VÀI SỰ THẬT TRONG NỬA THẾ KỶ QUAN HỆ CUBA-HOA KỲ

Chế độ độc tài Batista đã bị lực lượng du kích Castro lật đổ tháng 1-1959. Tháng ba cùng năm, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ[1] (NSC) đã nghiên cứu phương cách thay đổi chế độ, và tháng năm, CIA đã bắt đầu vũ trang quân du kích chống Cuba. Suốt mùa đông 1959-60, dưới sự giám sát của CIA, các phi vụ không tạc do các phi công Cuba lưu vong ở Mỹ thực hiện ngày một gia tăng.

THỰC TẾ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI VÀ THÁI ĐỘ ĐẾ QUỐC

Chúng ta chẳng cần tưởng tượng phản ứng của người Mỹ và các xứ khách hàng trong những trạng huống tương tự. Riêng Cuba đã không trả đũa bằng các hành vi bạo lực bên trong nước Mỹ. Thay vào đó, họ đã tuân thủ luật pháp quốc tế. Tháng 7-1960, Cuba đã gửi đến Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc hồ sơ liên quan khoảng 20 vụ oanh tạc, với đầy đủ tên phi công,  ký hiệu phi cơ, những bom không nổ, và nhiều chi tiết đặc thù khác. Cuba cũng đã  phúc trình các thiệt hại và thương vong, và kêu gọi LHQ giải quyết vấn đề theo đường lối ngoại giao.

Trong phúc đáp, Đại sứ Henry Cabot Lodge đã quả quyết “Hoa Kỳ không theo đuổi mục đích gây hấn với Cuba.”[2] Trong thực tế, sáu tháng trước đó, vào tháng 3-1960, Hoa Thịnh Đốn đã bí mật lấy quyết định chính thức phải lật đổ chính quyền Castro, và chiến dịch xâm lăng Vịnh Con Heo đã được chuẩn bị khá kỷ lưởng.

Hoa Thịnh Đốn quan ngại Cuba có thể tìm cách tự vệ. Vì vậy, Allen Dulles, giám đốc CIA, đã thúc đẩy Anh Quốc ngưng cung cấp vũ khí cho Cuba. Theo phúc trình  của Đại sứ Anh về Luân Đôn, “lý do chính của Dulles là điều nầy có thể thúc đẩy người Cuba yêu cầu Xô Viết hay khối Xô Viết viện trợ vũ khí, một động thái có thể có hiệu quả ghê gớm”[3]cho phép Hoa Thịnh Đốn mô tả Cuba như một đe dọa đối với an ninh Tây bán cầu, đúng theo kịch bản rất thành công trước đây ở Guatemala.

 Dulles đang nói đến việc Hoa Thịnh Đốn đã thành công trong nổ lực phá hủy cuộc thí nghiệm dân chủ đầu tiên ở Guatemala. Như tình báo Hoa Kỳ đã phúc trình, trong khoảng thời gian 10 năm, hy vọng xen kẻ với tiến bộ, Hoa Thịnh Đốn đã rất âu lo vì sự ủng hộ lớn lao của quần chúng và tác động minh chứng của các biện pháp kinh tế xã hội có lợi cho đại đa số nhân dân. Sự đe dọa của khối Xô Viết thường được viện dẫn, và được tăng cường bởi sự kiện Guatemala đang lệ thuộc vào vũ khí của khối Xô Viết sau khi người Mỹ de dọa tấn công và cắt đứt các nguồn tiếp liệu khác. Kết quả là nửa thế kỷ ghê rợn và tình hình còn tệ hại hơn cả dưới thời các chế độ chuyên chế bạo ngược được Mỹ yểm trợ trước đây.

Đối với Cuba, các âm mưu bởi phe bồ câu không mấy khác các mưu đồ của giám đốc CIA Dulles. Cảnh cáo T T Kennedy về những hậu quả ngoại giao và chính trị tai hại không thể tránh của một cuộc xâm lăng Cuba được hoạch định bởi một lực lượng ủy nhiệm, Arthur Schlesinger đã gợi ý những nổ lực sập bẩy Castro trong một hành động có thể được sử dụng như  lý do để xâm lăng:”người ta có thể quan niệm một chiến dịch đen , chẳng hạn ở Haiti, có thể kịp thời cám dỗ Castro gửi vài tàu biển đầy người đến bãi biển Haiti trong động thái có thể mô tả như  nổ lực lật đổ chế độ Haiti,…lúc đó vấn đề đạo đức có thể rất mập mờ, và chiến dịch chống Mỹ có thể bị chận đứng ngay từ đầu.” Đối tượng là chế độ độc tài “Papa Doc” Duvalier, được Hoa Kỳ hổ trợ (với vài dè dặt), do đó,  một nổ lực giúp người Haiti lật đổ chế độ có thể được xem như một tội phạm.

Kế hoạch Tháng Ba 1960 của Eisenhower kêu gọi lật đổ Castro để thay thế bằng một chế độ “tận tình với quyền lợi đích thực của người dân Cuba và dễ được Hoa  Kỳ chấp nhận, kể cả ủng hộ các hoạt động quân sự ngay bên trong đảo quốc Cuba và phát triển một lực lượng bán quân sự thích đáng bên ngoài Cuba.”[4] Tin tức tình báo cho biết sự ủng hộ của quần chúng dành cho Castro rất vững chắc, nhưng Hoa Kỳ sẽ quyết định “những quyền lợi đích thực của nhân dân Cuba.”[5] Sự thay đổi chế độ sẽ được thực hiện “trong phương cách khả dĩ tránh được bề ngoài của một hình thức can thiệp của Hoa Kỳ,”[6] nhằm tránh phản ứng tiên liệu trong châu Mỹ La Tinh và các vấn đề quản lý truyền thông quốc nội.

CHIẾN DỊCH MONGOOSE

Chiến dịch xâm lăng Vịnh Con Heo đã diễn ra một năm sau đó, vào tháng 4-1961, sau ngày Kennedy đắc cử tổng thống. Cuộc hành quân đã được chấp thuận trong bầu không khí kích động cuồng loạn đối với Cuba trong Tòa Bạch Ốc, như Robert McNamara về sau đã điều trần trước Ủy Ban Nghị Sĩ Church ở Thượng Viện. Theo ghi nhận trong phạm vi riêng tư  của Chester Bowles, trong phiên họp hội đồng nội các đầu tiên sau khi cuộc xâm lăng đã thất bại, không khí hết sức căm phẩn và gay gắt: ” một phản ứng gần như điên cuồng đòi hỏi một chương trình hành động.”[7] Tại phiên họp của NSC hai ngày sau đó, Bowles nhận thấy bầu không khí “không kém phần cảm tính” và rất ngạc nhiên trước sự “hoàn toàn thiếu liêm chính đạo đức.”[8]

Tâm trạng chung đã được phản ảnh trong lời tuyên bố của Kennedy. Kennedy đã nói với dân Mỹ: “Những kẻ tự mãn, những người dễ bằng lòng, các tổ chức yếu mềm sắp bị quét sạch cùng với các đổ nát của lịch sử. Chỉ có những người kiên cường …mới có thể sống sót”[9] – một đề tài phe Reagan đã có thể sử dụng hiệu quả trong cuộc chiến chống khủng bố của riêng họ. Kennedy cũng đã ý thức các đồng minh có thể nghĩ “chúng ta hơi điên”[10] về đề tài Cuba, một cảm nhận kéo dài cho đến ngày nay.

Kennedy đã phát động cuộc cấm vận tàn bạo đối với quốc gia nhỏ bé, hầu như đã trở thành một thuộc địa thực sự của Hoa Kỳ trong suốt 60 năm tiếp theo sau ngày “giải phóng” khỏi Tây Ban Nha.

Kennedy cũng đã ra lệnh tăng cường chiến dịch khủng bố: yêu cầu em trai ông, Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy, cầm đầu một ủy ban liên bộ giám sát chương trình Mongoose, một chương trình khủng bố bán quân sự, chiến tranh kinh tế và phá hoại, vào cuối năm 1961, để lật đổ Castro.

Chiến dịch khủng bố không phải là một chuyện đùa, Jorge Dominguez viết trong một tạp chí về những tư liệu vừa được giải mật liên quan đến các chiến dịch dưới thời Kennedy, những tư liệu đã được kiểm duyệt nặng nề và theo Piero Gleijeses, cũng mới chỉ là đầu típ của tảng băng.

Theo Mark White, cuộc hành quân  Mongoose là “tâm điểm  chính sách Hoa Kỳ đối với Cuba từ 1961 cho đến lúc khởi đầu cuộc khủng hoảng tên lửa 1962,[11] một chương trình hai anh em Kennedy “đã đặt nhiều hy vọng”. Robert Kennedy đã thông báo cho CIA: vấn đề Cuba “mang ưu tiên hàng đầu của chính quyền Hoa Kỳ — tất cả những gì khác chỉ thứ yếu — dù mất bao nhiêu thì giờ, nổ lực, hay nhân lực” trong nổ lưc lật đổ chế độ Castro. Người đứng đầu chiến dịch Mongoose, Edward Lansdale, cũng đã cung cấp thời biểu khởi động“cuộc dấy loạn công khai và lật đổ chế độ Cộng Sản” vào tháng 10-1962[12]. “Định nghĩa cuối cùng” của chương trình công nhận: “thành công cuối cùng sẽ đòi hỏi sự can thiệp quân sự quyết định của Hoa Kỳ,” sau khi các nhóm khủng bố và phá hoại đã đặt xong căn bản[13]. Điều nầy có nghĩa: sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ phải diễn ra trong tháng 10-1962.  Nhưng không may, cuộc khủng hoảng tên lửa lại bộc phát cùng lúc.

Tháng 2-1962, Bộ Tham Mưu Liên Quân đã chấp thuận một kế hoạch cực đoan hơn cả kế hoạch của Schlesinger: sử dụng “các phương tiện bí mật để cám dỗ hay khiêu khích Castro, hay một tay chân không thể kiểm soát, khơi mào một phản ứng công khai thù nghịch chống lại Hoa Kỳ –  một phản ứng đem lại một biện minh cho Hoa Kỳ không những trả đũa mà còn tiêu diệt Castro một cách nhanh chóng, mạnh mẻ và quyết định.”[14] Do yêu cầu của Dự Án Cuba của Bộ Quốc Phòng (DOD Cuba Project), trong tháng 3, Bộ Tham Mưu Liên Quân đã đệ trình văn bản ghi nhớ lên Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara, phác thảo những nét chính “các duyên cớ dưới mắt họ đủ để biện minh cho một can thiệp quân sự vào Cuba.”[15] Kế hoạch có thể được thực thi nếu “cuộc dấy loạn trong nội bộ đáng tin không thể thành đạt trong vòng 9-10 tháng tới”, nhưng phải trước khi Cuba có thể thiết lập quan hệ với Nga – điều “có thể khiến Liên Bang Xô Viết trực tiếp bị dính líu.”[16]

Vì vậy, một biện pháp khủng bố thận trọng hơn có lẽ tránh được những bất trắc của  can thiệp quân sự .

Kế hoạch Tháng Ba nhằm xây dựng “nhiều sự kiện riêng rẽ để ngụy trang mục tiêu tối hậu và tạo ấn tượng cần thiết về sự liều lĩnh và tầm trách nhiệm của Cuba trên một căn bản rộng lớn, nhằm nhiều xứ khác cũng như Hoa Kỳ,” đặt Hoa Kỳ “vào vị trí nạn nhân cần tự vệ và tạo hình ảnh quốc tế của một đe dọa Cuba đối với hòa bình ở Tây Bán Cầu.”

Những biện pháp đề nghị bao gồm một tàu biển Mỹ nổ tung trong Vịnh Guantanamo, phổ biến danh sách các thương vong trên báo chí Hoa Kỳ để kích động một làn sóng căm phẫn toàn quốc thuận lợi,” miêu tả những cuộc điều tra của người Cuba như những bằng chứng xác thực chiếc tàu đã bị tấn công,” khai triển một chiến dịch khủng bố của Cộng Sản Cuba ở Florida và ngay cả ở Hoa Thịnh Đốn,” sử dụng những bom lửa của khối Xô Viết để tấn công và đốt phá các đồng mía trong những xứ láng giềng, bắn hạ một phi cơ không người lái ngụy trang như một phi cơ chở sinh viên trong dịp lễ, và nhiều âm mưu khéo léo tương tự — không cần thực thi, chỉ để tạo biểu hiệu một tình trạng sôi động và tàn bạo đang lan tràn.

Ngày 23 tháng 8, tổng thống ban hành một văn kiện ghi nhớ – Memorandum số 181,  “chỉ thị tổ chức một cuộc dấy loạn nội bộ được tiếp nối bởi một can thiệp quân sự của Hoa Kỳ, liên quan những kế hoạch quân sự quan trọng, các cuộc thao diễn quân sự,  và điều động lực lượng và trang thiết bị.” Cũng trong tháng 8, các cuộc tấn công khủng bố được tăng cường, kể cả các cuộc tấn công bằng speed-boats vào một khách sạn Cuba ven biển “nơi các kỷ thuật gia quân sự Xô Viết thường lui tới, giết hàng chục người Nga và Cuba”, tấn công các tàu Anh và Cuba, gây ô nhiễm các tàu chở đường, và nhiều hành động tàn ác và phá hoại khác, hầu hết đều do các tổ chức Cuba lưu vong được phép hoạt động tự do ở Florida. Vài tuần lễ sau, thế giới chứng kiến thời khắc nguy hiểm nhất trong lịch sử nhân loại.

PHẢN ỨNG BÁO CHÍ

Các hoạt động khủng bố vẫn tiếp tục trong giai đoạn căng thẳng nhất của cuộc khủng hoảng tên lửa. Tình trạng nầy trên danh nghĩa đã chính thức chấm dứt vào ngày 30-10-1962, vài ngày sau thỏa ước Kennedy-Khushchev, nhưng trong thực tế, vẫn được tiếp tục. Ngày 8 tháng 11, theo chính quyền Cuba, “một đội phá hoại bí mật người Cuba xuất phát từ Hoa Kỳ đã thành công phá hủy một cơ sở kỹ nghệ Cuba bằng chất nổ, giết hại 400 công nhân. Raymond Garthoff viết: “người Xô Viết chỉ có thể xem cuộc tấn công như một cố gắng đi lui trong vấn đề then chốt còn lại:  các cam kết của Hoa Kỳ sẽ không tấn công Cuba.”[17] Ông kết luận, sự kiện nầy và các hành động tương tự một lần nữa tiết lộ: “các bất trắc và nguy cơ đối với cả hai phía đã có thể lên đỉnh điểm, không loại bỏ tai họa.”[18]

Sau khi cuộc khủng hoảng chấm dứt, Kennedy vẫn tiếp tục chiến dịch khủng bố. Mười ngày trước khi bị ám sát, Kennedy đã chấp thuận một kế hoạch phá hoại của CIA, sử dụng những lực lượng ủy nhiệm, nhằm: “một nhà máy lọc dầu lớn và các cơ sở tồn trữ, một nhà máy điện lớn, nhiều nhà máy chế biến mía đường, các cầu hỏa xa, các cơ sở bến cảng, các bến tàu ngầm và tàu bè.”

Một âm mưu ám sát Castro cũng được khởi động vào đúng ngày Kennedy bị ám sát. Chiến dịch bị hủy bỏ năm 1965, nhưng “một trong những hành động đầu tiên của Tổng Thống Nixon năm 1969 là chỉ thị cho CIA tăng cường các hoạt động ngầm chống lại Cuba.”[19]

Đặc biệt đáng chú ý là nhận thức của các nhà làm kế hoạch. Trong khi tái duyệt các tư liệu vừa được giải mật về kỷ nguyên khủng bố dưới thời Kennedy, Dominguez nhận xét: ” trong gần 1.000 trang tư liệu, chỉ một lần một quan chức Hoa Kỳ đã nêu lên một điều có vẻ như một đề kháng tinh thần yếu ớt đối với chủ nghĩa khủng bố do chính quyền bảo trợ”[20] – một thành viên của NSC đã gợi ý điều nầy có thể dẫn đến một phản ứng nào đó của Nga, và “những cuộc bố ráp ngẫu nhiên và gây thương vong cho các nạn nhận vô tội … có thể đem lại những phản ứng bất lợi trong giới truyền thông báo chí của vài quốc gia bạn.”[21] Những thái độ tương tự đã chiếm ưu thế trong các cuộc thảo luận nội bộ, như khi Robert Kennedy cảnh cáo một cuộc xâm lăng qui mô có thể “gây một số thương vong lớn cho thường dân và chúng ta sẽ phải đối phó với một phản ứng bất lợi lớn lao.”[22]

Các hoạt động khủng bố vẫn tiếp tục dưới thời Nixon, đạt đỉnh điểm vào giữa thập kỷ 1970, với các cuộc tấn công vào thuyền đánh cá, các tòa đại sứ, các cơ sở Cuba ở hải ngoại, và vụ nổ bom trên một phi cơ Cuba giết hại 73 hành khách. Những sự kiện nầy và các hoạt động khủng bố tiếp theo đều xuất phát từ lãnh thổ Hoa Kỳ, mặc dù vào lúc đó, còn bị FBI xem như những hành động phạm tội.

Cứ thế mọi việc tiếp diễn, trong khi “Castro bị biên tập viên các báo Tây phương lên án đang điều hành Cuba như một trại lính, mặc dù đã được Hoa Thịnh Đốn cam kết sẽ không tấn công từ năm 1962.”[23] Theo báo chí Tây phương, lời cam kết tự nó đã đủ, mặc dù những diễn biến thực tế trái ngược nói trên; chưa nói đến nhiều cam kết với đầy đủ tài liệu trước đó.

Vào dịp kỷ niệm thứ 30 cuộc khủng hoảng tên lửa, Cuba đã phản đối một cuộc tấn công  bằng vũ khí tự động vào một  khách sạn đầy du khách Tây Ban Nha và Cuba. Một nhóm khủng bố ở Miami đã nhận trách nhiệm. Những vụ nổ bom khủng bố ở Cuba năm 1997, gây thương vong cho một du khách Ý, đã được truy gốc phát xuất từ Miami. Các phạm nhân là các tên tội phạm Salvador hoạt động dưới quyền điều khiển của Luis Posada Carriles và do Miami tài trợ. Một trong những tên khủng bố quốc tế lừng danh, Posada, đã vượt ngục từ một nhà tù Venezuela vì đã gài bom trên một phi cơ Cuba với sự giúp đỡ của Jorge Mas Canosa, một thương gia Miami đứng đầu Tổ Chức Quốc Gia Cuba-Hoa Kỳ được miễn thuế[24] (CANF). Posada đi từ Venezuela đến El Salvador, nơi đây y được tuyển dụng vào làm việc tại căn cứ không quân Ilopango, giúp tổ chức các cuộc tấn công khủng bố của Hoa Kỳ chống  lại Nicaragua, dưới quyền điều khiển của Oliver North.

Posada đã mô tả chi tiết những hoạt động khủng bố của mình và nguồn tài trợ từ người Cuba sống lưu vong và CANF ở Miami, nhưng vẫn được an toàn và không bị FBI điều tra. Lý do: Posada là cựu quân nhân trong biến cố Vịnh Con Heo, và các hoạt động trong thập kỷ 1960 đều do chỉ thị của CIA. Về sau khi gia nhập tình báo Venezuela với sự giúp đỡ của CIA, Posada đã có thể vận động để Orlando Bosch – một cộng sự viên từ những ngày làm việc cho CIA, bị kết án ở Hoa Kỳ về vụ cài bom trên chuyến tàu chở hàng đến Cuba – đến Venezuela theo anh tiếp tục tổ chức các cuộc tấn công Cuba. Một cựu quan chức CIA đã nhận diện được Posada và Bosch như hai nghi phạm trong vụ gài bom, một hành động Bosch đã tự bào chữa như “một hành vi chiến tranh chính đáng”. Theo FBI, Bosch, được xem như người chủ mưu trong vụ cài bom một phi cơ hành khách, còn chịu trách nhiệm trong 30 vụ khủng bố khác. Bosch đã được Tổng Thống George H. W. Bush (Bush I)  ân xá năm 1989, sau những vận động hành lang tích cực của Jeb Bush và các lãnh tụ Mỹ gốc Cuba ở Nam Florida, trái với “kết luận của Bộ Tư Pháp – việc ân xá sẽ có hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ [khi che chở cho Bosch], bởi lẽ an ninh quốc gia Hoa Kỳ sẽ bị ảnh hưởng bởi uy tín của Hoa kỳ khi thúc đẩy các quốc gia khác từ chối trợ giúp và nơi  ẩn náu cho các thành phần khủng bố.”[25] 

CHẾ TÀI VÀ CẤM VẬN

Những đề nghị chia sẻ tình báo của Cuba nhằm ngăn ngừa các cuộc tấn công khủng bố đều bị Hoa Thịnh Đốn bác bỏ, mặc dù vài đề nghị cũng đã đưa đến hành động từ phía Hoa Kỳ. “Nhiều quan chức cao cấp FBI viếng thăm Cuba năm 1998 đã gặp và được các đối tác Cuba trao các hồ sơ liên quan đến mạng lưới khủng bố có trụ sở ở Miami – những  thông tin một phần đã do người Cuba nằm vùng thu thập được.”[26] Ba tháng sau, FBI đã bắt một số người Cuba, những người đã xâm nhập các nhóm khủng bố có cơ sở ở Mỹ. Năm trong số nầy đã bị kết án tù dài hạn.

Lý do an ninh quốc gia đã mất hết chút khả tín đạt được sau ngày sụp đổ của Liên Bang Xô Viết năm 1991. Nhưng cũng phải chờ đến 1998 tình báo Hoa Kỳ mới chính thức thông báo cho Cuba là Cuba không còn là một đe dọa đối với an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chính quyền Clinton đã nhấn mạnh đe dọa quân sự của Cuba đã giảm xuống mức “không đáng kể”, nhưng vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt.  Ngay cả với tiêu chuẩn mới, sự thẩm định tình báo cũng đã loại bỏ nguy cơ đã được nhận chân bởi Đại Sứ Mễ Tây Cơ năm 1961, khi ông bác bỏ nổ lực của JFK tổ chức hành động chung chống lại Cuba, với lý do: “nếu chúng ta tuyên bố Cuba là một đe dọa đối với an ninh chung, bốn mươi triệu dân Mễ Tây Cơ sẽ phải cười đến chết.”[27]

Tuy nhiên, nói cho công bằng, cũng cần phải công nhận các tên lửa ở Cuba cũng là một đe dọa. Trong những cuộc thảo luận riêng tư, anh em Kennedy đã tỏ ra lo ngại sự hiện diện của các tên lửa của Nga có thể ngăn chặn hay làm nản lòng một cuộc xâm lăng Venezuela của Hoa Kỳ. JFK đã kết luận: “Vì vậy, vụ Vịnh Con Heo đã thực sự đúng.”[28]

Năm 1992, dưới áp lực vận động bầu cử từ phe Clinton, chính quyền Bush I đã phản ứng, đối với việc loại bỏ duyên cớ an ninh, bằng biện pháp cấm vận khắt khe hơn. Chiến tranh kinh tế cũng  ngày một tàn nhẫn hơn trong năm 1996, do đó, đã gây thêm căng thẳng ngay trong hàng ngũ các đồng minh thân cận nhất của Mỹ. Biện pháp cấm vận cũng đã bị chỉ trích nặng nề trong quốc nội, với lý do nạn nhân duy nhất của cấm vận là giới xuất khẩu và đầu tư của chính Hoa Kỳ. Người Cuba không mấy bị ảnh hưởng.

Những cuộc điều tra bởi các chuyên gia Hoa Kỳ cho thấy một câu chuyện hoàn toàn khác. Thực vậy, một nghiên cứu chi tiết của Hiệp Hội Y Tế Thế Giới Hoa Kỳ[29] đã kết luận: biện pháp cấm vận đã có những tác động y tế khắc nghiệt, và phải nhờ chính hệ thống y tế  tuyệt vời của Cuba mới giúp tránh được “tai họa nhân đạo.” Điều nầy hầu như không hề được nhắc đến ở Hoa Kỳ.

Cuộc cấm vận đã thực sự chận đứng nguồn cung cấp thực phẩm và y tế. Năm 1999, chính quyền Clinton đã nới lỏng các biện pháp chế tài đối với tất cả các quốc gia có tên trên danh sách chính thức các “nhà nước khủng bố”, ngoại trừ Cuba được tách riêng để đặc biệt trừng phạt. Tuy nhiên, Cuba không phải là quốc gia duy nhất đơn độc về phương diện nầy. Sau cơn bão tàn phá các đảo vùng West Indies trong tháng 8-1980, T T Carter đã từ chối mọi viện trợ trừ phi Grenada bị loại ra ngoài, như một trừng phạt vài sáng kiến nào đó của chính quyền cải cách Maurice Bishop. Khi các xứ nạn nhân trận bão từ chối điều kiện loại trừ Grenada, Carter đã từ chối mọi viện trợ.

Cũng tương tự như thế, khi Nicaragua bị bão gây ra nạn đói và thiệt hại sinh thái nghiêm trọng trong tháng 10-1988, nhà cầm quyền Hoa Thịnh Đốn nhận thấy cuộc chiến chống khủng bố có thể hưởng lợi từ tai họa, và vì vậy, đã từ chối viện trợ, ngay cả đối với khu vực ven bờ Đại Tây Dương có quan hệ chặt chẽ với Hoa Kỳ và thù nghịch với Sandinistas. Hoa Thịnh Đốn cũng hành động tương tự khi một đợt sóng lớn cuốn trôi các làng chài lưới, gây tử vong và mất tích cho hàng trăm ngư dân trong tháng 9-1992. Trong trường hợp nầy, ngoài số tiền 25,000 USD, số ít viện trợ còn lại cũng đã được khấu trừ vào số trợ giúp đã lên lịch từ trước. Tuy nhiên, Quốc Hội cũng đã được đoan chắc chút ít viện trợ đó không hề ảnh hưởng đến quyết định ngưng ngân khoản viện trợ 100 triệu USD, vì lẽ chính quyền Nicaragua được Mỹ hậu thuẩn đã tỏ ra không phục tùng người Mỹ đúng mức.

Chiến tranh kinh tế của Mỹ đối với Cuba đã bị lên án nặng nề trên hầu hết mọi diễn đàn quốc tế, và “bị tuyên bố là bất hợp pháp bởi ngay cả Ủy Hội Tư Pháp của Tổ Chức Các Quốc Gia Mỹ Châu, thường ngoan ngoãn phục tùng.”[30]  Liên Hiệp Âu Châu cũng đã yêu cầu Tổ Chức Thương Mãi Thế Giới WTO lên án cấm vận. Chính quyền Clinton đã đáp ứng: “Âu châu đang thách thức ‘chính sách của Hoa Kỳ đối với Cuba trong suốt ba thập kỷ kể từ chính quyền Kennedy,’ và hoàn toàn  nhằm mục tiêu thay đổi chính quyền ở Havana.”[31] Hoa Thịnh Đốn cũng tuyên bố WTO không có thẩm quyền quyết định các vấn đề an ninh quốc gia của Hoa Kỳ hay buộc Hoa Kỳ phải thay đổi luật pháp. Hoa Kỳ đã bỏ ngang phiên họp, và vấn đề đã phải xếp lại.

MÔ HÌNH VÀ THÁCHTHỨC

Lý do các cuộc tấn công khủng bố quốc tế và các biện pháp cấm vận kinhtế bất hợp pháp chống lại Cuba đều đã được nêu rõ trong hồ sơ nội bộ. Và không ai cần phải ngạc nhiên khi khám phá những hành động vừa kể đã có một tiền lệ quen thuộc – chẳng hạn, trường hợp Guatemala một vài năm trước đây.

Ngay về thời điểm, sự âu lo một đe dọa từ phía người Nga cũng đã  không phải là yếu tố quan trọng. Những kế hoạch cưỡng bức thay đổi chế độ đã được soạn thảo và thực thi trước bất cứ một liên hệ có ý nghĩa nào với Nga Sô, và các biện pháp trừng phạt, chế tài cũng đã được tăng cường ngay cả sau khi người Nga không có mặt ở hiện trường. Quả thật, nguy cơ Nga có xuất hiện, nhưng đây chỉ là hậu quả hơn là nguyên nhân của chủ nghĩa khủng bố và chiến tranh kinh tế của Mỹ.

Tháng 7-1961, CIA đã cảnh báo “ảnh hưởng rộng khắp của chủ thuyết Castro không phải là một hàm số của quyền lực Cuba… Hình bóng của Castro đã ám ảnh vì những điều kiện kinh tế và xã hội khắp Châu Mỹ La Tinh đang mời gọi sự chống đối các nhà cầm quyền đương nhiệm, và khuyến khích các hoạt động nhằm mang lại thay đổi cơ bản.”[32] Và Cuba của Castro đã  cung cấp một mô hình.

Trước đó, Arthur Schlesinger đã chuyển đến JFK bản phúc trình của Phái Bộ Mỹ La Tinh, cảnh báo “người Mỹ La Tinh có thể bị lôi cuốn bởi ‘ý tưởng Castro’ phải tự nắm lấy chủ quyền.”[33] Phúc trình cũng nhắc đến mắt xích Kremlin: Liên Bang Xô Viết “đang chờ đợi, phô trương tín dụng phát triển và tự giới thiệu như một mô hình để thành đạt canh tân chỉ trong vòng một thế hệ.”[34] Schlesinger về sau đã diễn giải,  “những nguy cơ của ‘ý tưởng Castro’ là đặc biệt nghiêm trọng, khi sự tái phân điền địa và các hình thức tài sản quốc gia khác có lợi lớn cho các giai cấp hữu sản cũng như  những thành phần nghèo khó, thấp kém, và thiệt thòi về quyền lợi, bị kích thích bởi tấm gương cách mạng Cuba, ngày nay đang đòi hỏi cơ hội có được một cuộc sống phải chăng.”[35]

Kennedy e sợ viện trợ Nga Sô có thể biến Cuba thành một mô hình phát triển gương mẩu, đem lại cho người Xô Viết thế tay trên ở Mỹ La Tinh.

Vào đầu năm 1964, Hội Đồng Hoạch Định Chính Sách Bộ Ngoại Giao[36]đã khai triển những âu lo vừa nói: “Nguy cơ hàng đầu chúng ta đối diện ở Castro là… tác động của chính sự hiện diện của chế độ của ông trên phong trào cánh tả trong nhiều xứ Mỹ La Tinh… Sự kiện đơn thuần Castro đã đại diện cho một thách thức thành công đối với Hoa Kỳ, một sự phủ nhận toàn bộ chính sách toàn bán cầu của chúng ta trong hơn một thế kỷ rưởi.”[37]

Như Thomas Paterson đã viết: Nói một cách đơn giản, “Cuba, như một tượng trưng và một thực tế, đã thách thức địa vị bá chủ  của Hoa Kỳ ở Mỹ La Tinh.”[38] Khủng bố quốc tế và chiến tranh kinh tế để đem lại thay đổi chế độ có thể được biện minh không phải bởi việc làm của Cuba, mà bởi chính sự hiện hữu, sự thách thức thành công ngay chính quốc gia bá chủ chính đáng của bán cầu. Sự thách thức tự nó cũng đã có thể đủ biện minh cho các hành động bạo lực, như ở Serbia, như đã được thầm hiểu sau sự kiện thực tế; cũng như ở Iraq, cũng đã được công nhận ngay cả khi các nguyên cớ viện dẫn đã sụp đổ.

Sự xúc phạm qua thái độ thách thức đã từng xẩy ra từ xa xưa trong lịch sử Hoa Kỳ. Cách đây 200 năm, Thomas Jefferson đã gay gắt lên án Pháp vì thái độ thách thức khi chiếm hữu New Orleans, một thành phố Jefferson đang thèm muốn. Jefferson đã cảnh cáo “tư cách của Pháp [đang được] đặt ở điểm xung khắc vĩnh cửu với tư cách của chúng ta, một tư cách mặc dù cùng yêu chuộng hòa bình và theo đuổi giàu có, hết sức cao ngạo. Sự thách thức của Pháp [buộc chúng ta phải] liên minh với hạm đội Anh và chính  Anh quốc.”[39]

Jefferson đã khuyến cáo đảo ngược các thái độ của chính ông, những thái độ đã phản ảnh phần đóng góp thiết yếu cho công cuộc giải phóng các thuộc địa khỏi ách đô hộ của Anh Quốc. Chính nhờ cuộc đấu tranh giải phóng Haiti, không được giúp đỡ và hầu như đã bị mọi nước chống đối, thái độ thách thức của Pháp cuối cùng cũng đã sớm chấm dứt, nhưng các  nguyên tắc chỉ đạo vẫn còn hiệu lực, và hiện đang quyết định quan hệ  bạn-thù vẫn còn lây lất mãi cho đến ngày nay.

Tóm lại, người dân Cuba không may đã phải chứng nghiệm một hình thức chiến tranh khủng bố sớm sủa nhất – không phải“chiến tranh chống khủng bố”– của Hoa Kỳ. Thực vậy, khủng bố không thể là những gì những nhóm nhỏ quá khích phi-quốc-gia có thể gây ra cho các đại cường hùng mạnh. Theo một nghĩa nào đó, lịch sử đã và đang cho thấy một lịch sử Nhà Nước Khủng Bố, và Hoa Kỳ là quốc gia đang hoan hỉ thực thi một hình thức chiến tranh khủng bố, như trong trường hợp Cuba, với sự kiên trì không thương tiếc trong gần một nửa thế kỷ.

Chẳng mấy khác số phận người dân Cuba trong nhiều thập kỷ kể từ khi Fidel Castro lên nắm chính quyền, đối với người dân Afghanistan đã trải nghiệm hàng nghìn  cuộc hành quân khủng bố của quân đội Mỹ trong mấy năm gần đây, đối với người dân Pakistan đang thường xuyên bị khủng bố bởi cuộc chiến phi cơ không người lái của CIA chống lại al-Qaeda và Taliban, đối với người dân Iraq đã và đang tiếp tục sống với những kinh nghiệm”gây sốc và kinh hoàng” tương tự…, “cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu” của Mỹ tự nó luôn là “cuộc chiến khủng bố”. Người dân trong các xứ nạn nhân đã hoặc đang chứng kiến người Mỹ giết họ ngay bên trong xứ sở của  họ, ngay bên trong nhà riêng của chính họ, và chỉ vì họ là Hồi giáo… Vì vậy, căm thù ngày một sâu rộng và gay gắt…

Người Mỹ luôn nói “cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu” đang ngày một gần tới thắng lợi. Trong thực tế, họ đang trực tiếp hoặc gián tiếp theo đuổi một “cuộc chiến khủng bố” ngày một khốc liệt, gây thêm nhiều nhiều tang tóc điêu linh!!!

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

16-9-2011

CHÚ THÍCH: Phần lớn dữ liệu dùng trong bài viết đều lấy từ tác phẩm Hegemony or Survival của Noam Chomsky, Institute Professor emeritus, MIT Department of Linguistics and Philosophy.


[1] National Security Council – NSC.

[2] ..by giving his assurance [that] the United States has no aggressive purpose against Cuba.

[3] Allen Dulles’ main reason was that this might lead the Cubans to ask for Soviet or Soviet bloc arms, a move that would have a tremendous effect.

[4] …in favor of a regime “more devoted to the true interests of the Cuban people and more acceptable to the U.S.,” inluding support for military operation on the island” and” development of an adequate paramilitary force outside of Cuba.

[5] [But the US would determine the] true interests of the Cuban people.

[6] [The regime change] “was to be carried out in such a manner as to avoid any appearance of U.S. intervention.”

[7] There was an almost frantic reaction for an action program.

[8] …the atmosphere “almost as emotional” and was struck by “the great lack of moral integrity.”

[9] ..The complacent, the self-indulgent, the soft societies are about to be swept away with the debris of history. Only the strong …can possibly survive.

[10] Kennedy was aware that allies think that “we’re slightly demented”on the subject of Cuba, a perception that persists to the present.

[11] Operation Mongoose was “the centerpiece of American policy toward Cuba from late 1961 until the onset of the 1962 missile crisis”the program on which the Kennedy brothers “came to pin their hopes.”

[12]  Robert Kennedy informed the CIA that the Cuban problem carries “the top priority in the United States Government – all else is secondary – no time, no effort, or manpower is to be spared” in the effort to overthrow the Castro regime. The chief of the Mongoose operations, Edward Lansdale, provided a timetable leading to “open revolt and overthrow of the Communist regime” in October 1962.

[13] The “final definition” of the program recognized that “final success  will require decisive U.S. military intervention,” after terrorism and subversion had laid the basis.

[14] …to use “covert  means…to lure or provoke Castro, or an uncontrollable subordinate, into an overt hostile reaction against the United States; a reaction which would in turn create the justification for the US not only retaliate but destroy Castro with speed, force and determination.”

[15] …outlining “pretexts which they would consider would provide justification for US military intervention in Cuba.”

[16] …if “a credible internal revolt is impossible of attainment during the next 9-10 months,” but before Cuba could establish relations with Russia that might “directly involve the Soviet Union.”

[17] Raymond Garthoff writes that “the Soviets could only see [the attack] as an effort to backpedal on what was, for them, the key question remaining: American assurances not to attack Cuba.”

[18] …”the risk and danger to both sides could have been extreme, and catastrophe not excluded.”

[19] …”one of Nixon’s first  acts in office in 1969 was to direct  the CIA to intensify covert operations against Cuba.”

[20] …only once in these nearly thousand pages of documentation did a U.S. official raise something that resembled a faint moral objection to U.S.-government sponsored terrorism”: …

[21] …and raids that are “haphazard and kill innocents.. might mean a bad press in some friendly countries.”

[22] …a full-scale invasion of Cuba would “kill an awful lot of people, and we’re going to take an awful lot of heat on it.”

[23] …Castro was condemned by editors for maintaining an “armed camp, despite the security from attack promised by Washington in 1962.

[24] …tax-exempt Cuban-American National Foundation – CANF.

[25] …the Justice Department had found the conclusion “inescapable that it would be prejudicial to the public interest  for the United States to provide a safe haven for Bosch [because] the security of this nation is affected by its ability to urge credibly other nations to refuse aid and shelter to terrorists.”

[26]  Senior members of the FBI visited Cuba in 1998 to meet their Cuban counterparts, who gave [the FBI] dossiers about what they suggested was a Miami-based terrorist network: information which had been compiled in part by Cubans who had infiltrated exile group.

[27] …if we publicly declare that Cuba is a threat to our security, forty million Mexicans will die laughing.

[28] So “the Bay of Pigs was really right.”

[29] American Association for World Health.

[30] …even declared illegal by the Judicial Commission of the normally compliant Organization of American States.

[31] …”Europe is challenging ‘three decades of American Cuba policy that goes back to the Kennedy Administration,’ and is aimed entirely at forcing a change of government in Havana.”

[32] .. the extensive influence of Castroism  is not a function of Cuban power….Castro’s shadow looms large because social and economic conditions throughout Latin America invite opposition to ruling authority and encourage agitation for radical change.

[33] …”the Castro idea of taking matters into one’s own hands.”

[34] …The Soviet Union “hovers in the wings, flourishing large development loans and presenting itself as the model for achieving modernization in a single generation.”

[35] The dangers of the “Castro idea” are particularly grave when the distribution of land and other forms of national wealth greatly favors the propertied classes and the poor and underprivileged, stimulated by the example of the Cuban revolution, are now demanding opportunities for a decent living.

[36] State Department Policy Planning Council.

[37] The primary danger we face in Castro is …in the impact the very existence of his regime has upon the leftist movement in many Latin American countries….The simple fact is that Castro represents a successful defiance of the US, a negation of our whole hemispheric policy of almost a century and a half.

[38] Cuba, as a symbol and reality, challenged U.S. hegemony in Latin America.

[39]…France’s character [is] placed in a point of eternal friction with our character, which though loving peace and the pursuit of wealth, is high-minded. France’s defiance [requires us to] marry ourselves to the British fleet and nation.

                   VÀI SỰ THẬT TRONG NỬA THẾ KỶ QUAN HỆ CUBA-HOA KỲ

Chế độ độc tài Batista đã bị lực lượng du kích Castro lật đổ tháng 1-1959. Tháng ba cùng năm, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ[1] (NSC) đã nghiên cứu phương cách thay đổi chế độ, và tháng năm, CIA đã bắt đầu vũ trang quân du kích chống Cuba. Suốt mùa đông 1959-60, dưới sự giám sát của CIA, các phi vụ không tạc do các phi công Cuba lưu vong ở Mỹ thực hiện ngày một gia tăng.

THỰC TẾ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI VÀ THÁI ĐỘ ĐẾ QUỐC

Chúng ta chẳng cần tưởng tượng phản ứng của người Mỹ và các xứ khách hàng trong những trạng huống tương tự. Riêng Cuba đã không trả đũa bằng các hành vi bạo lực bên trong nước Mỹ. Thay vào đó, họ đã tuân thủ luật pháp quốc tế. Tháng 7-1960, Cuba đã gửi đến Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc hồ sơ liên quan khoảng 20 vụ oanh tạc, với đầy đủ tên phi công,  ký hiệu phi cơ, những bom không nổ, và nhiều chi tiết đặc thù khác. Cuba cũng đã  phúc trình các thiệt hại và thương vong, và kêu gọi LHQ giải quyết vấn đề theo đường lối ngoại giao.

Trong phúc đáp, Đại sứ Henry Cabot Lodge đã quả quyết “Hoa Kỳ không theo đuổi mục đích gây hấn với Cuba.”[2] Trong thực tế, sáu tháng trước đó, vào tháng 3-1960, Hoa Thịnh Đốn đã bí mật lấy quyết định chính thức phải lật đổ chính quyền Castro, và chiến dịch xâm lăng Vịnh Con Heo đã được chuẩn bị khá kỷ lưởng.

Hoa Thịnh Đốn quan ngại Cuba có thể tìm cách tự vệ. Vì vậy, Allen Dulles, giám đốc CIA, đã thúc đẩy Anh Quốc ngưng cung cấp vũ khí cho Cuba. Theo phúc trình  của Đại sứ Anh về Luân Đôn, “lý do chính của Dulles là điều nầy có thể thúc đẩy người Cuba yêu cầu Xô Viết hay khối Xô Viết viện trợ vũ khí, một động thái có thể có hiệu quả ghê gớm”[3]cho phép Hoa Thịnh Đốn mô tả Cuba như một đe dọa đối với an ninh Tây bán cầu, đúng theo kịch bản rất thành công trước đây ở Guatemala.

 Dulles đang nói đến việc Hoa Thịnh Đốn đã thành công trong nổ lực phá hủy cuộc thí nghiệm dân chủ đầu tiên ở Guatemala. Như tình báo Hoa Kỳ đã phúc trình, trong khoảng thời gian 10 năm, hy vọng xen kẻ với tiến bộ, Hoa Thịnh Đốn đã rất âu lo vì sự ủng hộ lớn lao của quần chúng và tác động minh chứng của các biện pháp kinh tế xã hội có lợi cho đại đa số nhân dân. Sự đe dọa của khối Xô Viết thường được viện dẫn, và được tăng cường bởi sự kiện Guatemala đang lệ thuộc vào vũ khí của khối Xô Viết sau khi người Mỹ de dọa tấn công và cắt đứt các nguồn tiếp liệu khác. Kết quả là nửa thế kỷ ghê rợn và tình hình còn tệ hại hơn cả dưới thời các chế độ chuyên chế bạo ngược được Mỹ yểm trợ trước đây.

Đối với Cuba, các âm mưu bởi phe bồ câu không mấy khác các mưu đồ của giám đốc CIA Dulles. Cảnh cáo T T Kennedy về những hậu quả ngoại giao và chính trị tai hại không thể tránh của một cuộc xâm lăng Cuba được hoạch định bởi một lực lượng ủy nhiệm, Arthur Schlesinger đã gợi ý những nổ lực sập bẩy Castro trong một hành động có thể được sử dụng như  lý do để xâm lăng:”người ta có thể quan niệm một chiến dịch đen , chẳng hạn ở Haiti, có thể kịp thời cám dỗ Castro gửi vài tàu biển đầy người đến bãi biển Haiti trong động thái có thể mô tả như  nổ lực lật đổ chế độ Haiti,…lúc đó vấn đề đạo đức có thể rất mập mờ, và chiến dịch chống Mỹ có thể bị chận đứng ngay từ đầu.” Đối tượng là chế độ độc tài “Papa Doc” Duvalier, được Hoa Kỳ hổ trợ (với vài dè dặt), do đó,  một nổ lực giúp người Haiti lật đổ chế độ có thể được xem như một tội phạm.

Kế hoạch Tháng Ba 1960 của Eisenhower kêu gọi lật đổ Castro để thay thế bằng một chế độ “tận tình với quyền lợi đích thực của người dân Cuba và dễ được Hoa  Kỳ chấp nhận, kể cả ủng hộ các hoạt động quân sự ngay bên trong đảo quốc Cuba và phát triển một lực lượng bán quân sự thích đáng bên ngoài Cuba.”[4] Tin tức tình báo cho biết sự ủng hộ của quần chúng dành cho Castro rất vững chắc, nhưng Hoa Kỳ sẽ quyết định “những quyền lợi đích thực của nhân dân Cuba.”[5] Sự thay đổi chế độ sẽ được thực hiện “trong phương cách khả dĩ tránh được bề ngoài của một hình thức can thiệp của Hoa Kỳ,”[6] nhằm tránh phản ứng tiên liệu trong châu Mỹ La Tinh và các vấn đề quản lý truyền thông quốc nội.

CHIẾN DỊCH MONGOOSE

Chiến dịch xâm lăng Vịnh Con Heo đã diễn ra một năm sau đó, vào tháng 4-1961, sau ngày Kennedy đắc cử tổng thống. Cuộc hành quân đã được chấp thuận trong bầu không khí kích động cuồng loạn đối với Cuba trong Tòa Bạch Ốc, như Robert McNamara về sau đã điều trần trước Ủy Ban Nghị Sĩ Church ở Thượng Viện. Theo ghi nhận trong phạm vi riêng tư  của Chester Bowles, trong phiên họp hội đồng nội các đầu tiên sau khi cuộc xâm lăng đã thất bại, không khí hết sức căm phẩn và gay gắt: ” một phản ứng gần như điên cuồng đòi hỏi một chương trình hành động.”[7] Tại phiên họp của NSC hai ngày sau đó, Bowles nhận thấy bầu không khí “không kém phần cảm tính” và rất ngạc nhiên trước sự “hoàn toàn thiếu liêm chính đạo đức.”[8]

Tâm trạng chung đã được phản ảnh trong lời tuyên bố của Kennedy. Kennedy đã nói với dân Mỹ: “Những kẻ tự mãn, những người dễ bằng lòng, các tổ chức yếu mềm sắp bị quét sạch cùng với các đổ nát của lịch sử. Chỉ có những người kiên cường …mới có thể sống sót”[9] – một đề tài phe Reagan đã có thể sử dụng hiệu quả trong cuộc chiến chống khủng bố của riêng họ. Kennedy cũng đã ý thức các đồng minh có thể nghĩ “chúng ta hơi điên”[10] về đề tài Cuba, một cảm nhận kéo dài cho đến ngày nay.

Kennedy đã phát động cuộc cấm vận tàn bạo đối với quốc gia nhỏ bé, hầu như đã trở thành một thuộc địa thực sự của Hoa Kỳ trong suốt 60 năm tiếp theo sau ngày “giải phóng” khỏi Tây Ban Nha.

Kennedy cũng đã ra lệnh tăng cường chiến dịch khủng bố: yêu cầu em trai ông, Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy, cầm đầu một ủy ban liên bộ giám sát chương trình Mongoose, một chương trình khủng bố bán quân sự, chiến tranh kinh tế và phá hoại, vào cuối năm 1961, để lật đổ Castro.

Chiến dịch khủng bố không phải là một chuyện đùa, Jorge Dominguez viết trong một tạp chí về những tư liệu vừa được giải mật liên quan đến các chiến dịch dưới thời Kennedy, những tư liệu đã được kiểm duyệt nặng nề và theo Piero Gleijeses, cũng mới chỉ là đầu típ của tảng băng.

Theo Mark White, cuộc hành quân  Mongoose là “tâm điểm  chính sách Hoa Kỳ đối với Cuba từ 1961 cho đến lúc khởi đầu cuộc khủng hoảng tên lửa 1962,[11] một chương trình hai anh em Kennedy “đã đặt nhiều hy vọng”. Robert Kennedy đã thông báo cho CIA: vấn đề Cuba “mang ưu tiên hàng đầu của chính quyền Hoa Kỳ — tất cả những gì khác chỉ thứ yếu — dù mất bao nhiêu thì giờ, nổ lực, hay nhân lực” trong nổ lưc lật đổ chế độ Castro. Người đứng đầu chiến dịch Mongoose, Edward Lansdale, cũng đã cung cấp thời biểu khởi động“cuộc dấy loạn công khai và lật đổ chế độ Cộng Sản” vào tháng 10-1962[12]. “Định nghĩa cuối cùng” của chương trình công nhận: “thành công cuối cùng sẽ đòi hỏi sự can thiệp quân sự quyết định của Hoa Kỳ,” sau khi các nhóm khủng bố và phá hoại đã đặt xong căn bản[13]. Điều nầy có nghĩa: sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ phải diễn ra trong tháng 10-1962.  Nhưng không may, cuộc khủng hoảng tên lửa lại bộc phát cùng lúc.

Tháng 2-1962, Bộ Tham Mưu Liên Quân đã chấp thuận một kế hoạch cực đoan hơn cả kế hoạch của Schlesinger: sử dụng “các phương tiện bí mật để cám dỗ hay khiêu khích Castro, hay một tay chân không thể kiểm soát, khơi mào một phản ứng công khai thù nghịch chống lại Hoa Kỳ –  một phản ứng đem lại một biện minh cho Hoa Kỳ không những trả đũa mà còn tiêu diệt Castro một cách nhanh chóng, mạnh mẻ và quyết định.”[14] Do yêu cầu của Dự Án Cuba của Bộ Quốc Phòng (DOD Cuba Project), trong tháng 3, Bộ Tham Mưu Liên Quân đã đệ trình văn bản ghi nhớ lên Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara, phác thảo những nét chính “các duyên cớ dưới mắt họ đủ để biện minh cho một can thiệp quân sự vào Cuba.”[15] Kế hoạch có thể được thực thi nếu “cuộc dấy loạn trong nội bộ đáng tin không thể thành đạt trong vòng 9-10 tháng tới”, nhưng phải trước khi Cuba có thể thiết lập quan hệ với Nga – điều “có thể khiến Liên Bang Xô Viết trực tiếp bị dính líu.”[16]

Vì vậy, một biện pháp khủng bố thận trọng hơn có lẽ tránh được những bất trắc của  can thiệp quân sự .

Kế hoạch Tháng Ba nhằm xây dựng “nhiều sự kiện riêng rẽ để ngụy trang mục tiêu tối hậu và tạo ấn tượng cần thiết về sự liều lĩnh và tầm trách nhiệm của Cuba trên một căn bản rộng lớn, nhằm nhiều xứ khác cũng như Hoa Kỳ,” đặt Hoa Kỳ “vào vị trí nạn nhân cần tự vệ và tạo hình ảnh quốc tế của một đe dọa Cuba đối với hòa bình ở Tây Bán Cầu.”

Những biện pháp đề nghị bao gồm một tàu biển Mỹ nổ tung trong Vịnh Guantanamo, phổ biến danh sách các thương vong trên báo chí Hoa Kỳ để kích động một làn sóng căm phẫn toàn quốc thuận lợi,” miêu tả những cuộc điều tra của người Cuba như những bằng chứng xác thực chiếc tàu đã bị tấn công,” khai triển một chiến dịch khủng bố của Cộng Sản Cuba ở Florida và ngay cả ở Hoa Thịnh Đốn,” sử dụng những bom lửa của khối Xô Viết để tấn công và đốt phá các đồng mía trong những xứ láng giềng, bắn hạ một phi cơ không người lái ngụy trang như một phi cơ chở sinh viên trong dịp lễ, và nhiều âm mưu khéo léo tương tự — không cần thực thi, chỉ để tạo biểu hiệu một tình trạng sôi động và tàn bạo đang lan tràn.

Ngày 23 tháng 8, tổng thống ban hành một văn kiện ghi nhớ – Memorandum số 181,  “chỉ thị tổ chức một cuộc dấy loạn nội bộ được tiếp nối bởi một can thiệp quân sự của Hoa Kỳ, liên quan những kế hoạch quân sự quan trọng, các cuộc thao diễn quân sự,  và điều động lực lượng và trang thiết bị.” Cũng trong tháng 8, các cuộc tấn công khủng bố được tăng cường, kể cả các cuộc tấn công bằng speed-boats vào một khách sạn Cuba ven biển “nơi các kỷ thuật gia quân sự Xô Viết thường lui tới, giết hàng chục người Nga và Cuba”, tấn công các tàu Anh và Cuba, gây ô nhiễm các tàu chở đường, và nhiều hành động tàn ác và phá hoại khác, hầu hết đều do các tổ chức Cuba lưu vong được phép hoạt động tự do ở Florida. Vài tuần lễ sau, thế giới chứng kiến thời khắc nguy hiểm nhất trong lịch sử nhân loại.

PHẢN ỨNG BÁO CHÍ

Các hoạt động khủng bố vẫn tiếp tục trong giai đoạn căng thẳng nhất của cuộc khủng hoảng tên lửa. Tình trạng nầy trên danh nghĩa đã chính thức chấm dứt vào ngày 30-10-1962, vài ngày sau thỏa ước Kennedy-Khushchev, nhưng trong thực tế, vẫn được tiếp tục. Ngày 8 tháng 11, theo chính quyền Cuba, “một đội phá hoại bí mật người Cuba xuất phát từ Hoa Kỳ đã thành công phá hủy một cơ sở kỹ nghệ Cuba bằng chất nổ, giết hại 400 công nhân. Raymond Garthoff viết: “người Xô Viết chỉ có thể xem cuộc tấn công như một cố gắng đi lui trong vấn đề then chốt còn lại:  các cam kết của Hoa Kỳ sẽ không tấn công Cuba.”[17] Ông kết luận, sự kiện nầy và các hành động tương tự một lần nữa tiết lộ: “các bất trắc và nguy cơ đối với cả hai phía đã có thể lên đỉnh điểm, không loại bỏ tai họa.”[18]

Sau khi cuộc khủng hoảng chấm dứt, Kennedy vẫn tiếp tục chiến dịch khủng bố. Mười ngày trước khi bị ám sát, Kennedy đã chấp thuận một kế hoạch phá hoại của CIA, sử dụng những lực lượng ủy nhiệm, nhằm: “một nhà máy lọc dầu lớn và các cơ sở tồn trữ, một nhà máy điện lớn, nhiều nhà máy chế biến mía đường, các cầu hỏa xa, các cơ sở bến cảng, các bến tàu ngầm và tàu bè.”

Một âm mưu ám sát Castro cũng được khởi động vào đúng ngày Kennedy bị ám sát. Chiến dịch bị hủy bỏ năm 1965, nhưng “một trong những hành động đầu tiên của Tổng Thống Nixon năm 1969 là chỉ thị cho CIA tăng cường các hoạt động ngầm chống lại Cuba.”[19]

Đặc biệt đáng chú ý là nhận thức của các nhà làm kế hoạch. Trong khi tái duyệt các tư liệu vừa được giải mật về kỷ nguyên khủng bố dưới thời Kennedy, Dominguez nhận xét: ” trong gần 1.000 trang tư liệu, chỉ một lần một quan chức Hoa Kỳ đã nêu lên một điều có vẻ như một đề kháng tinh thần yếu ớt đối với chủ nghĩa khủng bố do chính quyền bảo trợ”[20] – một thành viên của NSC đã gợi ý điều nầy có thể dẫn đến một phản ứng nào đó của Nga, và “những cuộc bố ráp ngẫu nhiên và gây thương vong cho các nạn nhận vô tội … có thể đem lại những phản ứng bất lợi trong giới truyền thông báo chí của vài quốc gia bạn.”[21] Những thái độ tương tự đã chiếm ưu thế trong các cuộc thảo luận nội bộ, như khi Robert Kennedy cảnh cáo một cuộc xâm lăng qui mô có thể “gây một số thương vong lớn cho thường dân và chúng ta sẽ phải đối phó với một phản ứng bất lợi lớn lao.”[22]

Các hoạt động khủng bố vẫn tiếp tục dưới thời Nixon, đạt đỉnh điểm vào giữa thập kỷ 1970, với các cuộc tấn công vào thuyền đánh cá, các tòa đại sứ, các cơ sở Cuba ở hải ngoại, và vụ nổ bom trên một phi cơ Cuba giết hại 73 hành khách. Những sự kiện nầy và các hoạt động khủng bố tiếp theo đều xuất phát từ lãnh thổ Hoa Kỳ, mặc dù vào lúc đó, còn bị FBI xem như những hành động phạm tội.

Cứ thế mọi việc tiếp diễn, trong khi “Castro bị biên tập viên các báo Tây phương lên án đang điều hành Cuba như một trại lính, mặc dù đã được Hoa Thịnh Đốn cam kết sẽ không tấn công từ năm 1962.”[23] Theo báo chí Tây phương, lời cam kết tự nó đã đủ, mặc dù những diễn biến thực tế trái ngược nói trên; chưa nói đến nhiều cam kết với đầy đủ tài liệu trước đó.

Vào dịp kỷ niệm thứ 30 cuộc khủng hoảng tên lửa, Cuba đã phản đối một cuộc tấn công  bằng vũ khí tự động vào một  khách sạn đầy du khách Tây Ban Nha và Cuba. Một nhóm khủng bố ở Miami đã nhận trách nhiệm. Những vụ nổ bom khủng bố ở Cuba năm 1997, gây thương vong cho một du khách Ý, đã được truy gốc phát xuất từ Miami. Các phạm nhân là các tên tội phạm Salvador hoạt động dưới quyền điều khiển của Luis Posada Carriles và do Miami tài trợ. Một trong những tên khủng bố quốc tế lừng danh, Posada, đã vượt ngục từ một nhà tù Venezuela vì đã gài bom trên một phi cơ Cuba với sự giúp đỡ của Jorge Mas Canosa, một thương gia Miami đứng đầu Tổ Chức Quốc Gia Cuba-Hoa Kỳ được miễn thuế[24] (CANF). Posada đi từ Venezuela đến El Salvador, nơi đây y được tuyển dụng vào làm việc tại căn cứ không quân Ilopango, giúp tổ chức các cuộc tấn công khủng bố của Hoa Kỳ chống  lại Nicaragua, dưới quyền điều khiển của Oliver North.

Posada đã mô tả chi tiết những hoạt động khủng bố của mình và nguồn tài trợ từ người Cuba sống lưu vong và CANF ở Miami, nhưng vẫn được an toàn và không bị FBI điều tra. Lý do: Posada là cựu quân nhân trong biến cố Vịnh Con Heo, và các hoạt động trong thập kỷ 1960 đều do chỉ thị của CIA. Về sau khi gia nhập tình báo Venezuela với sự giúp đỡ của CIA, Posada đã có thể vận động để Orlando Bosch – một cộng sự viên từ những ngày làm việc cho CIA, bị kết án ở Hoa Kỳ về vụ cài bom trên chuyến tàu chở hàng đến Cuba – đến Venezuela theo anh tiếp tục tổ chức các cuộc tấn công Cuba. Một cựu quan chức CIA đã nhận diện được Posada và Bosch như hai nghi phạm trong vụ gài bom, một hành động Bosch đã tự bào chữa như “một hành vi chiến tranh chính đáng”. Theo FBI, Bosch, được xem như người chủ mưu trong vụ cài bom một phi cơ hành khách, còn chịu trách nhiệm trong 30 vụ khủng bố khác. Bosch đã được Tổng Thống George H. W. Bush (Bush I)  ân xá năm 1989, sau những vận động hành lang tích cực của Jeb Bush và các lãnh tụ Mỹ gốc Cuba ở Nam Florida, trái với “kết luận của Bộ Tư Pháp – việc ân xá sẽ có hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ [khi che chở cho Bosch], bởi lẽ an ninh quốc gia Hoa Kỳ sẽ bị ảnh hưởng bởi uy tín của Hoa kỳ khi thúc đẩy các quốc gia khác từ chối trợ giúp và nơi  ẩn náu cho các thành phần khủng bố.”[25] 

CHẾ TÀI VÀ CẤM VẬN

Những đề nghị chia sẻ tình báo của Cuba nhằm ngăn ngừa các cuộc tấn công khủng bố đều bị Hoa Thịnh Đốn bác bỏ, mặc dù vài đề nghị cũng đã đưa đến hành động từ phía Hoa Kỳ. “Nhiều quan chức cao cấp FBI viếng thăm Cuba năm 1998 đã gặp và được các đối tác Cuba trao các hồ sơ liên quan đến mạng lưới khủng bố có trụ sở ở Miami – những  thông tin một phần đã do người Cuba nằm vùng thu thập được.”[26] Ba tháng sau, FBI đã bắt một số người Cuba, những người đã xâm nhập các nhóm khủng bố có cơ sở ở Mỹ. Năm trong số nầy đã bị kết án tù dài hạn.

Lý do an ninh quốc gia đã mất hết chút khả tín đạt được sau ngày sụp đổ của Liên Bang Xô Viết năm 1991. Nhưng cũng phải chờ đến 1998 tình báo Hoa Kỳ mới chính thức thông báo cho Cuba là Cuba không còn là một đe dọa đối với an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chính quyền Clinton đã nhấn mạnh đe dọa quân sự của Cuba đã giảm xuống mức “không đáng kể”, nhưng vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt.  Ngay cả với tiêu chuẩn mới, sự thẩm định tình báo cũng đã loại bỏ nguy cơ đã được nhận chân bởi Đại Sứ Mễ Tây Cơ năm 1961, khi ông bác bỏ nổ lực của JFK tổ chức hành động chung chống lại Cuba, với lý do: “nếu chúng ta tuyên bố Cuba là một đe dọa đối với an ninh chung, bốn mươi triệu dân Mễ Tây Cơ sẽ phải cười đến chết.”[27]

Tuy nhiên, nói cho công bằng, cũng cần phải công nhận các tên lửa ở Cuba cũng là một đe dọa. Trong những cuộc thảo luận riêng tư, anh em Kennedy đã tỏ ra lo ngại sự hiện diện của các tên lửa của Nga có thể ngăn chặn hay làm nản lòng một cuộc xâm lăng Venezuela của Hoa Kỳ. JFK đã kết luận: “Vì vậy, vụ Vịnh Con Heo đã thực sự đúng.”[28]

Năm 1992, dưới áp lực vận động bầu cử từ phe Clinton, chính quyền Bush I đã phản ứng, đối với việc loại bỏ duyên cớ an ninh, bằng biện pháp cấm vận khắt khe hơn. Chiến tranh kinh tế cũng  ngày một tàn nhẫn hơn trong năm 1996, do đó, đã gây thêm căng thẳng ngay trong hàng ngũ các đồng minh thân cận nhất của Mỹ. Biện pháp cấm vận cũng đã bị chỉ trích nặng nề trong quốc nội, với lý do nạn nhân duy nhất của cấm vận là giới xuất khẩu và đầu tư của chính Hoa Kỳ. Người Cuba không mấy bị ảnh hưởng.

Những cuộc điều tra bởi các chuyên gia Hoa Kỳ cho thấy một câu chuyện hoàn toàn khác. Thực vậy, một nghiên cứu chi tiết của Hiệp Hội Y Tế Thế Giới Hoa Kỳ[29] đã kết luận: biện pháp cấm vận đã có những tác động y tế khắc nghiệt, và phải nhờ chính hệ thống y tế  tuyệt vời của Cuba mới giúp tránh được “tai họa nhân đạo.” Điều nầy hầu như không hề được nhắc đến ở Hoa Kỳ.

Cuộc cấm vận đã thực sự chận đứng nguồn cung cấp thực phẩm và y tế. Năm 1999, chính quyền Clinton đã nới lỏng các biện pháp chế tài đối với tất cả các quốc gia có tên trên danh sách chính thức các “nhà nước khủng bố”, ngoại trừ Cuba được tách riêng để đặc biệt trừng phạt. Tuy nhiên, Cuba không phải là quốc gia duy nhất đơn độc về phương diện nầy. Sau cơn bão tàn phá các đảo vùng West Indies trong tháng 8-1980, T T Carter đã từ chối mọi viện trợ trừ phi Grenada bị loại ra ngoài, như một trừng phạt vài sáng kiến nào đó của chính quyền cải cách Maurice Bishop. Khi các xứ nạn nhân trận bão từ chối điều kiện loại trừ Grenada, Carter đã từ chối mọi viện trợ.

Cũng tương tự như thế, khi Nicaragua bị bão gây ra nạn đói và thiệt hại sinh thái nghiêm trọng trong tháng 10-1988, nhà cầm quyền Hoa Thịnh Đốn nhận thấy cuộc chiến chống khủng bố có thể hưởng lợi từ tai họa, và vì vậy, đã từ chối viện trợ, ngay cả đối với khu vực ven bờ Đại Tây Dương có quan hệ chặt chẽ với Hoa Kỳ và thù nghịch với Sandinistas. Hoa Thịnh Đốn cũng hành động tương tự khi một đợt sóng lớn cuốn trôi các làng chài lưới, gây tử vong và mất tích cho hàng trăm ngư dân trong tháng 9-1992. Trong trường hợp nầy, ngoài số tiền 25,000 USD, số ít viện trợ còn lại cũng đã được khấu trừ vào số trợ giúp đã lên lịch từ trước. Tuy nhiên, Quốc Hội cũng đã được đoan chắc chút ít viện trợ đó không hề ảnh hưởng đến quyết định ngưng ngân khoản viện trợ 100 triệu USD, vì lẽ chính quyền Nicaragua được Mỹ hậu thuẩn đã tỏ ra không phục tùng người Mỹ đúng mức.

Chiến tranh kinh tế của Mỹ đối với Cuba đã bị lên án nặng nề trên hầu hết mọi diễn đàn quốc tế, và “bị tuyên bố là bất hợp pháp bởi ngay cả Ủy Hội Tư Pháp của Tổ Chức Các Quốc Gia Mỹ Châu, thường ngoan ngoãn phục tùng.”[30]  Liên Hiệp Âu Châu cũng đã yêu cầu Tổ Chức Thương Mãi Thế Giới WTO lên án cấm vận. Chính quyền Clinton đã đáp ứng: “Âu châu đang thách thức ‘chính sách của Hoa Kỳ đối với Cuba trong suốt ba thập kỷ kể từ chính quyền Kennedy,’ và hoàn toàn  nhằm mục tiêu thay đổi chính quyền ở Havana.”[31] Hoa Thịnh Đốn cũng tuyên bố WTO không có thẩm quyền quyết định các vấn đề an ninh quốc gia của Hoa Kỳ hay buộc Hoa Kỳ phải thay đổi luật pháp. Hoa Kỳ đã bỏ ngang phiên họp, và vấn đề đã phải xếp lại.

MÔ HÌNH VÀ THÁCHTHỨC

Lý do các cuộc tấn công khủng bố quốc tế và các biện pháp cấm vận kinhtế bất hợp pháp chống lại Cuba đều đã được nêu rõ trong hồ sơ nội bộ. Và không ai cần phải ngạc nhiên khi khám phá những hành động vừa kể đã có một tiền lệ quen thuộc – chẳng hạn, trường hợp Guatemala một vài năm trước đây.

Ngay về thời điểm, sự âu lo một đe dọa từ phía người Nga cũng đã  không phải là yếu tố quan trọng. Những kế hoạch cưỡng bức thay đổi chế độ đã được soạn thảo và thực thi trước bất cứ một liên hệ có ý nghĩa nào với Nga Sô, và các biện pháp trừng phạt, chế tài cũng đã được tăng cường ngay cả sau khi người Nga không có mặt ở hiện trường. Quả thật, nguy cơ Nga có xuất hiện, nhưng đây chỉ là hậu quả hơn là nguyên nhân của chủ nghĩa khủng bố và chiến tranh kinh tế của Mỹ.

Tháng 7-1961, CIA đã cảnh báo “ảnh hưởng rộng khắp của chủ thuyết Castro không phải là một hàm số của quyền lực Cuba… Hình bóng của Castro đã ám ảnh vì những điều kiện kinh tế và xã hội khắp Châu Mỹ La Tinh đang mời gọi sự chống đối các nhà cầm quyền đương nhiệm, và khuyến khích các hoạt động nhằm mang lại thay đổi cơ bản.”[32] Và Cuba của Castro đã  cung cấp một mô hình.

Trước đó, Arthur Schlesinger đã chuyển đến JFK bản phúc trình của Phái Bộ Mỹ La Tinh, cảnh báo “người Mỹ La Tinh có thể bị lôi cuốn bởi ‘ý tưởng Castro’ phải tự nắm lấy chủ quyền.”[33] Phúc trình cũng nhắc đến mắt xích Kremlin: Liên Bang Xô Viết “đang chờ đợi, phô trương tín dụng phát triển và tự giới thiệu như một mô hình để thành đạt canh tân chỉ trong vòng một thế hệ.”[34] Schlesinger về sau đã diễn giải,  “những nguy cơ của ‘ý tưởng Castro’ là đặc biệt nghiêm trọng, khi sự tái phân điền địa và các hình thức tài sản quốc gia khác có lợi lớn cho các giai cấp hữu sản cũng như  những thành phần nghèo khó, thấp kém, và thiệt thòi về quyền lợi, bị kích thích bởi tấm gương cách mạng Cuba, ngày nay đang đòi hỏi cơ hội có được một cuộc sống phải chăng.”[35]

Kennedy e sợ viện trợ Nga Sô có thể biến Cuba thành một mô hình phát triển gương mẩu, đem lại cho người Xô Viết thế tay trên ở Mỹ La Tinh.

Vào đầu năm 1964, Hội Đồng Hoạch Định Chính Sách Bộ Ngoại Giao[36]đã khai triển những âu lo vừa nói: “Nguy cơ hàng đầu chúng ta đối diện ở Castro là… tác động của chính sự hiện diện của chế độ của ông trên phong trào cánh tả trong nhiều xứ Mỹ La Tinh… Sự kiện đơn thuần Castro đã đại diện cho một thách thức thành công đối với Hoa Kỳ, một sự phủ nhận toàn bộ chính sách toàn bán cầu của chúng ta trong hơn một thế kỷ rưởi.”[37]

Như Thomas Paterson đã viết: Nói một cách đơn giản, “Cuba, như một tượng trưng và một thực tế, đã thách thức địa vị bá chủ  của Hoa Kỳ ở Mỹ La Tinh.”[38] Khủng bố quốc tế và chiến tranh kinh tế để đem lại thay đổi chế độ có thể được biện minh không phải bởi việc làm của Cuba, mà bởi chính sự hiện hữu, sự thách thức thành công ngay chính quốc gia bá chủ chính đáng của bán cầu. Sự thách thức tự nó cũng đã có thể đủ biện minh cho các hành động bạo lực, như ở Serbia, như đã được thầm hiểu sau sự kiện thực tế; cũng như ở Iraq, cũng đã được công nhận ngay cả khi các nguyên cớ viện dẫn đã sụp đổ.

Sự xúc phạm qua thái độ thách thức đã từng xẩy ra từ xa xưa trong lịch sử Hoa Kỳ. Cách đây 200 năm, Thomas Jefferson đã gay gắt lên án Pháp vì thái độ thách thức khi chiếm hữu New Orleans, một thành phố Jefferson đang thèm muốn. Jefferson đã cảnh cáo “tư cách của Pháp [đang được] đặt ở điểm xung khắc vĩnh cửu với tư cách của chúng ta, một tư cách mặc dù cùng yêu chuộng hòa bình và theo đuổi giàu có, hết sức cao ngạo. Sự thách thức của Pháp [buộc chúng ta phải] liên minh với hạm đội Anh và chính  Anh quốc.”[39]

Jefferson đã khuyến cáo đảo ngược các thái độ của chính ông, những thái độ đã phản ảnh phần đóng góp thiết yếu cho công cuộc giải phóng các thuộc địa khỏi ách đô hộ của Anh Quốc. Chính nhờ cuộc đấu tranh giải phóng Haiti, không được giúp đỡ và hầu như đã bị mọi nước chống đối, thái độ thách thức của Pháp cuối cùng cũng đã sớm chấm dứt, nhưng các  nguyên tắc chỉ đạo vẫn còn hiệu lực, và hiện đang quyết định quan hệ  bạn-thù vẫn còn lây lất mãi cho đến ngày nay.

Tóm lại, người dân Cuba không may đã phải chứng nghiệm một hình thức chiến tranh khủng bố sớm sủa nhất – không phải“chiến tranh chống khủng bố”– của Hoa Kỳ. Thực vậy, khủng bố không thể là những gì những nhóm nhỏ quá khích phi-quốc-gia có thể gây ra cho các đại cường hùng mạnh. Theo một nghĩa nào đó, lịch sử đã và đang cho thấy một lịch sử Nhà Nước Khủng Bố, và Hoa Kỳ là quốc gia đang hoan hỉ thực thi một hình thức chiến tranh khủng bố, như trong trường hợp Cuba, với sự kiên trì không thương tiếc trong gần một nửa thế kỷ.

Chẳng mấy khác số phận người dân Cuba trong nhiều thập kỷ kể từ khi Fidel Castro lên nắm chính quyền, đối với người dân Afghanistan đã trải nghiệm hàng nghìn  cuộc hành quân khủng bố của quân đội Mỹ trong mấy năm gần đây, đối với người dân Pakistan đang thường xuyên bị khủng bố bởi cuộc chiến phi cơ không người lái của CIA chống lại al-Qaeda và Taliban, đối với người dân Iraq đã và đang tiếp tục sống với những kinh nghiệm”gây sốc và kinh hoàng” tương tự…, “cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu” của Mỹ tự nó luôn là “cuộc chiến khủng bố”. Người dân trong các xứ nạn nhân đã hoặc đang chứng kiến người Mỹ giết họ ngay bên trong xứ sở của  họ, ngay bên trong nhà riêng của chính họ, và chỉ vì họ là Hồi giáo… Vì vậy, căm thù ngày một sâu rộng và gay gắt…

Người Mỹ luôn nói “cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu” đang ngày một gần tới thắng lợi. Trong thực tế, họ đang trực tiếp hoặc gián tiếp theo đuổi một “cuộc chiến khủng bố” ngày một khốc liệt, gây thêm nhiều nhiều tang tóc điêu linh!!!

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

16-9-2011

CHÚ THÍCH: Phần lớn dữ liệu dùng trong bài viết đều lấy từ tác phẩm Hegemony or Survival của Noam Chomsky, Institute Professor emeritus, MIT Department of Linguistics and Philosophy.


[1] National Security Council – NSC.

[2] ..by giving his assurance [that] the United States has no aggressive purpose against Cuba.

[3] Allen Dulles’ main reason was that this might lead the Cubans to ask for Soviet or Soviet bloc arms, a move that would have a tremendous effect.

[4] …in favor of a regime “more devoted to the true interests of the Cuban people and more acceptable to the U.S.,” inluding support for military operation on the island” and” development of an adequate paramilitary force outside of Cuba.

[5] [But the US would determine the] true interests of the Cuban people.

[6] [The regime change] “was to be carried out in such a manner as to avoid any appearance of U.S. intervention.”

[7] There was an almost frantic reaction for an action program.

[8] …the atmosphere “almost as emotional” and was struck by “the great lack of moral integrity.”

[9] ..The complacent, the self-indulgent, the soft societies are about to be swept away with the debris of history. Only the strong …can possibly survive.

[10] Kennedy was aware that allies think that “we’re slightly demented”on the subject of Cuba, a perception that persists to the present.

[11] Operation Mongoose was “the centerpiece of American policy toward Cuba from late 1961 until the onset of the 1962 missile crisis”the program on which the Kennedy brothers “came to pin their hopes.”

[12]  Robert Kennedy informed the CIA that the Cuban problem carries “the top priority in the United States Government – all else is secondary – no time, no effort, or manpower is to be spared” in the effort to overthrow the Castro regime. The chief of the Mongoose operations, Edward Lansdale, provided a timetable leading to “open revolt and overthrow of the Communist regime” in October 1962.

[13] The “final definition” of the program recognized that “final success  will require decisive U.S. military intervention,” after terrorism and subversion had laid the basis.

[14] …to use “covert  means…to lure or provoke Castro, or an uncontrollable subordinate, into an overt hostile reaction against the United States; a reaction which would in turn create the justification for the US not only retaliate but destroy Castro with speed, force and determination.”

[15] …outlining “pretexts which they would consider would provide justification for US military intervention in Cuba.”

[16] …if “a credible internal revolt is impossible of attainment during the next 9-10 months,” but before Cuba could establish relations with Russia that might “directly involve the Soviet Union.”

[17] Raymond Garthoff writes that “the Soviets could only see [the attack] as an effort to backpedal on what was, for them, the key question remaining: American assurances not to attack Cuba.”

[18] …”the risk and danger to both sides could have been extreme, and catastrophe not excluded.”

[19] …”one of Nixon’s first  acts in office in 1969 was to direct  the CIA to intensify covert operations against Cuba.”

[20] …only once in these nearly thousand pages of documentation did a U.S. official raise something that resembled a faint moral objection to U.S.-government sponsored terrorism”: …

[21] …and raids that are “haphazard and kill innocents.. might mean a bad press in some friendly countries.”

[22] …a full-scale invasion of Cuba would “kill an awful lot of people, and we’re going to take an awful lot of heat on it.”

[23] …Castro was condemned by editors for maintaining an “armed camp, despite the security from attack promised by Washington in 1962.

[24] …tax-exempt Cuban-American National Foundation – CANF.

[25] …the Justice Department had found the conclusion “inescapable that it would be prejudicial to the public interest  for the United States to provide a safe haven for Bosch [because] the security of this nation is affected by its ability to urge credibly other nations to refuse aid and shelter to terrorists.”

[26]  Senior members of the FBI visited Cuba in 1998 to meet their Cuban counterparts, who gave [the FBI] dossiers about what they suggested was a Miami-based terrorist network: information which had been compiled in part by Cubans who had infiltrated exile group.

[27] …if we publicly declare that Cuba is a threat to our security, forty million Mexicans will die laughing.

[28] So “the Bay of Pigs was really right.”

[29] American Association for World Health.

[30] …even declared illegal by the Judicial Commission of the normally compliant Organization of American States.

[31] …”Europe is challenging ‘three decades of American Cuba policy that goes back to the Kennedy Administration,’ and is aimed entirely at forcing a change of government in Havana.”

[32] .. the extensive influence of Castroism  is not a function of Cuban power….Castro’s shadow looms large because social and economic conditions throughout Latin America invite opposition to ruling authority and encourage agitation for radical change.

[33] …”the Castro idea of taking matters into one’s own hands.”

[34] …The Soviet Union “hovers in the wings, flourishing large development loans and presenting itself as the model for achieving modernization in a single generation.”

[35] The dangers of the “Castro idea” are particularly grave when the distribution of land and other forms of national wealth greatly favors the propertied classes and the poor and underprivileged, stimulated by the example of the Cuban revolution, are now demanding opportunities for a decent living.

[36] State Department Policy Planning Council.

[37] The primary danger we face in Castro is …in the impact the very existence of his regime has upon the leftist movement in many Latin American countries….The simple fact is that Castro represents a successful defiance of the US, a negation of our whole hemispheric policy of almost a century and a half.

[38] Cuba, as a symbol and reality, challenged U.S. hegemony in Latin America.

[39] …France’s character [is] placed in a point of eternal friction with our character, which though loving peace and the pursuit of wealth, is high-minded. France’s defiance [requires us to] marry ourselves to the British fleet and nation.