JOHN  MAYNARD KEYNES  VÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ

Sau khi Dự Luật Việc Làm 445 tỉ của Obama có vẻ đã yểu tử, báo Washington Post  đã chạy hàng tít:  John Maynard Keynes, the GOP’s Latest Whipping Boy (John Maynard Keynes, Kẻ Thù Mới Nhất của Đảng Cộng Hòa).

Đã hẳn, đối với phe tả, Keynes vẫn còn là bạn, mặc dù, cũng như một số đồ đệ của Keynes, đa số chưa bao giờ đọc tác phẩm của Keynes. Theo một số học giả, trong cuộc bầu cử 2012, hai ứng cử viên thực sự là John Maynard Keynes và Friedrich Hayek, một kinh tế gia người Áo chống đối mọi hình thức hoạch định quốc gia (mặc dù Hayek cũng ưa thích và đã từng hưởng dụng bảo hiểm y tế Medicare). Nếu đó là cuộc bầu cử tổng thống thực sự, có lẽ đồ đệ của Keynes, trong giờ phút tuyệt vọng “suy thoái kép”, có thể tự hỏi: Liệu Keynes sẽ phải làm gì?

Nếu đọc kỷ tác phẩm của Keynes, chúng ta có thể ngạc nhiên khi tìm thấy nhiều điều có thể làm, ngoài việc “mồi máy bơm,”[1] có nghĩa: chỉ cần nâng cao trần công trái của chính quyền liên bang.

Đối với Keynes, vấn đề không phải chỉ khuyến khích mọi người mua sắm, hay giới chủ nhân phải tuyển dụng thêm nhân viên, mà ngay cả giới tài phiệt cũng phải bỏ tiền ra đầu tư. Không chỉ thất nghiệp, mà khuy khiếm trong cân thương mãi hữu hình đã khiến Keynes phải kinh ngạc. Tác giả có lẽ đã rất âu lo khi thấy Hoa Kỳ đang nợ nần quá nhiều đối với thế giới bên ngoài.

Nhiều người chắc đã phải băn khoăn và tự hỏi: “chính Keynes là người đã tìm cách thúc đẩy chúng ta vay nợ.”[2] Đúng, nhưng không phải loại nợ đó. Trong thực tế, người viết tiểu sử của Keynes đã cho biết cá nhân ông rất ghét vay nợ; nhất là trong suy thoái, ông rất ghét  một xứ có cân thương mãi hữu hình khuy khiếm, khi nhập khẩu vượt quá xuất khẩu. Thực vậy, khi khuy khiếm trong cân thương mãi hữu hình tồi tệ như Hoa Kỳ hiện nay, thật  khó lòng có thể dùng  biện pháp tăng chi và tài trợ bằng khuy khiếm ngân sách để nâng cao mức nhân dụng. Không như một số đồ đệ của ông hiện nay, Keynes đã nắm bắt vấn đề rất nhanh.

Năm 1936, khi viết tác phẩm kinh điển The General Theory of Employment, Interest and Money (Lý Thuyết Tổng Quát về Nhân Dụng, Tiền Lãi và Tiền Tệ), Keynes đã nhấn mạnh: không một xứ nào, bất cứ vào lúc nào, nên chuốc lấy bất cứ loại khuy khiếm thương mãi nào, nói gì đến căn bệnh ghiền khiếm hụt thương mãi như Hoa Kỳ hiện nay. Thực vậy, từ năm 1936 và những năm kế tiếp, Hoa Kỳ luôn là nước chủ nợ lớn nhất trong lịch sử thế giới. Do đó, Keynes chưa bao giờ phải lo ngại về Hoa Kỳ như một xứ con nợ, và đã dành những ngày cuối đời thuyết phục Hoa Kỳ giúp lôi kéo các xứ khác ra khỏi tình trạng nợ nần.

Nếu sống lại và chứng kiến món nợ nước ngoài kếch sù của Mỹ hiện nay, có lẽ Keynes sẽ thúc đẩy một kế hoạch nghiêm chỉnh nhằm giảm thiểu tối đa ngạch số khiếm hụt thương mãi hữu hình còn hơn cả khuyến khích chính sách kinh tế dùng kích cầu để giải quyết thất nghiệp hay đạt toàn dụng.

Nếu thỉnh thoảng bạn có đọc tạp chí The Economist, bạn chỉ cần lật đến trang cuối để thấy số khuy khiếm tích lũy mỗi năm trong cân thương mãi hữu hình của Hoa Kỳ và một số quốc gia khác, chắc chắn bạn sẽ phải kinh ngạc. Số khuy khiếm của Hoa Kỳ chỉ trong 9 tháng đầu năm cũng đã lên đến gần 700 tỉ USD – 680,9 tỉ USD tính đến tháng 9-2011. Bên cạnh Hoa Kỳ, cân thương mãi hữu hình của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thặng dư. Vâng, cũng còn hai nước khác luôn theo đuôi Mỹ – Anh và Tây Ban Nha – họ cũng đang gặp tai họa khuy khiếm thương mãi hữu hình.

Và một vài xứ thặng dư quá nhiều. TQ, nước có mức lương thấp, có số thặng dư 172,5 tỉ USD. Cộng Hòa Đức, mức lương cao, với số thặng dư còn cao hơn cả TQ -188,4 tỉ USD.

Trong thực tế, khuy khiếm còn có thể lớn hơn nếu Hoa Kỳ đang trong tình trạng toàn dụng, bởi lẽ khi đó người Mỹ có thể có tiền để mua thêm trang bị phẩm từ nước ngoài.

Và đó chỉ là bề mặt của khuy khiếm thương mãi. Phía dưới bề mặt, số khuy khiếm còn nghiêm trọng hơn, với các đại công ty Mỹ đã “xuất khẩu” – outsourcing – rất nhiều loại việc làm ra nước ngoài. Ngày 19-4-2011, trên báo The Wall Street Journal, người ta bắt gặp hàng tít: “Big US Firms Shift Hiring Abroad” – các xí nghiệp lớn của Hoa Kỳ đang chuyển dịch tuyển dụng ra nước ngoài. Trong thập kỷ 2000, theo  tường trình của Wall Street Journal, trong khi các công ty đa quốc gia Hoa Kỳ đã sa thãi 2,9 triệu nhân công trong nước, họ cũng đã thuê mướn 2,4 triệu người nước ngoài. Số nhân công nầy đang sản xuất những cơ phận rời, gửi qua Hoa Kỳ  lắp ráp, và sản phẩm hoàn tất lại được  bán ra nước ngoài, người Mỹ cũng xem đây là hàng xuất khẩu.

Tưởng cần phải nói rõ, điều nầy cũng đúng với các xứ khác, nhưng  tệ hại hơn rất nhiều ở Hoa Kỳ, bởi lẽ người Mỹ không có sự kiểm soát của chính quyền (như ở TQ) hay của lao động có tổ chức (như ở Đức) để duy trì việc làm trong nước. Tình trạng khuy khiếm thương mãi thực sự của Hoa Kỳ còn tệ hại hơn rất nhiều so với con số trên trang cuối của tạp chí The Economist.

Trên đây là những gì Keynes là người đầu tiên có thể đã nói rõ. Thực vậy, ông đã dành phần lớn đời mình tìm cách giúp các xứ con nợ thóat khỏi nợ nần. Sau Đệ Nhất Thế Chiến, ông đã cố gắng giúp Đức Quốc ra khỏi tình trạng công nợ. Chúng ta nên đọc kỷ bài bình luận nổi tiếng của Keynes năm 1919 “The Economic Consequences of the Peace” (Hậu Quả Kinh Tế của Hòa Bình). Trong thập kỷ 1930, Keynes đã rõ rệt chống lại tự do mậu dịch và luôn thuyết giảng sự cần thiết phải sống trong phạm vi khả năng quốc gia – national self-sufficiency. Ông đã kết luận cuốn The General Theory với cuộc bút chiến lâu dài chống lại tự do mậu dịch và ca tụng điều người Bourbons và Habsburgs thường làm: phong tước những hoàng tử trọng thương đã đem về nước một số tiền vàng từ nước ngoài. Ý tưởng lớn của đế chế tuyệt đối là thúc đẩy xuất khẩu hơn là nhập khẩu.

Tất cả đều được trình bày trong phần cuối cuốn The General Theory – phần mà Paul Krugman đã mô tả như “món tráng miệng.” Tuy nhiên, công kích nợ nước ngoài luôn là  đỉnh cao trong luận cứ của Keynes. Và ông đã từ trần khi đang tìm cách thiết kế một hệ thống có thể giúp các xứ con nợ ra khỏi nợ nần. Ông đã thúc đẩy thành lập Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Ông còn tranh đấu cho một đơn vị tiền tệ toàn cầu: đồng bancor. Trong tập cuối cuốn tiểu sử nổi tiếng của Robert Skidelsky: “John Maynard Keynes: Fighting for Freedom” (John Maynard Keynes: Tranh Đấu cho Tự Do), 1937-1946, tác giả đã nhắc tới sự kiện Keynes đã cố gắng ra khỏi giường bệnh  năm 1944 và tìm cách thiết lập một hệ thống toàn cầu thúc đẩy các quốc gia chủ nợ như Hoa Kỳ giúp các xứ con nợ thoát khỏi nợ nần.

Đã hẳn, không xứ nào cố tình tìm kiếm khuy khiếm thương mãi. Đó là lẽ thường tình. Các kinh tế gia, dạy những môn Bush và Obama đã ghi tên học ở Yale hay Harvard, có thể nghĩ điều đó không quan trọng. Nhưng đối với Keynes, thặng dư trong cân thương mãi hữu hình luôn có tác động kích thích, và khuy khiếm là một tai họa. Trong Tập VI, ông mạnh dạn tuyên bố: “Một cân thương mãi thuận lợi [thặng dư], quý hồ không quá lớn, sẽ mang tính cực kỳ kích thích; trong khi một cân thương mãi bất lợi [khuy khiếm] có thể sớm đem lại một tình trạng khủng hoảng dài lâu.”[3] Nhưng Keynes rất đổi kinh ngạc trước thái độ thiếu quan tâm của hầu hết các kinh tế gia đối với vấn đề nầy. Keynes đã viết: “thành đạt xuất sắc của lý thuyết cổ điển là đã thắng lòng tin của ‘con người tự nhiên’ và, đồng thời, đã sai lầm.”[4]

Trong chế độ kim bản vị của thập kỷ 1930, một khuy khiếm trong cân thương mãi là điều xấu, một phần vì phải thanh toán bằng vàng. Nhưng nó cũng xấu không kém khi trả từ năm nầy qua năm khác bằng sức mạnh kỹ nghệ ngày một bị xói mòn, có nghĩa “công ty Hoa Kỳ” bị khủng hoảng –  by melting down America, Inc.

Keynes tin các lãnh đạo thực tế luôn nhận thức tầm quan trọng lớn lao trong nhiệm vụ duy trì xứ sở khỏi nợ nước ngoài. Thực vậy, Keynes hình như luôn xem đây là nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước. Đối với Keynes trong những năm cuối đời, đây là nhiệm vụ kinh tế tương đương với nhiệm vụ bảo vệ xứ sở. Tránh không vay nợ nước ngoài là một hành vi yêu nước và  bảo toàn quốc gia, trên cả nhiệm vụ giảm  thiểu thất nghiệp. Hay theo ngôn từ của Skidelsky, đó là chiến đấu vì tự do. Keynes không thể tin tại sao Obama, Tea Party, Dân Chủ, Cộng Hòa –  giới lãnh đạo Hoa Kỳ … lại ít quan tâm đến một ngạch số khuy khiếm thương mãi lớn lao như thế – xem như chẳng liên quan gì đến khủng hoảng kinh tế ở Hoa Kỳ.

Cánh hữu luôn muốn giảm thiểu khiếm hụt liên bang. Cánh tả nói chung muốn vay thêm nợ và đạt toàn dụng; sau đó sẽ giảm thiểu khiếm hụt liên bang; rồi mới có toàn dụng và mọi chuyện sẽ tốt đẹp.

Tuy nhiên cho đến khi khuy khiếm thương mãi được giảm thiểu và cân chi phó được cải thiện,  chúng ta không còn cách nào khác để ra khỏi nợ.  

Nhiều người sẽ hỏi: khác biệt giữa khuy khiếm thương mãi và khiếm hụt trong cân chi phó là gì? Một cách đơn giản, khiếm hụt trong cân chi phó –  bản tổng kết kế toán trong một năm –  là số sai biệt giữa tổng số ngân khoản thanh toán các món nợ đối với các nước ngoài và tổng số thu nhập từ khu vực ngoại quốc. Con số sai biệt nầy khác với tổng số khiếm hụt trong cân thương mãi hữu hình, bởi lẽ còn bao gồm số đầu tư của một xứ ở các xứ khác và tổng số đầu tư của người nước ngoài trong nước sở quan, tiền vay mượn, du lịch, ngoại viện …

Chẳng hạn, thử xét trường hợp Hoa Kỳ. Người Mỹ hiện đang đối diện với một số khuy khiếm khổng lồ trong cân chi phó bắt nguồn từ khiếm hụt trong cân thương mãi hữu hình, ngoài ra Hoa Kỳ còn phải gồng gánh những khoản chuyển ngân phi thương mãi.

Chúng ta cần nhấn mạnh vào từ đầu trong cụm từ ” ‘cân’ chi phó” bởi lẽ một bản tổng kê kế toán hay đối chiếu biểu luôn phải “cân bằng”. Chừng nào còn có một khiếm hụt trong cân chi phó, một người Mỹ nào đó phải đi vay nợ. Dưới thời Bush, phần lớn là khu vực tư nhân: nhân dân Mỹ. Người Mỹ xài thẻ tín dụng – Visas, MasterCards, vay tiền lãi thấp, vay tiền dùng số tiết kiệm tích lũy trong bất động sản làm bảo đảm… Giờ đây, người Mỹ trong khu vực tư  buộc lòng phải bớt chi tiêu, và hạn chế hay ngưng vay nợ. Vì vậy, chính quyền Mỹ phải đứng ra vay.

Giả thiết khu vực tư bằng lòng đi vay, giải quyết hay giảm thiểu nạn thất nghiệp, và số khiếm hụt liên bang tụt xuống số không.

Mọi chuyện đều ổn?

Chưa hẳn, vì mọi người trong khu vực tư đã phải vay nợ. Chỉ cần làm một phép tính đơn giản. Ai đó trong khu vực tư của Mỹ sẽ đi vay để giúp cân bằng cân chi phó. Ai sẽ làm điều đó? Hoặc chính quyền hoặc người dân.  Một ngày nào đó, Obama hay người kế nhiệm sẽ nói, “Tôi đã đi vay để ‘cân bằng’ cân chi phó. Giờ đến phiên anh phải đi vay để ‘cân bằng’ cân chi phó.”

Đã hẳn, nhiều người thích để chính quyền đứng ra vay hơn. Như một người dân chịu thuế, chúng ta thà trả lãi suất thấp hiện hành của trái phiếu ngân khố hơn là trả 25 đến 30% khi dùng thẻ Visa. Tea Party và Đảng Cộng Hòa luôn nói chúng ta không thể trút gánh nặng nợ nần lên con cháu của chúng ta. Trong thực tế, rất có thể chúng ta đang giúp con cháu chúng ta với số nợ của khu vực công hơn là nợ của khu vực tư. Ít ra với nợ của khu vực công, con cháu chúng ta sẽ không bị kiện và ra hầu tòa.

Như vậy, suy nghĩ như thế nào cho đúng? Nhưng phe tả hiện cũng không có kế hoạch nghiêm chỉnh nào để ra khỏi nợ.

Đã hẳn, một số người khác cũng đã nói rõ số nợ thương mãi với nước ngoài của Hoa Kỳ là một điều không tốt, một điều xấu, mặc dù vẫn chưa được nhắc đến nhiều trong các cuộc tranh luận chính trị hiện nay ở Mỹ. Nhưng nó đã giữ một vai trò thật sự lớn lao trong hiện tình khủng hoảng toàn cầu.

Thế giới đang tràn ngập những chủ nợ người nước ngoài đang nắm trong tay nhiều đô la Mỹ. Họ chuyển số đô la đó trở lại Hoa Kỳ dưới hình thức cho vay – trái phiếu ngân khố là cái chắc, nhưng còn có cả trái phiếu các công ty, các dụng cụ tài chánh, prime loans hay cho vay với lãi  thấp, trái khoản với lãi cực thấp … Và sự bành trướng quá mức của khu vực tài chánh – không được giám sát – đã đưa đến sụp đổ.

Nhưng nguyên nhân phía sau tai họa là sự kiện thực tế Hoa Kỳ không đủ khả năng thanh toán mọi giao dịch của mình trên thế giới. Và trong khi một quốc gia nhỏ bé hơn có thể đã bị phá sản từ lâu, Hoa Kỳ vẫn còn khập khiểng đi tới, mỗi lúc một bệnh hoạn hơn, sức mạnh kỹ nghệ ngày một bị xói mòn, vì phần còn lại của thế giới còn có quyền lợi để tiếp tục giúp người Mỹ đứng vững.

Đối với Keynes, đây có thể là một thử thách – không chỉ giảm thiểu, mà loại trừ toàn bộ khiếm hụt. Thất bại trước thử thách nầy sẽ đem lại nhiều hậu quả thật sự đối với các phần khác của lý thuyết Keynes. Giải pháp cho khủng hoảng không phải chỉ cần có nhiều đại công tác. Và đã hẳn Keynes ưa thích công chi hay chính quyền phải chi tiêu, các chương trình đại công tác. Ông đã từng thấy dân chúng đói khổ, ông có sẵn một con tim. Chúng ta phải làm một cái gì đó. Chúng ta không thể ngồi chờ khiếm hụt thương mãi tự giảm thiểu. Nhưng đó không phải là câu trả lời – điều nầy rất cấp thiết, nhưng cũng chỉ là bước đầu. Giải pháp là các người giàu phải bỏ tiền ra “đầu tư thực sự”, không phải “cho vay.” Giải pháp là khuyến dụ người Mỹ giàu phải đầu tư bằng cách “thuê nhân công xây dựng những tích sản bền lâu.” Gọi đó là máy móc, gọi đó là đồ dùng, gọi đó là iPads. Gọi đó là những gì chúng ta có thể đóng vào bao bì, thùng hộp, và bán cho người nước ngoài. Nhưng Keynes không đặt những thứ đó trước kích cầu. Keynes đặt chúng với nhau cùng lúc.

Có một lúc trong năm 2009, hình như hầu hết mọi người đều là đồ đệ của Keynes. Ngay cả Skidelsky cũng đã vội vã cho ra cuốn, Keynes: The Return of the Master (Keynes: Sự Trở lại của một bậc Thầy). Nhưng giờ đây, chúng ta không còn tin  chắc. Ngay cả vài người trong phe tả cũng đã có thể hỏi: Keynes đúng hay sai về tất cả những điều nói trên đây, hay chúng ta cần tìm một bậc tiên tri khác? 

Nhưng Keynes đã nói đúng! Lý Thuyết Tổng Quát của ông rất có thể không chứng minh được như lý thuyết của Einstein. Nhưng chúng ta luôn có thể nhìn các xứ khác, như Anh quốc và Tây ban Nha, những nước đã chọn chính sách kiệm ước khắc khổ. Hai xứ đó là những trường hợp điển hình, những bệnh nhân đã bị cưa cụt chân tay, đúng như lý thuyết của Keynes có thể tiên đoán. Và các xứ Đông Á đã kích thích kinh tế của họ theo đúng các nguyên tắc của Keynes và đã phục hồi ngoạn mục. Đức quốc là một ngoại lệ, nhưng Đức đã có một gói kích cầu khổng lồ nhờ ở cân thương mãi hữu hình thặng dư – phần lớn từ số cầu nhập khẩu của các xứ Đông Á và BRICS. Với một gói kích cầu không hoàn toàn đủ lớn, Hoa Kỳ cũng đang khập khiểng trung dung – kinh tế không ngưng trệ quá đáng, như Anh và Tây Ban Nha, nhưng cũng không nóng, không mấy lạc quan.

Một phần lý do Hoa Kỳ đã không khá hơn: đó là vì khuy khiếm trong cân thương mãi hữu hình, cú đấm của lý thuyết  Keynes đã mất đi phần nào hiệu ứng. Dựa trên bằng chứng của Lý Thuyết Tổng Quát, Keynes có thể lập luận gói kích cầu phải lớn hơn, hay phải làm việc cực lực hơn,  chừng nào người Mỹ còn phải  gánh vác món nợ nước ngoài kếch sù. Thử xét trò ảo thuật ngụ ngôn kiểu Aesop của Keynes về Ngân Hàng Anh Quốc. Chúng ta thử quẳng bỏ Ngân Hàng Anh Quốc và thay vào đó Cục Dự Trữ Liên Bang. Như Keynes đã có thể nói, thay vì không làm gì trong suy thoái, Cục Dự Trữ nghĩ tốt hơn nên nhét giấy bạc đô la vào ve lọ đem chôn vùi, và mướn người Mỹ đào bới lên. Hành động nầy không những giúp giảm thiểu nạn thất nghiệp mà còn có thể đem lại hiệu ứng số nhân.

Nhưng Keynes đã không nói người Mỹ phải nhét giấy bạc vào chai lọ và đem chôn vùi bên TQ , và mướn nhân công TQ đào bới lên. Sao lại không? Vì việc đó chẳng giúp ích gì cho người Mỹ, vì nhân công Mỹ đã không được thuê mướn. Và cố nhiên, sẽ không có “hiệu ứng số nhân.” Bí quyết tuyệt vời của kích cầu là hiệu ứng số nhân. Thực vậy, chúng ta sẽ đơn giản hóa hơn nữa: nếu chúng ta thuê người Mỹ đào bới các chai đầy giấy bạc đô la, họ sẽ có tiền mặt để chi tiêu. Năm 1936 những người nầy có thể tiêu tiền ở quán ăn ở góc đường. Quán ăn sẽ mướn thêm người phục vụ, mua thêm thực phẩm và hàng tạp hóa. Một người nào đó sẽ mua xe vận tải chuyên chở thực phẩm và hàng tạp hóa…

Quá trình cứ thế tiếp tục …việc làm, việc làm, việc làm …theo cấp số nhân.

Nhưng chúng ta không ở trong thời buổi 1936. Chúng ta đang ở trong năm 2011.

Giờ đây, sau khi đào bới các chai lọ, người Mỹ lại đến Target và Walmart mua hàng TQ rẻ tiền. Điều gì sẽ xẩy ra với hiệu ứng số nhân khi đồng USD người Mỹ chi tiêu cuối cùng lại lọt vào tay người TQ ở TQ? Trong Chương 10 cuốn Lý Thuyết Tổng Quát,  Keynes viết: ” Trong một hệ thống mở cữa với quan hệ thương mãi với nước ngoài, vài phần của hiệu ứng số nhân sẽ làm lợi cho nhân dụng trong các nước khác.” Hay, như ông nói, sẽ có chút ít “rò rĩ.” Nhưng điều đó có thể chấp nhận được nếu người nước ngoài lại mua hàng của chúng ta. Nếu có một sự cân bằng trong mậu dịch, điều đó dễ được chấp nhận. Nhưng họ không mua hàng từ Mỹ. Họ mua từ Nhật và Đức nhiều hơn, lúc đó, sự kích thích của Mỹ lại rời TQ và đi đến các xứ vừa nói.

Ngay trong thời buổi bình thường, một sự chuyển dịch tài sản như thế cũng đã khá bất lợi. Nhưng khi còn lệ thuộc vào các biện pháp kích cầu, Hoa Kỳ lại rò rỉ ra các xứ ngoài với một tầm cỡ ngay cả Keynes cũng khó thể tưởng tượng nổi, và ngay cả vào năm 1936, Keynes cũng đã khá âu lo.

Trước một rò rỉ hiệu ứng số nhân, gói kích cầu phải hết sức khổng lồ. Nói một cách trung thực, các phần tử độc lập, và ngay cả phe tả cũng kinh ngạc khi thấy ngay từ  đầu Obama đã đi quá xa vào con đường vay nợ. Vì vậy, khi gói kích cầu khổng lồ hình như đã không đem lại hiệu quả, người Mỹ đã chán ngán thất vọng. Họ không hiểu Keynes. Nhưng có thể chúng ta cũng không hiểu Keynes. Phải chăng quần chúng đã thiếu duy lý? Trong khi mức công trái của Hoa Kỳ đã lên đến 1,3 nghìn tỉ USD mỗi năm, tỉ lệ thất nghiệp đã tăng vọt đáng lo ngại lên trên 9%, và tỉ suất thực sự còn cao hơn rất nhiều. Qua Tea Party, chúng ta đã biết  rõ chính quyền đã phải vay 40 xu cho mỗi đô la chi tiêu.

Lý thuyết Keynes cũng còn mất hiệu lực vì nhiều lý do khác.

Trước hết, qua việc cắt giảm ngân sách, các chính quyền tiểu bang cũng làm vô hiệu hóa các chương trình kích cầu của liên bang. Năm 1936, các tiểu bang lúc đó chỉ là những chính quyền chưa có đủ quyền, những “toy gvernments”. Các New Dealers đã ghét bỏ họ. Nhưng ngày nay, các chính quyền tiểu bang đang là những chủ nhân trong khu vực công lớn lao hơn cả Hoa Thịnh Đốn. Do hiến pháp các tiểu bang đòi hỏi ngân sách phải cân bằng, chính quyền cấp tiểu bang buộc lòng phải cắt giảm công chi trong khi lý thuyết Keynes muốn họ chi tiêu. Nếu các gói kích cầu đã không có tác động kích thích, chúng ta có thể phần nào chỉ trích 50 hiến pháp Tea Party, đang đòi hỏi kiệm ước một cách ngu xuẩn bên trong mỗi tiểu bang. Trong hệ thống liên bang Hoa Kỳ, các biện pháp kích cầu theo kiểu Keynes là 50% bất hợp hiến.

Thứ đến, giới nhà giàu ngày nay giàu hơn rất nhiều so với thời kỳ 1940-1975. Nếu Obama thành công đem lại một tỉ suất tăng trưởng 1% GDP, hầu hết số gia tăng đều lọt vào túi giới cực giàu. Giới nầy, với “khuynh hướng tiêu thụ biên tế cực thấp,” không đủ khả năng chi tiêu hết, có nghĩa, không khởi động hiệu ứng số nhân. Tờ Financial Times hiện có phụ bản thường xuyên với nhan đề “How to Spend It” (Làm Cách Nào Để Chi Tiêu Hết), nhưng điều nầy vươt quá khả năng của họ. Có quá nhiều để có thể chi tiêu hết.

Biện pháp kích cầu có thể đánh thức một nền kinh tế bình đẳng, giàu nghèo ít cách biệt qua các biện pháp tái phân lợi tức, vì mọi người đều có khả năng chi tiêu. Nhưng kích cầu không thể đánh thức một nền kinh tế của giới siêu giàu: những người trên tuyệt đỉnh chỉ có thể cựa mình trên giường ấm nệm êm.

Số khiếm hụt thương mãi đồ sộ phải là đề tài lý tưởng cho các đảng viên Dân chủ: “Đảng Dân Chủ phải là đảng sẽ thực sự lèo lái nước Mỹ ra khỏi công nợ.” Đó là cách Đảng Dân Chủ kết nối với cử tri: nêu rõ sự kết nối giữa nợ tư và công với nợ các nước ngoài. Đảng Cộng Hòa chẳng có gì để nói. Đảng Dân Chủ nắm trọn đề tài.

Như vậy, Keynes có thể làm được gì?

Sau đây là những gì Keynes sẽ không làm:

(1) “Bỏ phiếu chống các thỏa ước mậu dịch tự do.”

Mặc dù chỉ trích tự do mậu dịch, Keynes nghĩ thuế quan là kỳ quái. Trong khi tấn công mậu dịch tự do, ông cũng viết “độc giả không phải kết luận thiếu chính chắn đối với chính sách thực tiển luận cứ của chúng ta dẫn tới…Các lợi điểm của phân công quốc tế là thực sự và đáng kể, dù rằng trường phái cổ điển đã nhấn mạnh quá đáng … Một chính sách hạn chế mậu dịch là một khí cụ đáng nghi ngờ.”[5]

(2) “Phá giá.”

Keynes xác nhận phá giá đôi khi hữu ích vì tăng tính cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới hối suất không cố định và thường chao đảo, lên xuống, thay đổi. Trong lý thuyết Keynes, không ai sẽ lấy quyết định đầu tư dài hạn căn cứ trên sự lên xuống hàng ngày của đồng USD. Đồng USD đã nhiều lần sụt giá khá nhiều đối với đồng euro cũng như đồng renminbi, và chưa bao giờ có ảnh hưởng đáng kể đối với ngạch số khuy khiếm trong cân thương mãi hữu hình. Các xứ khác sẽ tranh đua phá giá như chúng ta, vì vậy, phá giá không bao giờ hiệu quả.

(3) “Hãy chi tiêu để xây dựng hạ tầng cơ sở.”

Rất tốt. Nhưng ngay cả khi người Mỹ tráng vàng lên các xa lộ xuyên bang, điều đó cũng sẽ không giúp bán được nhiều hàng hóa hơn ở nước ngoài.

Như vậy, câu trả lời của Keynes? Rất đơn giản. Trong khi Keynes ít nhất  cũng tin tưởng ở các công trình trong khu vực công –  ông thực ra đã sáng chế ra ý niệm – ông chưa bao giờ trình bày khu vực công như chìa khóa thực sự của vấn đề kinh tế. Thay vào đó, như ông viết trong tác phẩm Lý Thuyết Tổng Quát, “Sự yếu kém của động lực đầu tư  luôn là chìa khóa đưa đến khó khăn kinh tế.”[6]

Chúng ta phải thuyết phục giới giàu phải đầu tư. Nhất là chúng ta phải thuyết phục họ đầu tư “bằng cách mướn lao động xây dựng các tích sản bền lâu.”[7] Chúng ta không phải thuyết phục họ tiêu thụ. Và chúng ta thực ra cũng không cần họ làm việc. Cứ để mặc họ thụ hưởng giường êm chăn ấm.

Điểm cốt yếu là họ phải đầu tư – đừng tiết kiệm, đừng đầu cơ trong những khí cụ tài chánh, chỉ đầu tư vào máy móc sản phẩm chúng ta có thể gói ghém, cho vào thùng bán ra nước ngoài. Và Keynes có thể hỏi phe tả, hỏi Đảng Dân Chủ: Làm thế nào để có thể khiến giới nhà giàu đầu tư?

Trong cuốn Lý Thuyết Tổng Quát, Keynes có một ý tưởng lớn – hạ thấp lãi suất. Bằng cách hạ thấp lãi suất trên số cho vay, chúng ta có thể thúc đẩy giới nhà giàu bỏ tiền vào những hình thức đầu tư ít nhiều thiếu tính thanh khoản, trong những thứ chúng ta có thể bán ra nước ngoài.

Thế tất cũng có người nói, Keynes quả là gàn dở. Cục Dự Trữ đã hạ lãi suất xuống số không. Giống hệt nước Nhật. Chúng ta đang đẩy một dây thừng.

Nhưng không phải vậy. Đã hẳn, Cục Dự Trữ Liên Bang đã hạ lãi suất tối đa, và lãi suất bất động sản cũng đã rất thấp. Nhưng ngay cả sau Dodd-Krank, hãy nhìn lại những số tiền lời khổng lồ của khu vực tài chánh – có nghĩa của các ngân hàng thương mãi và đầu tư. Đối với Keynes, chìa khóa để người giàu đầu tư vào lao động để xây dựng những tích sản bền lâu là giữ các lợi lộc trời cho từ tiền cho vay, mua lại cổ phần hay quyền lợi của một công ty hay buyouts, đầu cơ tài chánh – những thứ lợi tức Keynes gọi là “tiền lãi” (interest), không phải doanh lợi hay lợi nhuận. Đó là điểm trọng yếu hay trọng điểm của vấn đề khiếm hụt thương mãi [hữu hình] của Hoa Kỳ. Trong Tập VI, Keynes phác họa một điều lớn lao ông đã học được từ Bourbons, Habsburgs, John Locke và ngay cả Adam Smith, về tầm quan trọng giữ lãi suất ở mức thấp để kích thích thương mãi, để giảm bớt sức quyến rũ hay giảm thiểu các hình thức đầu cơ vào các short-term derivatives hay xảo thuật tài chánh ngắn hạn, và có lợi hơn khi đầu tư dài hạn vào các máy móc. Theo ngôn từ của Keynes, “Có thể nói không thể nào nghiên cứu những ý niệm các tác giả trọng thương đã chạy theo do kinh nghiệm thực tế của họ, mà không nhận thức được là trong lịch sử nhân loại luôn có một khuynh hướng cố hữu – khuynh hướng tiết kiệm luôn mạnh mẽ hơn động lực đầu tư.”[8]

Mọi thứ ở Hoa Kỳ đều được thiết kế nhằm khuyến khích người giàu bỏ tiền vào những khí cụ tài chánh thay vì đầu tư dài hạn.

Vậy Keynes có thể làm được gì? Phải tìm cách thuyết phục người giàu tư duy bên ngoài khung ngân hàng Wall Street. Phải thuyết phục họ bỏ tiền vào phần Main Street  đã quen làm ăn với các nước ngoài. Như vậy, bằng cách nào, chúng ta làm được điều đó? Để bắt đầu, phải tu chỉnh luật cấm cho vay nặng lãi – những hạn chế trên lãi suất. Một cách tổng quát, giảm thiểu mồi cám dỗ làm chủ nợ và không phải nhà đầu tư.

Keynes đã dẫn chứng Locke về điểm nầy: “Lãi cao làm suy sụp mậu dịch. Lợi điểm của Tiền Lãi lớn hơn Doanh Lợi từ Mậu Dịch.”[9] Và bởi mậu dịch, Locke không hiểu như đầu cơ chứng khoán.

Như Richard Posner đã viết gần đây, một phần của vấn đề khó hiểu được Keynes là từ ngữ.  Thực vậy, chẳng hạn chúng ta dễ bối rối khi nghe nói người giàu không “đầu tư” đủ. Hình như họ đã đầu tư như điên?  Họ đầu tư vào chứng khoán, vào trái phiếu, vào các dụng cụ tài chánh, đủ mọi thứ chúng ta không bao giờ gọi là cho vay – loans. Nhưng đối với Keynes, những hình thức “đầu tư” đó là “cho vay”. Đó là thanh khoản hay tiền mặt. Những loại “đầu tư” nầy luôn đem lại một lãi suất nhất định. Mua lại cổ phần các Công Ty ở Wall Street có thể xem như “đầu tư”, nhưng đến gần và nhìn kỷ, phần lớn chỉ là cho vay hay loans – có nghĩa những giao dịch về số nợ của công ty. Keynes có thể nhặt một tờ Wall Street Journal và gọi đúng tên từng vụ đầu tư nầy đến vụ đầu tư khác: cho vay, cho vay, cho vay.

Lột lớp vỏ đầu tư bên ngoài, và rất nhiều dụng cụ tài chánh chỉ còn là hoặc một nghiệp vụ cho vay hoặc giá cao giả tạo của một tích sản trên giấy. Khi Keynes nói về sự quan trọng của luật cho vay nặng lãi, ông muốn nói đến những luật hạn chế lãi suất và các quy tắc kiềm chế mức lời của các dụng cụ tài chánh.

Keynes có thể chỉ rõ sự gia tăng trong ngạch số khiếm hụt thương mãi Hoa Kỳ – đã trở nên trầm trọng ngay từ thập kỷ 1980 – trùng hợp sít sao với quá trình cởi bỏ giám sát đáng ngạc nhiên của khu vực tài chánh. Chúng ta đã xóa bỏ các luật lệ cho vay nặng lãi. Chúng ta đã cho phép tránh né luật Glass-Steagall.

Nhưng đó là vấn đề của Hoa Kỳ? Đâu phải của TQ hay của kinh tế thế giới? Đúng, giờ đây khó thể tìm câu trả lời từ Keynes, nhưng thử nhìn lại trang sau của tạp chí The Economist.  Không những Đức mà còn nhiều xứ công xá cao vẫn khá sáng sủa thành công trong kinh tế toàn cầu. Thật khó lòng giải thích mọi khác biệt mà chỉ căn cứ trên mức lương lao động.

Những ai đã chọn Môn Kinh Tế 101 có thể còn nhớ chút ít về khuynh hướng “ưa chuộng thanh khoản” – liquidity preference. Điều nầy có nghĩa giữ tiền dưới dạng thanh khoản. Đối với Keynes, nhiệm vụ đầu tiên của nhà nước là đảm bảo giữ khuynh hướng ưa chuộng thanh khoản ở mức thấp, là thúc đẩy người dân không nên giữ tiền mặt mà nên bỏ tiền vào các hình thức đầu tư dài hạn không dễ dàng lấy ra.

Đối với một số người, điều nầy nghe có vẻ rất tốt cho tương lai. Nhưng hiện nay, chúng ta đang cần người ra tráng nhựa lại các xa lộ xuyên bang. Tốt thôi, mọi người hãy bắt tay vào việc: nhưng chừng nào khiếm hụt thương mãi tiếp tục làm mọi người nghèo đi, giai cấp trung lưu sẽ tiếp tục tuột dốc.

Cuối cùng,  rồi cũng có cách ra khỏi tình trạng hỗn độn kinh tế hiện nay. Keynes rất có thể nói chúng ta phải gây sốc, phải thúc đẩy, phải quyến rũ, và dỗ dành người giàu ở Hoa Kỳ chịu bỏ tiền và khởi động các xí nghiệp giúp chúng ta ra khỏi nợ. Nhưng làm sao làm được việc đó? Chúng ta không thể buộc giới chủ nhân ngồi trên đống tiền thuê mướn thêm nhân công.

Liệu Keynes có thể làm được gì? Đã hẳn chẳng ai có thể trả lời thay Keynes. Keynes đã chết từ lâu, và chúng ta cũng đang ở trong trường kỳ. Nhưng chúng ta cũng linh cảm những gì Keynes có thể làm. Là một kinh tế gia tài ba sống trong một xứ dân chủ xã hội tân tiến, Keynes chắc chắn sẽ nhìn về xứ dân chủ xã hội thành công nhất của thế giới hiện nay. Với số thặng dư thương mãi khổng lồ, nước Đức đang làm gì?

Trước hết, họ có một loại công ty hoàn toàn khác biệt – với công nhân chiếm 50% số thành viên ban quản trị. Và các công nhân giữ những vị trí đặc quyền trong các xí nghiệp, với quyền hạn và trách nhiệm thực sự. Điều đó không bảo đảm các công ty sẽ đầu tư, nhưng là một điều rất hữu ích khi có các công nhân quản trị viên ngồi trong phòng họp hội đồng quản trị.

Vả chăng, người Đức còn có các ngân hàng được chính quyền bảo trợ như Sparkassen, cho các doanh nghiệp vay. Người Mỹ có Cục Dự Trữ Liên Bang, tự do in thêm tiền, nhưng các ngân hàng ngồi trên tiền và không chịu cho vay, cũng như các CEO Hoa Kỳ chẳng bao giờ gặp mặt công nhân, ngồi trên đống tiền và không chịu thuê mướn công nhân.

Người Mỹ không thể hoàn toàn bắt chước người Đức. Nhưng Keynes của Tập VI rất có thể sẽ quan tâm một điều nào đó ngoài việc Dodd-Frank tìm cách làm nãn lòng các nghiệp vụ đầu cơ tài chánh và cho vay. Keynes cũng có thể ủng hộ lập trường từ chối giảm thuế để khuyến khích mua lại cổ phần khiến các công ty thêm nợ. Keynes chắc cũng thích ý niệm đánh thuế trên các nghiệp vụ giao dịch tài chánh do Dean Baker đề nghị và người Âu châu đang cứu xét.

Phương cách chuẩn mực để tăng khả năng cạnh tranh ở hải ngoại là cắt giảm công xá – ngõ hầu cải thiện mậu dịch doanh số – terms of trade. Keynes rất ghét ý niệm cắt giảm lương hay công xá. Đó là phương thuốc chuẩn của lý thuyết cổ điển, và Keynes thích đưa ra luận cứ cắt giảm số cầu quốc nội chỉ có hậu quả kéo dài suy thoái trì trệ. Nhưng giả thiết chính quyền có thể cắt giảm đáng kể phí tổn lao động “phi công xá” qua việc chính quyền tự đảm nhiệm phí tổn bảo hiểm y tế? Nếu chính quyền chỉ có thể gây sốc theo kiểu Keynes để giúp tăng tính cạnh tranh, đó có thể là chương trình bảo hiểm y tế quốc gia do chính phủ hoàn toàn đài thọ. Ít ra trong hiện tình, người Mỹ nên mở rộng chương trình Medicare (hạ thấp điều kiện tuổi) và chấp nhận một lựa chọn công, ngõ hầu chính quyền có thể có thêm khả năng mặc cả để kiềm hãm bằng văn kiện hành pháp giá cả quá kinh hoàng người Mỹ đang trả để điều trị trong khu vực y tế ngày một tập trung hơn.

Thật là kinh hoàng khi thấy ngay cả T T Obama cũng đã đề nghị cắt giảm Medicare. Ngoài việc bỏ rơi nhiều người không có bảo hiểm, thu hẹp phạm vi Medicare có nghĩa thu hẹp quyền lực của chính quyền ấn định giá cả và để phái chủ và người dân phải gánh chịu chi phí y tế cao hơn. Nếu tổng thống muốn gia tăng khiếm hụt thương mãi, điều tốt nhất ông có thể làm có lẽ là cắt giảm phạm vi Medicare và đem lại cho chính quyền còn ít quyền lực hơn nữa trong việc kiềm chế chi phí y tế, do đó khiến người Mỹ mất khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế hơn nữa.

Sau hết   Keynes có thể giữ vững lập trường về những vấn đề vụn vặt khác – chẳng hạn, giảm thuế trên bảng lương hay payroll tax hay miển thuế trên đầu tư – vì đây sẽ không mấy quan trọng cho đến khi mọi người thoát khỏi nợ nần. Bằng cách nầy hay cách khác, theo đúng túi khôn xa xưa của người Bourbons và Habsburgs như Keynes phỏng đoán, chúng ta phải tháo gở giàn chống đỡ nền kinh tế chủ nợ-con nợ Hoa Kỳ đang bị giam hãm.

Hơn bao giờ hết, nay là lúc phải làm người đi theo Keynes. Cử tri Mỹ nên nhớ bỏ phiếu cho Keynes trong kỳ bầu cử 2012.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

27-10-2011


[1] Prime the pump.

[2] Wait, wasn’t Keynes the one trying to get us into debt?

[3] A favorable balance, provided it is not too large, will prove extremely stimulating; whilst an unfavorable balance may soon produce a state of persistent depression.

[4] Keynes wrote: “The extraordinary achievement of the classical theory was to overcome the beliefs of the ‘natural man’ and, at the same time, to be wrong.”

[5] The reader must not reach a premature conclusion as the practical policy to which our arguments lead up … The advantages of the international division of labor are real and substantial, even though the classical school greatly overstressed them … A policy of trade restrictions is a treacherous instrument.

[6] The weakness of the inducement to invest has been at all times the key to the economic problem.

[7] We have to get the rich to invest “by employing labor on the construction of durable assets.”

[8] It is impossible to study the notions to which the mercantilists were led by their actual experiences, without perceiving that there has been a chronic tendency throughout human history for the propensity to save to be stronger than the inducement to invest.

[9] High Interest decays Trade. The advantage from Interest is greater than the profit from Trade.

Advertisements