đầy phiêu lưu của Bush đã đến lúc phải tính sổ. Những người chịu trách nhiệm duy trì địa vị đế quốc Hoa Kỳ trong thế giới Hồi giáo nay đang lên tiếng cảnh cáo: cái giá phải trả cho chính sách tiếp tục cho phép Do Thái lẫn tránh trách nhiệm tìm kiếm một giải pháp công bình đối với người Palestine có thể sẽ rất cao – và, tệ hơn nữa, không cần thiết.

Các nhà lãnh đạo và cử tri Do Thái đã chứng tỏ đầy đủ, tự họ, họ sẽ không tự nguyện buông quyền kiểm soát  lãnh thổ Palestine, chừng nào họ không phải trả giá cho các hậu quả của chính sách duy trì “hiện trạng”. Đã hẳn, quý vị có thể bảo người Do Thái hiện trạng không thể duy trì, nhưng lịch sử Do Thái từ thập kỷ 1920s luôn chứng tỏ niềm tin có thể chuyển hóa “điều không thể” thành “điều không thể tránh” bằng cách thay đổi các sự kiện thực tế. Xây cất những khu định cư trên lãnh thổ chiếm đóng vi phạm luật quốc tế sau năm 1967 hình như là “điều không có thể”  vào thời điểm đó; ngày nay, chính phủ Hoa Kỳ lại trấn an người Do Thái là họ “sẽ giữ lại” hầu hết các khu định cư quan trọng trong giải pháp hai nhà nước. Rõ ràng, đúng theo lối luận lý ngẩu hứng nầy, Sharon đã tính toán ông ta có thể duy trì các khu định cư ở West Bank nếu chịu từ bỏ những khu định cư ở Gaza. Cùng một luận lý cho phép Netanyahu nói đến cụm từ “hai nhà nước cho hai dân tộc” trong khi luôn ngầm báo cho cử tri Do Thái ông không hề có ý định cho phép điều nầy xẩy ra.

Lộ trình hòa bình đòi hỏi Do Thái và người Palestine phải thành đạt một đồng thuận song phương về phân phối đất đai và quyền hạn, dưới sự thúc giục của các trung gian Hoa Kỳ, là một lộ trình yểu tử – và vì vậy, khó thể đưa đến mục tiêu ngày một khẩn thiết trong quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ. Người ta có thể lập luận với người Do Thái, đây là điều ngày một quan trọng hơn đối với chính họ, bởi lẽ hiện trạng đã bào mòn viễn ảnh một giải pháp hai nhà nước đến mức cả hai bên có thể phải sống trong một tình trạng xung đột mang tính tai họa lâu dài hơn, và chua cay hơn.

Vì vậy, có lẽ Phó Tổng Thống Biden cần được nhắc nhở  : tiến bộ ở Trung Đông sẽ không thể thành đạt cho đến lúc nào Hoa Kỳ thành công đem lại một thay đổi trong phương pháp phân tích phí tổn-lợi ích [cost-benefit analysis]  của chính sách duy trì “hiện trạng” của Do Thái. Lãnh tụ Do Thái duy nhất có đủ khả năng chấp nhận các thông số của một nền hòa bình hai nhà nước với Palestine, như đã được nhiều người biết đến, là người có thể chứng minh cho các cử tri Do Thái thấu hiểu: các giải pháp thay thế sẽ tồi tệ hơn gấp nhiều lần. Hiện nay, thiếu áp lực thực sự từ phía Hoa Kỳ, không hiểu rõ thực giá phải trả, chẳng có gì ngoài lời nói suông, đơn thuần ít ai thấy khía cạnh tiêu cực của “hiện trạng” đối với Do Thái. Cho đến khi hiểu rõ cái giá rất đắt phải trả, hiện trạng sẽ không thay đổi, dù cho nguy cơ đối với quân đội Mỹ trong vùng Trung Đông ngày một gia tăng.

KHỦNG HOẢNG KHẢ TÍN

Với vụ xô xát giữa Biden và Netanyahu, hay theo ngôn từ của Lieberman, vụ xung đột hay thù nghịch trong “gia đình Hoa Kỳ-Do Thái”, với hai cuộc chiến tốn kém tiêu hao đang diễn tiến, và với vô vàn khó khăn phải đối phó trong quốc nội, Hoa Thịnh Đốn ngày một khó lòng duy trì hình ảnh khả tín ở hải ngoại. Nhiều quan sát viên đã thảo luận về hành động gây kinh ngạc của Do Thái, nhất là trong bối cảnh chính trị Trung Đông.

Năm mươi năm trước đây, các nhà tư tưởng chiến lược Hoa Kỳ luôn tìm cách truyền bá và phát huy hình ảnh một siêu cường Hoa Kỳ với sức mạnh quân sự, kinh tế, chính trị vô song và một ý chí không lay chuyển sử dụng uy lực của mình trong sinh hoạt chính trị thế giới. Với sự ra đời của cái mà Jonathan Schell gọi là “chủ thuyết khả tín”, siêu cường Hoa Kỳ đã trao cho các quốc gia khác quyền phán xét. Ngày nay, các phán xét đang dồn dập được công khai hóa.  

Từ Bắc Kinh, người ta đã chứng kiến  phản ứng tiêu cực của Trung Quốc trước lời phàn nàn của Hoa Kỳ về giá trị đồng nhân dân tệ; từ Mạc Tư Khoa, giới lãnh đạo Điện Cẩm Linh cũng đã hành động không mấy khác, ngay trong thời gian Ngoại Trưởng Hillary Clinton đang thăm viếng, khi  cho biết họ sẽ khai trương nhà máy năng lượng hạt nhân đầu tiên của Iran ở Bushehr – một hành động gây ngạc nhiên về thời điểm hơn là chất lượng.

Jay Salomon và Peter Spiegal của báo The Wall Street Journal cũng đã nêu rõ: vẫn còn nhiều sự kiện tương tự trong trong những ngày gần đây. Chẳng hạn, Tổng Thống Brazil, Lula da Silva, cũng trong thời gian Clinton đang chính thức thăm viếng, đã tuyên bố sẽ chống lại các biện pháp chế tài Iran do Mỹ áp đặt; Tổng Thống Syria, Bashar Assad, vẫn sẵn sàng sát cánh với T T Mahmoud Ahmadinejad và lãnh đạo Hezbollah, như một thách thức đối với lời kêu gọi của Mỹ: cô lập Iran và các tổ chức kháng chiến.  

Khi người Do Thái, người Iran, người Nga, người Trung Quốc…, và nhất là người Âu châu bắt đầu nói “không”, và tuyên bố nhiều điều bất lợi cho Mỹ, trong khi các viên chức Hoa Kỳ đang thăm viếng, chúng ta hiểu được uy thế của Hoa Kỳ đang trên đà tuột dốc và chúng ta cũng đang sống trong một thế giới mới đã đổi thay.

GS Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

15-9-2010


[1] Let’s  cut the family fighting, the family feud. It’s unnecessary; it’s destructive of our shared national interest. It’s time to lower voices, to get over the family feud between the U.S. and Israel. It just doesn’t serve anybody’s interests but our ennemies.

[2] United States taxpayers are giving Israel roughly $3 billion each year, which amounts to something like  $1,000 for every Israeli citizen, at a time when our own economy is in bad shape and a lot of Americans would appreciate that kind of helping hand from their own government. Given that fact, it is not unreasonable to ask the Israeli leadership to respect  U.S. policy on settlements.

[3] The enduring hostilities between Israel and some of its neighbors present distinct challenges to our ability to advance our interests in [Centcom’s] AOR [Area of Responsibility]. The conflict foments anti-American sentiment, due to a perception of U.S. favoritism for Israel. Arab anger over the Palestinian question limits the strength and depth of U.S. partnerships with governments and peoples in the AOR and weakens the legitimacy of moderate regimes in the Arab world. Meanwhile, al-Qaeda and other militant groups exploit that anger to mobilize support. The conflict also gives Iran influence in the Arab world through its clients, Lebanese Hezbollah and Hamas. Progress toward resolving the political disputes in the Levant, particularly the Arab-Israeli conflict, is a major concern for Centcom.

[4] Gen. Petraeus has simply erred in linking the challenges faced by The U.S. and coalition forces in the region to a solution of the Israeli-Arab conflict, and blaming extremist activities on the absence of peace and the perceived U.S. favoritism for Israel. This linkage is dangerous and counterproductive.

[5]  It is that much more of a concern to hear this coming from such a great American patriot and hero.

[6] There are important and powerful lobbies in America: The NRA, The American Medical Asociation, the lawyers…and the Israel lobby. But no lobby is as important, or as powerful, as the U.S. military.

[7] There is perhaps a two-year shelf life on being told that you’re creating a state, when you’re not.

[8] From my experience, the one precondition for progress [in the Middle East] is that the rest of the world knows this – there is no space between the US and Israel when it comes to security, none. That’s the only time that progress has been made.

[9] …as a dose of formaldehyde that’s necessary so that there will not be a political process  with the Palestinians.

[10]Israel has no real intention of quitting the territories or allowing the Palestinian people to exercise their rights. Israel does not truly intend to pursue peace, because life here seems to be good even without it. The continuation of  the occupation doesn’t just endanger Israel’s future, it also poses the greatest risk to world peace, serving as a pretext for Israel’s most dangerous enemies. No change will come to pass in the complacent, belligerent  and condescending Israel of today.

       QUAN HỆ MỸ-DO THÁI-PALESTINE VÀ GIẢI PHÁP HAI NHÀ NƯỚC

 

Trong kỷ nguyên Obama, tính khả tín của Hoa Kỳ trên toàn cầu đang trên đà suy giảm . Thực vậy, bằng chứng rõ ràng nhất là cách ứng xử của Netanyahu nhân  cuộc viếng thăm Do Thái của Phó Tổng Thống Joe Biden hồi đầu năm. Biden đến với mục đích kích hoạt quá trình hòa bình; Do Thái lại loan báo chương trình xây các khu định cư mới ở Đông Jerusalem. Tin nầy tự nó chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Việc xây cất những khu định cư trong lãnh thổ chiếm đóng luôn là thực tế  liên tục trong chính sách Do Thái từ nhiều năm nay. Điều đáng ngạc nhiên là thời điểm loan báo và phương cách ứng xử của cấp lãnh đạo một xứ đang lệ thuộc sâu xa vào quyền lực và tiền bạc của Hoa Kỳ. Netanyahu rõ ràng đã không ngần ngại làm mất uy tín nhân vật số hai của Mỹ.

QUAN HỆ MỸ-DO THÁI

Âu lo trước cảnh công khai đối đầu giữa chính quyền Obama và chính phủ Do Thái, Nghị sĩ Connecticut, Joe Lieberman – đại diện cho quyền lợi của Đảng Likud của  thủ tướng Benjamin Netanyahu và kỹ nghệ bảo hiểm y tế trước Quốc Hội – đã lên tiếng kêu gọi chấm dứt cãi vã. Lieberman nói: “Chúng ta hãy chấm dứt cảnh xô xát, thù nghịch trong gia đình. Đó là điều không cần thiết; đó là điều tai hại đối với quyền lợi quốc gia chung giữa chúng ta. Đã đến lúc phải xuống giọng, phải bỏ qua thù nghịch gia đình giữa Hoa Kỳ và Do Thái. Nó không có lợi ích cho ai ngoài kẻ thù của chúng ta”[1].

Ý tưởng – Hoa Kỳ và Do Thái là gia đình với quyền lợi quốc gia chung – là một hư cấu tiện lợi Lieberman và phe ủng hộ Do Thái đã không ngừng cổ súy và khai triển ở Hoa Thịnh Đốn trong hai thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, nếu liên hệ thực sự mang tính gia đình, sự xô xát hồi đầu năm giữa Hoa Thịnh Đốn và chính quyền Netanyahu rất có thể phải được xem như một trong những thù nghịch, dù  bộc lộ trong lúc nóng giận, cũng đã đặt thành vấn đề phải tái thẩm định những chuẩn mực chi phối mối tương quan. Sự thật đó không dễ dàng che đậy sau khi hòa khí đã được vãn hồi. Vết rạn nứt tức thời đã loại hẳn khả năng đơn thuần trở lại “tình trạng trước va chạm”.  Trong thực tế, việc tái thương thảo các điều kiện chi phối mối quan hệ  một cách nào đó đã được đưa lên nghị trình.

Đã hẳn, hai chính quyền Obama và Netanyahu hiện đang ráo riết tìm kiếm một phương thức  ra khỏi tình trạng khó xử, bắt đầu với sự kiện người Do Thái đã phục kích Phó Tổng Thống Joe Biden khi loan báo các kế hoạch xây cất 1.600 căn hộ định cư ở Đông Jerusalem đang bị chiếm đóng. Biden đến Do Thái với mục tiêu kích hoạt các nổ lực của chính quyền Obama, tái khởi động thương nghị về thỏa ước hòa bình  hai nhà nước, một mục tiêu luôn bị Do thái cản trở qua chính sách liên tục bành trướng định cư trên lãnh thổ chiếm đóng kể từ 1967.

Cũng như khi Obama đòi hỏi chính quyền Netanyahu phải ngưng hẳn toàn bộ chương trình định cư trong năm 2009, người Do Thái một lần nữa sẽ chống lại mọi yêu cầu đảo ngược hoàn toàn các kế hoạch xây cất mới nhất. Thay vào đó, họ đề nghị một cách trơ trẻn sẽ tiếp tục các hoạt động định cư trên căn bản “không-hỏi-không-nói”, tuy bề ngoài tuyên bố ủng hộ giải pháp hai nhà nước để trấn an người Mỹ, ngay cả khi họ vẫn tiếp tục bào mòn viễn ảnh giải pháp nầy trong thực tế.

Như nguyên ngoại trưởng James Baker đã ghi nhận, không thiếu gì những việc làm táo tợn như thế trong chính phủ Netanyahu. Trong cuộc phỏng vấn gần đây, Baker đã nói: “Người chịu thuế Hoa Kỳ đã giúp Do Thái  3 tỉ USD mỗi năm, khoảng 1.000 USD cho mỗi công dân Do Thái, trong lúc kinh tế chúng tôi đang gặp nhiều khó khăn,  và nhiều người Mỹ cũng sẽ biết ơn một sự trợ giúp như thế từ chính quyền của chính họ. Trước thực tế đó, thật chẳng có gì quá đáng khi chúng tôi đòi hỏi cấp lãnh đạo Do Thái phải tôn trọng chính sách định cư của Hoa Kỳ.”[2]

TƯỚNG LÃNH VÀO CUỘC

Không sớm thì muộn, mớ bòng bong hiện nay rồi cũng đi vào quên lãng. Tuy nhiên, Hoa Thịnh Đốn chắc rồi cũng phải xét lại túi khôn ước lệ của lập trường hậu thuẩn vô điều kiện cho Do Thái, và đưa ra ánh sáng công luận phương cách các chính quyền Hoa Kỳ kế tiếp trong hai thập kỷ qua đã tiếp tay cho Do Thái liên tục bành trướng chế độ chiếm đóng, và liệu chính sách nầy có phù hợp với quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ ở Trung Đông.

Năm 2006, hai nhà tư tưởng thực tiển về chính sách đối ngoại, John Mearhimer và Stephen Walt, đã gây ra một bảo tố lố lăng và đầy thiên kiến khi gợi ý trong tác phẩm Vận Động Hành Lang Do Thái và Chính Sách Đối Ngoại Hoa Kỳ [The Israel Lobby and U.S. Foreign Policy]: các mục tiêu hai bên theo đuổi, trong thực tế, không hề trùng hợp và luôn trái ngược, và phe thân Do Thái đã cực lực vận động hành lang nhằm ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ có lợi cho Do Thái. Phe ủng hộ Do Thái cũng dèm pha sự gợi ý của Nhóm Nghiên Cứu Iraq do T T George W. Bush thành lập: Hoa Kỳ sẽ không thể thành đạt được các mục tiêu của mình ở Trung Đông nếu không giải quyết trước cuộc xung đột Do Thái-Palestine.

Phản ứng đối với lời nhắc – cách ứng xử của Do Thái có thể phương hại đến quyền lợi của Hoa Kỳ –  lần nầy có vẻ êm dịu  khác thường. Lý do chỉ vì sự nhắc nhở đã đến từ Tướng David Petraeus, tư lệnh U.S.Central Command (Centcom), chịu trách nhiệm điều hành hai cuộc chiến đang tiếp diễn hiện nay. Petraeus là vị tướng được các đồng đội cùng thế hệ ca ngợi, và cũng là vị tướng được phe thân Do Thái, phái tân bảo thủ, sùng bái.

Petraeus đã nói với các Nghị Sĩ Thượng Viện: “tình trạng thù nghịch dai dẳng giữa Do Thái và các xứ láng giềng đã là nguyên nhân đưa đến các thử thách rõ ràng đối với khả năng xúc tiến quyền lợi của chúng ta trong khu vực trách nhiệm [Centcom’s Area of Responsibily – AOR]. Sự xung đột đã gây ra cảm nghĩ chống Mỹ xuất phát từ nhận thức lập trường thiên vị Do Thái của Hoa Kỳ. Thái độ căm tức của người Á Rập về vấn đề Palestine đang giới hạn sức mạnh và chiều sâu các đối tác giữa Hoa kỳ và chính quyền và nhân dân trong vùng trách nhiệm [AOR], và làm suy yếu tính chính đáng của các chế độ ôn hòa trong thế giới Á Rập. Trong khi đó, al-Qaeda và các nhóm kháng chiến khác đang lợi dụng thái độ căm giận nầy để huy động yểm trợ. Tình trạng xung đột cũng giúp Iran tăng cường ảnh hưởng trong thế giới Á Rập qua các tổ chức tay chân như Hezbollah ở Lebanon và Hamas. Tiến bộ trong quá trình giải quyết các xung đột chính trị trong vùng Levant [Đông địa trung hải], nhất là xung đột Á Rập-Do Thái, là mối ưu tư lớn lao đối với Centcom.”[3]

Thông thường, bất cứ ai liên kết sự xung đột Do Thái-Palestine với làn sóng chống Mỹ trong thế giới Hồi Giáo đều bị phái tân bảo thủ và phe thân Do Thái chỉ trích. Điển hình, họ sẽ nhạo báng những ai lập luận theo kiểu “liên kết Petraeus” là ngây thơ, tin tưởng al-Qaeda sẽ từ bỏ thánh chiến [jihad] nếu người Do Thái và người Palestine làm hòa với nhau. Vả chăng, đó chỉ là một luận cứ hù dọa rởm: Hoa Kỳ tự mình đã làm nhiều điều gây căm thù trong thế giới Hồi giáo, và chấm dứt xung đột Do Thái-Palestine tự nó sẽ chẳng giải quyết được mối thù nghịch nầy.

Điều quan trọng chính là: một giải pháp công bình cho vấn đề xung đột Do Thái-Palestine là điều kiện cần, nếu chưa đủ, để cải thiện quan hệ giữa Hoa Kỳ và quần chúng trong nhiều xứ Hồi giáo.

Để thăm dò dư luận, Abe Foxman, lãnh đạo Liên Minh Chống Mạ Lỵ [Anti-Defamation League] – chuyên trách phủ nhận dị biệt giữa “chống-Do-Thái” [anti-Semitism] và “phê bình hay thù nghịch đối với Do Thái” [criticism or hostility to Israel] – đã ướm thử: “Tướng Petraeus đã đơn thuần sai lầm khi liên kết những thách thức, Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh đang đối diện trong khu vực, với một giải pháp cho vấn đề xung đột Do Thái-Á Rập, và quy trách các hoạt động cực đoan là do sự thiếu vắng hòa bình và nhận thức lập trường thiên vị của Hoa Kỳ đối với Do Thái. Một liên kết như vậy thật sự nguy hiểm và phản tác dụng”.[4]

Trong thực tế, người ta có thể cảm nhận được nổi đau trong lời thú nhận của Foxman: “mối âu lo càng lớn lao hơn khi đến từ một nhân vật ái quốc và anh hùng Mỹ”.[5] Khi Petraeus đã chọn công khai nói ra những quan ngại của mình – vào lúc cao điểm của vụ va chạm giữa Do Thái và Hoa Kỳ, và ngay ở Capitol Hill, nơi các nhà lập pháp hình như chưa minh định được câu trả lời – đã là một chỉ dấu tính nghiêm chỉnh của giới quân sự khi nhấn mạnh vấn đề.

Mark Perry, một nhà phân tích quân sự và tình báo lâu năm ở Hoa Thịnh Đốn, đã nắm bắt được ý nghĩa đặc biệt của vấn đề trong website Chính Sách Đối Ngoại [Foreign Policy’s website]: “Ở Hoa Kỳ có nhiều nhóm vận động hành lang quan trọng và đầy thế lực: NRA, AMA, các luật sư… và vận đồng hành lang Do Thái. Nhưng không có  nhóm vận động hành lang nào quan trọng và nhiều thế lực như giới quân sự  Mỹ”.[6] Perry cũng đã ghi nhận trong cuộc điều trần của Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Đề Đốc Michael Mullen, vào tháng 1-2010: Petraeus rõ ràng đã gợi ý các vùng lãnh thổ của Palestine – liên tục dưới quyền kiểm soát quân sự tối cao của Do Thái – phải được đặt trong AOR, một viễn ảnh có thể khiến cấp lãnh đạo Do Thái đứng tim .

Điều nầy không có nghĩa tướng Petraeus đặc biệt ghét bỏ hay yêu thương gì nhà nước Do Thái. Vấn đề là: trong vai trò tư lệnh của hàng trăm nghìn quân nhân Mỹ đồn trú trong khu vực được các chiến lược gia ở Hoa Thịnh Đốn gọi là “vòng cung bất ổn” [arc of instability], Petraeus rất quan ngại trước thái độ thù nghịch ngày một gia tăng đối với Hoa Kỳ.

Ý niệm – Hoa Thịnh Đốn cần kiềm chế chính sách bành trướng của Do Thái và áp đặt một giải pháp chính trị cho mối xung đột Do Thái-Palestine – không có gì mới mẻ đối với giới quân nhân Mỹ, những người không mấy quan tâm đến khía cạnh tình cảm. Nguyên Ngoại Trưởng Colin Powell và nguyên Đặc Sứ Trung Đông của Mỹ , Tướng Anthony  Zinni, những người đã trải nghiệm quá trình trưởng thành trong khu vực, cũng chia sẻ những quan ngại hiện nay của Petraeus.

Tướng Keith Dayton – người chịu trách nhiệm: thành lập và huấn luyện lực lượng an ninh giúp Nhà Cầm Quyền Palestine, lực lượng đã dẹp các kháng chiến quân ở West Bank, và kiềm hãm không cho phép lực lượng nầy tấn công Do Thái trong mấy năm vừa qua – cũng chẳng dè dặt gì hơn Petraeus trong bài nói chuyện ở Hoa Thịnh Đốn trong năm rồi. Ông đã nhấn mạnh tiền đề khi thành lập lực lượng dưới quyền và đã chịu mọi chỉ trích ngay bên trong cộng đồng xem đây chỉ là đội quân cảnh của Do Thái: những quân nhân trong lực lượng nầy tin họ là hạt nhân của quân đội của nhà nước tương lai Palestine. Ông còn cảnh cáo, không nên xem lòng trung thành của những binh sĩ dưới quyền là đương nhiên: “có lẽ có hai năm chờ đợi khi được cho biết quý vị đang thành lập một nhà nước , trong khi quý vị không làm như vậy”[7].

Báo chí Do Thái cũng trích đăng: bên sau các cánh cữa khép kín, Phó Tổng Thống Biden đã quở trách Netanyahu về những kế hoạch bành trướng định cư, cảnh cáo việc làm nầy sẽ làm gia tăng bất trắc và hiểm nguy đối với sinh mạng của các viên chức Hoa Kỳ ở Iraq, Afghanistan và Pakistan.

HIỆN TRẠNG VÀ VAI TRÒ CỦA HOA KỲ

Trước công chúng, đã hẳn, Biden cũng nói không mấy khác Lieberman: “Theo kinh nghiệm của tôi, điều kiện tiên quyết cho tiến bộ [ở Trung Đông], như cả thế giới đều biết, là không có khoảng cách giữa Hoa Kỳ và Do Thái khi nói đến an ninh, không có. Chính những  lúc đó tiến bộ đã được thực hiện”[8].

Trong thực tế, lịch sử xung đột Do Thái-Palestine cho thấy sự thật hoàn toàn trái ngược . Nguyên ủy quá trình hòa bình, chính quyền Obama nay đang tìm cách phục sinh,  không hề liên hệ đến một hậu thuẩn vô điều kiện của Hoa Kỳ dành cho Do Thái. Ngược lại, nguyên ủy đó đã nằm trong quyền lợi quốc gia cơ sở trên một sự yểm trợ đứng đắn, hay như  người Mỹ thường nói – tough love, của chính quyền George H.W. Bush.

Phát sinh từ một quan niệm thực tiển về quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ ở Trung Đông – vào lúc chiến dịch quân sự, nhằm đẩy lùi các lực lượng Iraq của Saddam Hussein ra khỏi Kuwait, đã dàn trải hàng trăm nghìn binh sĩ Mỹ trong vùng –  chính quyền Bush I đã nhận diện được nhu cầu quân bình quyền lợi phải chăng của Do Thái với quyền lợi của các quốc gia Á Rập láng giềng. Chính vì vậy, năm 1991, người Mỹ đã kéo lê chính quyền diều hâu Likud của Yitzhak Shamir tới hội nghị Madrid, do đó, đã phá vỡ điều cấm kỵ trong địa hạt an ninh của Do Thái: trực tiếp thương nghị với Tổ Chức Giải Phóng Palestine – PLO của Yasir Arafat.

Chính quyền Bush I cũng đã nêu rõ: Do Thái sẽ chịu hậu quả tức thì và đau đớn nếu tiếp tục chương trình định cư trên phần lãnh thổ xâm thực trong cuộc chiến 1967, những xây cất lúc đó được gọi không những “vô bổ” [unhelpful] – một mỹ từ các tổng thống Bill Clinton, George W. Bush, và nay Barack Obama ưa chuộng – mà còn “bất hợp pháp” [illegal]. Theo lệnh của Bush I và ngoại trưởng Jim Baker, Hoa Thịnh Đốn đã đe dọa rút lại cam kết bảo đảm 10 tỉ tiền vay nếu Do Thái tiếp tục xâm thực lãnh thổ Palestine. Trong cuộc khủng hoảng chính trị sau đó, người Do Thái, hiểu rõ tình trạng lệ thuộc vào sự hậu thuẩn mang tính quyết định của Hoa Kỳ, đã phải bầu chọn Yitzak Rabin thay thế Shamir trong chức vụ thủ tướng.

Rabin sau đó đã được ca ngợi như một lãnh tụ  can đảm khi quyết định đổi hướng trước sư chống đối kịch liệt trong nội bộ. Tuy nhiên, muốn hiểu rõ tình hình thực tế, chúng ta cũng cần đọc kỷ lại lịch sử.

Chỉ ba năm trước đó, chính Rabin đã ra lệnh cho quân đội Do Thái dùng dùi cui đánh gảy tay gảy chân các thiếu niên ném đá, hy vọng chận đứng được phong trào nổi dậy  hay intifada của người Palestine. Đã hẳn Rabin đã không vồ vập quá trình hòa bình Oslo với PLO vì một thức tỉnh bất chợt của lương tâm đạo đức nào đó. Rabin chỉ quyết định đổi hướng sau khi bình tĩnh tính toán và tái thẩm định vị trí chiến lược của mình.

Trong cùng thời điểm, Hoa kỳ nhận thấy nhiều lợi điểm trong việc tạo dựng một Pax Americana trong vùng,  một quyết định đòi hỏi sự hậu thuẩn của thế giới Á Rập. Với chiến tranh lạnh đã chấm dứt, giá trị của Do Thái như một đồng minh đang suy giảm. Cùng lúc, các chính sách bành trướng đối nghịch với công luận trong các xứ Á Rập và đặt chính quyền các xứ nầy vào vị thế khó khăn và dễ thương tổn trong vai trò đồng minh của Hoa Kỳ, một quốc gia hậu thuẩn cho Do Thái, Hoa Thịnh Đốn nhận thấy Do Thái ngày một trở thành một món nợ nặng gánh hơn.

Vì vậy, Rabin đã có lý do để tin hậu thuẩn của Hoa Kỳ, dành cho Do Thái phương hại đến quyền lợi các xứ Á Rập láng giềng, không thể vô điều kiện hay vĩnh cữu. Trong lúc đó, PLO cũng đã suy yếu nhiều sau nhiều năm tấn công quân sự của Do Thái và sau quyết định “sai lầm” ủng hộ Saddam Hussein trong cuộc chiến Vùng Vịnh I. Và Rabin kết luận, thời cơ đã đến để thương thảo với Palestine một giải pháp chính trị trong những điều kiện thuận lợi lúc đó, bằng cách đổi West Bank và Gaza lấy hòa bình.

DUY TRÌ HIỆN TRẠNG, PHÍ TỔN VÀ LỢI ÍCH

Thực vậy, Rabin đã hành động vì hiểu được hậu quả duy trì hiện trạng [status quo] hình như lúc một bất lợi hơn. Tuy nhiên, đây vẫn là một hành động can đảm. Người ta cũng có thể nói như thế  về Tổng Thống da trắng cuối cùng của Nam Phi – F.W. de Klerk. Klerk đã chọn lựa thương thuyết chấm dứt chính sách phân biệt chủng tộc với đảng ANC của Nelson Mandela,  bởi lẽ sự tan rã của Liên Bang Xô Viết đã lấy mất lý do khá thuyết phục khi Hoa Kỳ và các cường quốc Tây Phương hậu thuẩn cho chế độ cầm quyền da trắng của ông. Cùng một luận lý, có lẽ hệ thống chính trị Xô Viết đã không đưa Mikhail Gorbachev lên cầm quyền nếu KGB, trước đó, đã không quyết định những đổi thay tối quan trọng là thực sự cần thiết để ngăn ngừa Mạc Tư Khoa khỏi bị lu mờ trong vị thế một siêu cường trước các tiến bộ kỷ thuật và kinh tế của Tây phương.

Nếu áp lực của Hoa Kỳ cũng như viễn tượng cô lập và ô nhục đã là nguyên nhân Do Thái phải chấp nhận giải pháp hai nhà nước,  sự buông lỏng áp lực và sáng tạo một ý niệm “gia đình” trong quan hệ Hoa Kỳ-Do Thái cũng đã trùng hợp với một sự chuyển dịch ngày một xa dần quá trình hòa bình. Ngay cả vào thời điểm cao độ của kỷ nguyên Oslo, người Do Thái, được Clinton chiều chuộng, đã tiếp tục bành trướng các chương trình định cư phương hại cho viễn ảnh địa lý của một nhà nước Palestine.

Ariel Sharon và Netanyahu đã tìm cách chứng minh Rabin đã sai lầm. Cả hai tin có thể duy trì hậu thuẩn của Hoa Kỳ mà không phải nhượng bộ về một nhà nước Palestine, qua việc kiên trì vận động hành lang Tòa Bạch Ốc, Capitol Hill, và công luận.

Sharon và Netanyahu đã thắng thế khi “chiến lược nổ bom cảm tử”,  được intifada II của Palestine sử dụng, và  “biến cố 11-9”,  đã thúc đẩy chính quyền Bush quan niệm lại chính trị thế giới trên căn bản “Cuộc Chiến Chống Khủng Bố Toàn Cầu” [Global War on Terror]. Trong bối cảnh đó, giới chính trị  Hoa Thịnh Đốn giờ đây chấp nhận Do Thái không chỉ như một đồng minh trong cuộc chiến, mà còn như một mô hình lãnh đạo chiến tranh.

Trong những năm George W. Bush, quá trình hòa bình với giải pháp hai nhà nước, vì vậy, đã trở thành những chiêu bài trống rỗng, đầu môi chót lưỡi, của cấp lãnh đạo Do Thái và phe ủng hộ ở Hoa Thịnh Đốn, trong lúc họ vẫn tiếp tục chính sách nghiền nát phong trào quốc gia Palestine và bành trướng định cư. Trong thực tế, lộ trình hòa bình – chuổi những động thái tương tác được thiết kế với mục đích xây dựng lòng tin,  nhằm hoàn tất các cuộc thương nghị về quy chế cuối cùng và thực thi giải pháp hai nhà nước – cũng đã mai một ngay sau khi Ariel Sharon lên cầm quyền vào tháng 2-2001.

Ngay cả cuộc triệt thoái dân định cư Do Thái khỏi Gaza năm 2005 cũng chưa bao giờ được quan niệm theo hướng lộ trình hòa bình; và cũng chẳng được thương thảo hay phối trí với Nhà Cầm Quyền Palestine. Thực ra, Sharon đã quan niệm cuộc triệt thoái đơn phương của ông như một biện pháp thay thế cho thỏa ước hòa bình. Cuộc triệt thoái đã được thiết kế, như Dov Weissglass đã giải thích,” như một liều thuốc bảo quản cần thiết hầu tránh lộ trình chính trị với người Palestine”[9].

Mặc dù người Á Rập lúc một căm giận, chính quyền Bush vẫn không sẵn sàng gây áp lực buộc người Do Thái phải hoàn tất lộ trình hòa bình. Với áp lực bên ngoài, nhất là từ Hoa Kỳ, không còn đáng lo ngại, áp lực chính trị từ bên trong Do Thái cũng sụp đổ. Dân Palestine giờ đây bị vây hãm và cô lập bên trong bức tường ngăn cách xuyên vùng West Bank và quanh giải Gaza. Hoàn cảnh bi đát của họ, một lần nữa, không còn phơi bày trước mắt nhiều người Do Thái. 40% dân Do Thái không còn quan tâm đến lộ trình hòa bình; và  20% tin lộ trình giờ đây cũng rất ít hy vọng đem lại kết quả.

Gideon Levy, nhà bình luận chính trị Do Thái đã viết trên báo Haaretz hồi đầu tháng 3-2010: “Do thái không có ý định từ bỏ các lãnh thổ [chiếm đóng] hay cho phép dân Palestine hành xử quyền hạn của họ. Do Thái không thực sự muốn theo đuổi hòa bình, bởi lẽ đời sống ở đây hình như khá tốt ngay trong hiện trạng. Tiếp tục chính sách chiếm đóng không những nguy hiểm cho tương lai Do Thái, mà gây  bất trắc lớn lao cho hòa bình thế giới, tạo cớ cho nhiều kẻ thù tối nguy hiểm của chính Do Thái. Dù sao, khó có gì thay đổi trong một Do Thái tự mãn, hiếu chiến và kiêu ngạo hiện nay”[10].

Chính quyền Obama không thể nuôi ảo tưởng về vấn đề nầy. Obama  buộc lòng  phải đối diện vì một loại áp lực khác. Cuộc Chiến Chống Khủng Bố đầy phiêu lưu của Bush đã đến lúc phải tính sổ. Những người chịu trách nhiệm duy trì địa vị đế quốc Hoa Kỳ trong thế giới Hồi giáo nay đang lên tiếng cảnh cáo: cái giá phải trả cho chính sách tiếp tục cho phép Do Thái lẫn tránh trách nhiệm tìm kiếm một giải pháp công bình đối với người Palestine có thể sẽ rất cao – và, tệ hơn nữa, không cần thiết.

Các nhà lãnh đạo và cử tri Do Thái đã chứng tỏ đầy đủ, tự họ, họ sẽ không tự nguyện buông quyền kiểm soát  lãnh thổ Palestine, chừng nào họ không phải trả giá cho các hậu quả của chính sách duy trì “hiện trạng”. Đã hẳn, quý vị có thể bảo người Do Thái hiện trạng không thể duy trì, nhưng lịch sử Do Thái từ thập kỷ 1920s luôn chứng tỏ niềm tin có thể chuyển hóa “điều không thể” thành “điều không thể tránh” bằng cách thay đổi các sự kiện thực tế. Xây cất những khu định cư trên lãnh thổ chiếm đóng vi phạm luật quốc tế sau năm 1967 hình như là “điều không có thể”  vào thời điểm đó; ngày nay, chính phủ Hoa Kỳ lại trấn an người Do Thái là họ “sẽ giữ lại” hầu hết các khu định cư quan trọng trong giải pháp hai nhà nước. Rõ ràng, đúng theo lối luận lý ngẩu hứng nầy, Sharon đã tính toán ông ta có thể duy trì các khu định cư ở West Bank nếu chịu từ bỏ những khu định cư ở Gaza. Cùng một luận lý cho phép Netanyahu nói đến cụm từ “hai nhà nước cho hai dân tộc” trong khi luôn ngầm báo cho cử tri Do Thái ông không hề có ý định cho phép điều nầy xẩy ra.

Lộ trình hòa bình đòi hỏi Do Thái và người Palestine phải thành đạt một đồng thuận song phương về phân phối đất đai và quyền hạn, dưới sự thúc giục của các trung gian Hoa Kỳ, là một lộ trình yểu tử – và vì vậy, khó thể đưa đến mục tiêu ngày một khẩn thiết trong quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ. Người ta có thể lập luận với người Do Thái, đây là điều ngày một quan trọng hơn đối với chính họ, bởi lẽ hiện trạng đã bào mòn viễn ảnh một giải pháp hai nhà nước đến mức cả hai bên có thể phải sống trong một tình trạng xung đột mang tính tai họa lâu dài hơn, và chua cay hơn.

Vì vậy, có lẽ Phó Tổng Thống Biden cần được nhắc nhở  : tiến bộ ở Trung Đông sẽ không thể thành đạt cho đến lúc nào Hoa Kỳ thành công đem lại một thay đổi trong phương pháp phân tích phí tổn-lợi ích [cost-benefit analysis]  của chính sách duy trì “hiện trạng” của Do Thái. Lãnh tụ Do Thái duy nhất có đủ khả năng chấp nhận các thông số của một nền hòa bình hai nhà nước với Palestine, như đã được nhiều người biết đến, là người có thể chứng minh cho các cử tri Do Thái thấu hiểu: các giải pháp thay thế sẽ tồi tệ hơn gấp nhiều lần. Hiện nay, thiếu áp lực thực sự từ phía Hoa Kỳ, không hiểu rõ thực giá phải trả, chẳng có gì ngoài lời nói suông, đơn thuần ít ai thấy khía cạnh tiêu cực của “hiện trạng” đối với Do Thái. Cho đến khi hiểu rõ cái giá rất đắt phải trả, hiện trạng sẽ không thay đổi, dù cho nguy cơ đối với quân đội Mỹ trong vùng Trung Đông ngày một gia tăng.

KHỦNG HOẢNG KHẢ TÍN

Với vụ xô xát giữa Biden và Netanyahu, hay theo ngôn từ của Lieberman, vụ xung đột hay thù nghịch trong “gia đình Hoa Kỳ-Do Thái”, với hai cuộc chiến tốn kém tiêu hao đang diễn tiến, và với vô vàn khó khăn phải đối phó trong quốc nội, Hoa Thịnh Đốn ngày một khó lòng duy trì hình ảnh khả tín ở hải ngoại. Nhiều quan sát viên đã thảo luận về hành động gây kinh ngạc của Do Thái, nhất là trong bối cảnh chính trị Trung Đông.

Năm mươi năm trước đây, các nhà tư tưởng chiến lược Hoa Kỳ luôn tìm cách truyền bá và phát huy hình ảnh một siêu cường Hoa Kỳ với sức mạnh quân sự, kinh tế, chính trị vô song và một ý chí không lay chuyển sử dụng uy lực của mình trong sinh hoạt chính trị thế giới. Với sự ra đời của cái mà Jonathan Schell gọi là “chủ thuyết khả tín”, siêu cường Hoa Kỳ đã trao cho các quốc gia khác quyền phán xét. Ngày nay, các phán xét đang dồn dập được công khai hóa.  

Từ Bắc Kinh, người ta đã chứng kiến  phản ứng tiêu cực của Trung Quốc trước lời phàn nàn của Hoa Kỳ về giá trị đồng nhân dân tệ; từ Mạc Tư Khoa, giới lãnh đạo Điện Cẩm Linh cũng đã hành động không mấy khác, ngay trong thời gian Ngoại Trưởng Hillary Clinton đang thăm viếng, khi  cho biết họ sẽ khai trương nhà máy năng lượng hạt nhân đầu tiên của Iran ở Bushehr – một hành động gây ngạc nhiên về thời điểm hơn là chất lượng.

Jay Salomon và Peter Spiegal của báo The Wall Street Journal cũng đã nêu rõ: vẫn còn nhiều sự kiện tương tự trong trong những ngày gần đây. Chẳng hạn, Tổng Thống Brazil, Lula da Silva, cũng trong thời gian Clinton đang chính thức thăm viếng, đã tuyên bố sẽ chống lại các biện pháp chế tài Iran do Mỹ áp đặt; Tổng Thống Syria, Bashar Assad, vẫn sẵn sàng sát cánh với T T Mahmoud Ahmadinejad và lãnh đạo Hezbollah, như một thách thức đối với lời kêu gọi của Mỹ: cô lập Iran và các tổ chức kháng chiến.  

Khi người Do Thái, người Iran, người Nga, người Trung Quốc…, và nhất là người Âu châu bắt đầu nói “không”, và tuyên bố nhiều điều bất lợi cho Mỹ, trong khi các viên chức Hoa Kỳ đang thăm viếng, chúng ta hiểu được uy thế của Hoa Kỳ đang trên đà tuột dốc và chúng ta cũng đang sống trong một thế giới mới đã đổi thay.

GS Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

15-9-2010


[1] Let’s  cut the family fighting, the family feud. It’s unnecessary; it’s destructive of our shared national interest. It’s time to lower voices, to get over the family feud between the U.S. and Israel. It just doesn’t serve anybody’s interests but our ennemies.

[2] United States taxpayers are giving Israel roughly $3 billion each year, which amounts to something like  $1,000 for every Israeli citizen, at a time when our own economy is in bad shape and a lot of Americans would appreciate that kind of helping hand from their own government. Given that fact, it is not unreasonable to ask the Israeli leadership to respect  U.S. policy on settlements.

[3] The enduring hostilities between Israel and some of its neighbors present distinct challenges to our ability to advance our interests in [Centcom’s] AOR [Area of Responsibility]. The conflict foments anti-American sentiment, due to a perception of U.S. favoritism for Israel. Arab anger over the Palestinian question limits the strength and depth of U.S. partnerships with governments and peoples in the AOR and weakens the legitimacy of moderate regimes in the Arab world. Meanwhile, al-Qaeda and other militant groups exploit that anger to mobilize support. The conflict also gives Iran influence in the Arab world through its clients, Lebanese Hezbollah and Hamas. Progress toward resolving the political disputes in the Levant, particularly the Arab-Israeli conflict, is a major concern for Centcom.

[4] Gen. Petraeus has simply erred in linking the challenges faced by The U.S. and coalition forces in the region to a solution of the Israeli-Arab conflict, and blaming extremist activities on the absence of peace and the perceived U.S. favoritism for Israel. This linkage is dangerous and counterproductive.

[5]  It is that much more of a concern to hear this coming from such a great American patriot and hero.

[6] There are important and powerful lobbies in America: The NRA, The American Medical Asociation, the lawyers…and the Israel lobby. But no lobby is as important, or as powerful, as the U.S. military.

[7] There is perhaps a two-year shelf life on being told that you’re creating a state, when you’re not.

[8] From my experience, the one precondition for progress [in the Middle East] is that the rest of the world knows this – there is no space between the US and Israel when it comes to security, none. That’s the only time that progress has been made.

[9] …as a dose of formaldehyde that’s necessary so that there will not be a political process  with the Palestinians.

[10] Israel has no real intention of quitting the territories or allowing the Palestinian people to exercise their rights. Israel does not truly intend to pursue peace, because life here seems to be good even without it. The continuation of  the occupation doesn’t just endanger Israel’s future, it also poses the greatest risk to world peace, serving as a pretext for Israel’s most dangerous enemies. No change will come to pass in the complacent, belligerent  and condescending Israel of today.

Advertisements