ĐẶNG TIỂU BÌNH VÀ QUÁ TRÌNH CANH TÂN TRUNG QUỐC

Biển Đông hay Nam Hải là một khu vực rộng khoảng 1,4 triệu dặm vuông trong Thái Bình Dương, với những đảo nhỏ hầu hết chỉ đủ xây một đường bay và vài căn nhà. Khoảng vài chục người định cư trên đảo san hô Pagasa. Tuy vậy, trong năm 2010 Pagasa và vài đảo nhỏ khác đã bị lôi cuốn vào một trong những điểm nóng quân sự trên thế giới.

Trung Quốc đã xem hầu hết vùng Nam Hải thuộc chủ quyền của họ ngay cả khi năm quốc gia khác cũng đang tranh giành, và luôn khuấy động ngay cả đe dọa đánh chìm các tàu thuyền Việt Nam và Phi Luật Tân qua lại trong khu vực. Cùng lúc, các quan chức TQ, trước đây thường dịu dàng, thân thiện với các quốc gia lân bang, nay hình như đã thay đổi thái độ, trở nên hung hăng, khó tính, và đe dọa. Theo tường trình của báo chí, tại một hội nghị với đại diện các quốc gia ASEAN năm rồi, Bộ Trưởng Ngoại Giao TQ, Yang Jiechi, đã lớn tiếng công kích, đòi  hỏi chủ quyền một vùng rộng lớn trong Nam Hải – một tuyến giao thông hàng hải huyết mạch và một khu vực nhiều tiềm năng dầu lửa. Trong phần phát biểu, Yang đã chế nhiễu và mặc thị  cảnh cáo đại diện chính quyền Việt Nam, nước chủ nhà, không nên thách thức Bắc Kinh. Các cơ quan truyền thông nhà nước TQ đã phổ biến rộng rãi giọng điệu hiếu chiến của Yang. Và vào mùa xuân 2011, vài chiến lược gia và quan chức diều hâu TQ, trong chỗ riêng tư, cũng đã nói đến nhu cầu một cuộc chiến hạn chế với Việt Nam, để cảnh cáo các lân bang phía Nam ai là cường quốc thực sự ở Á Châu.

Đối với giới quan sát viên Á châu và quan chức Hoa Kỳ, sự kiện vài viên chức TQ lớn tiếng chỉ trích các đối tác Á châu về chủ quyền vùng Nam Hải đã báo hiệu các đe dọa từ một cường quốc ngày một hùng mạnh. Họ e sợ TQ, một khi được hậu thuẩn bởi một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và sức mạnh quân sự hiện đại, sẽ từ bỏ thái độ mềm mỏng tế nhị và trở nên kiêu căng với thái độ một quốc gia kẻ cả. TQ đang muốn đòi lại khu vực ảnh hưởng đã từng thụ hưởng trong nhiều thiên niên kỷ cho đến khi bị sụp đổ bởi sự phối hợp giữa kỹ thuật tiền tiến của Tây phương và sự suy nhược của triều đại đế chế cuối cùng của TQ trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

Theo Joshua Kurlantzick, một nhà ngoại giao Việt Nam đã nói với ông: “Không ai công khai nói ra, nhưng những gì chi phối các hội nghị ở Đông Nam Á hiện nay là nổi e ngại tình hình trong toàn khu vực với một Trung Quốc giữ vai trò áp đảo.”[1]

Nhưng đó là cách nhìn của người nước ngoài về TQ. Tuy nhiên, vài học giả, và ngay cả một số ít quan chức TQ, trong chỗ riêng tư, cũng công nhận, trái với hình ảnh một quốc gia khổng lồ đang lên, lối xử sự kẻ cả gần đây của TQ phản ảnh một cái gì hoàn toàn khác. Họ nghĩ, cấp lãnh đạo TQ ngày một thiếu nhất trí và uy tín đã suy giảm trong những năm gần đây, do đó, đã  không đủ khả năng kiểm soát các thành phần diều hâu trong giới quân sự, trong Đảng Cộng Sản, hay trong các công ty nhà nước và các quan chức Bắc Kinh.

Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân – PLA – ngày một có khuynh hướng phổ biến lập trường riêng qua các sách báo và mạng lưới các định chế nghiên cứu dân sự. Đôi khi, PLA hình như đã khởi động hay đẩy mạnh các tranh chấp quốc tế – trái với ý muốn của giới lãnh đạo Bắc Kinh – khả dĩ đẩy chính sách TQ theo hướng diều hâu. Không mấy khác với mạng lưới quân sự-kỹ nghệ Hoa Kỳ, PLA hình như đang liên minh với các công ty năng lượng TQ hùng mạnh săn lùng các tài nguyên thiên nhiên trên thế giới.

Từ ngày Đảng Cộng Sản lên cầm quyền năm 1949, một số gương mặt cương quyết và đầy thuyết phục đã giữ vai trò áp đảo trên chính trường và trong quân đội. Người đầu tiên là Mao Trạch Đông, một thiên tài chính trị quyến rũ, đã lợi dụng sự ganh đua giữa các đối thủ để tạo không khí tôn sùng cá nhân trong hệ thống chính trị quốc gia. Sau Mao Trạch Đông còn có Đặng Tiểu Bình, hình ảnh của ông đáng lẽ phải được trưng bày ở Quảng Trường Thiên An Môn thay vì hình ảnh người tiền nhiệm, vì chính họ Đặng đã sử dụng vị trí áp đảo của mình về  quân sự và chính trị để lôi kéo TQ ra khỏi hố sâu Cách Mạng Văn Hóa và thay thế bằng một quá trình phát triển kinh tế ngoạn mục trong lịch sử hiện đại.

Thiếu vắng một khuôn mặt có thể đem lại đoàn kết và thống nhất như Mao và Đặng, cấp lãnh đạo TQ ngày nay chỉ là một nhóm kỹ sư đảng viên kỳ cựu vươn lên từ hàng ngũ công nhân viên nhà nước, không qua thành tích chiến đấu quân sự hay phát huy các hệ ý thức chính trị kinh tế , mà qua cách vun quén các tầng lớp thư lại thay vì khai triển các ý tưởng và kế hoạch.

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào hiện nay là kết tinh của cách tiếp cận theo chiến lược thầm lặng vừa nói. Trước khi lên nắm quyền vào năm 2004, Hồ đã nói rất ít về bất cứ đề tài quan trọng nào, đến độ các thành phần bảo thủ lẫn tự do ở TQ đã xem họ Hồ như một người bình thường như chính họ. Do đó,  họ Hồ đã ít phô bày cảm xúc trước công chúng và luôn tránh các trao đổi dù có chuẩn bị trước với giới truyền thông và các thành phần ngoài đảng. Người được xem như sẽ kế nhiệm vào năm 2012-13 là Phó Chủ Tịch Xi Jingping. Mặc dù quyến rũ hơn,  Xi cũng sẽ không mấy giống Mao hoặc Đặng. Trước công chúng, họ Xi luôn bày tỏ một chủ nghĩa ái quốc chua chát, buồn phiền, dễ được giới thượng lưu thông cảm, những người luôn tin thời cơ của TQ đã tới, tuy vậy, vẫn phải phiền lòng vì ảnh hưởng của quyền lực Hoa Kỳ trong các xứ sân sau cuả TQ. Trong một diễn văn công cộng khi đang công du ở Mexico năm 2009, Xi đã  phàn nàn: ” Có một số ít người nước ngoài, ăn không ngồi rồi, đang xoi mói xứ sở chúng tôi.”[2]

Khi cấp lãnh đạo TQ thiếu nhất trí, nhiều quan chức và chuyên viên nghiên cứu của Hoa Kỳ, từng lên án Đặng đàn áp dã man các thành phần bất đồng chính kiến ở Quảng Trường Thiên An Môn ngày 4-6-1989, đã nhìn lại thời đó một cách thích thú. Họ có lập trường: mặc dù Đặng không phải một lãnh đạo dân chủ, trên nhiều phương diện họ vẫn luôn cảm thấy dễ hiểu và dễ cộng tác với những động lực và việc làm của cấp lãnh đạo TQ do một người áp đảo, hơn là một chế độ độc tài tập thể. Điều họ sợ nhất ở TQ là sự thiếu vắng một lãnh tụ chuyên quyền chân thật.

Đặng Tiểu Bình đã từng cảm thấy khó chịu trước tệ nạn suy tôn cá nhân Mao và tránh né các trò chơi ngoại giao hào nhoáng phô trương của vị thủ tướng đầu tiên, Chu Ân Lai. Có lẽ vì bản chất thực tế và không thích khoa trương hay lễ nghi hoành tráng, họ Đặng đã thu hút rất ít những nhà viết tiểu sử đứng đắn bên ngoài TQ. Đã hẳn, cuốn “Deng Xiaoping and the Transformation of China” (Đặng Tiểu Bình và Sự Biến Đổi của Trung Quốc), bộ sách bách khoa của Ezra Vogel là tài liệu đầy đủ nhất bằng Anh ngữ về cuộc đời của họ Đặng.

Vogel, giáo sư Harvard hưu trí, hình như đã phỏng vấn hay đọc các hồi ký của hầu hết những người đã có dịp gặp Đặng, và đã chịu khó tái tạo một thứ nhật ký chi tiết  theo thứ tự thời gian về sự nghiệp nhiều chìm nổi của họ Đặng. Không may, Vogel đã luôn cho phép chi tiết thời gian thay thế lối kể chuyện và những tiểu tiết vụn vặt lấn át đề tài. Dù sao, ông cũng đã cố gắng chuyển tải ý niệm vì sao Đặng đã có nhiều ảnh hưởng và TQ đã cảm thấy mất mát nhiều từ ngày ông từ trần hơn một thập kỷ trước đây. Tuy vậy, tìm được những ý niệm chuyển tải nầy không phải là điều dễ dàng giữa vô số những tường trình về những phiên họp, những biên bản và suy tư  không dứt của Đặng.

         Trong mọi trường hợp, tường trình của Vogel cũng tiết lộ cốt lõi tư cách và viễn kiến của Đặng. Cũng như hầu hết các đảng viên thế hệ đầu và thế hệ thứ hai đã trở thành các lãnh đạo cao cấp sau khi Đảng Cộng Sản lên cầm quyền ở TQ năm 1949, Đặng đã có một quá trình cách mạng và nhiều thành tích. Ông đã từng bí mật phục vụ Đảng ở Thượng Hải và nhiều thành phố khác trong thập kỷ 1920, sau đó gia nhập Vạn Lý Trường Chinh đi đến cứ điểm Shaanxi. Cùng lúc, Đặng ngày một thân cận với Mao hơn, và được Mao đánh giá cao nhờ có  kỷ năng tổ chức và tác phong bình dị, ăn nói ngay thật, gần gũi với đại chúng.  

          Trong cuộc nội chiến, họ Đặng đã phục vụ như một lãnh đạo quân sự và chính ủy, chỉ huy nhiều trận lớn và một thời đã làm tư lệnh với hơn nửa triệu quân dưới quyền. Sau chiến tranh, họ Đặng đã phụng sự Mao trong ban lãnh đạo, thu thập nhiều kinh nghiệm trong sinh hoạt chính trị, kinh tế, và kỷ năng trị quốc.

          Khi phụ trách quan hệ với nhiều đảng Cộng Sản trong nhiều nước, họ Đặng đã dùng uy tín của mình để du nhập các công nghệ mới vào TQ. Đặng Tiểu Bình đã từng du học ở Pháp trong thập kỷ 1920, cũng đã cảm nhận mặc dù các chiến dịch kỹ nghệ hóa và tập thể hóa, TQ vẫn còn kém hơn các nước Cộng Sản anh em về phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tất cả hệ ý thức cách mạng họ Đặng đã tiếp thu đều đã bị tẩy xóa cùng lúc với sự nghiệp của chính ông trong thời Cách Mạng Văn Hóa. Nhiều lãnh đạo hàng đầu đã là nạn nhân, khi Mao thanh lọc nội bộ trong chiến dịch các học giả đã mệnh danh “cách mạng sau cùng” của Mao Chủ Tịch, nhưng ít người có thể đã phải trải nghiệm nhiều như họ Đặng.

          Luôn e ngại các phần tử có tiềm năng cạnh tranh và cảnh giác trước bản chất thực tiển của Đặng, điều đã khiến Đặng âm thầm chỉ trích một số chiến dịch tai họa nhất của Mao, năm 1966 Mao đã buộc tội Đặng “đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.”[3] Ngày nầy qua ngày khác, các cơ quan truyền thông nhà nước không ngừng lên án Đặng. Năm 1967, Mao ra lệnh quản thúc Đặng tại gia, và qua năm 1969, Đặng và vợ, Zhou Lin, đã bị buộc phải đi lao động và”tái học tập” ở tỉnh Jiangxi .

          Hồng Vệ Binh cũng đã sách nhiễu năm người con của Đặng ở Bắc Kinh, lâm thời buộc  họ  phải về nông thôn lao động. Vogel giải thích, trước khi gửi Đặng đi học tập, một trong năm người con – Deng Pufang, 24 tuổi – đã bị Hồng Vệ Binh đối xử tàn nhẫn, đến nổi đã té từ cửa sổ cao và gảy xương sống, hay theo vài nguồn tin khác, đã  bị ném qua cửa sổ. Do Đặng đang bị tẩy chay vì lý do chính trị, các bác sĩ tại bệnh viện Bắc Kinh đã từ chối phẩu thuật. Tuy vậy, Deng Pufang vẫn được cứu sống, và bị bại liệt từ ngực trở xuống. Theo Vogel, khi được tin, Đặng Tiểu Bình chỉ ngồi im, hút thuốc hết điếu nầy đến điếu khác. Sau đó chính Đặng Tiểu Bình đã phải đích thân tắm rửa và săn sóc con.

          Đặng không bao giờ quên nổi đau Cách Mạng Văn Hóa. Theo Vogel, trong thời gian bị tẩy chay, Đặng đã suy ngẫm rất nhiều về sự thất bại của Đảng, và về sau trong những lúc trò chuyện với người nước ngoài, ông đã hăng say mô tả giai đoạn đó như một thảm họa cho TQ. Khi Mao, đã già yếu và bệnh tật, phục hồi Đặng trở về Bắc Kinh vào đầu thập kỷ 1970, Đặng đã quyết tâm: Đảng phải vượt qua ám ảnh bởi cách mạng chính trị và thuần khiết nội bộ, thay vào đó, phải tập trung mọi nổ lực vào chương trình canh tân TQ. Tính chính đáng của Đảng có thể cơ sở không những trên ý thức hệ mà cả trên khả năng đem lại cho quần chúng TQ một cuộc sống tốt đẹp hơn. Đây có thể là điều hiển nhiên, nhưng sau nhiều thập kỷ kinh qua các chiến dịch triền miên của Mao, thực tiển và canh tân được nhìn như mang tính cách mạng ở TQ.

          Các cuộc công du của Đặng đến Nhật, Âu châu, và Hoa Kỳ vào giữa và cuối thập kỷ 1970 – những nơi ông đã chứng kiến kỹ nghệ biến chế tự động cao độ, xe lửa cao tốc, và công nghệ tiền tiến hàng đầu –  càng giúp thuyết phục họ Đặng về tình trạng lạc hậu của TQ. Khác với Mao, Đặng sẵn sàng công nhận TQ đã quá tụt hậu về kinh tế, vì ngay cả những quốc gia Á châu nghèo nàn như Mam Hàn cũng đã bắt đầu quá trình cất cánh. Và để canh tân, TQ rất cần sự trợ giúp từ các nước ngoài và một xã hội pháp trị, ít ra trong phạm vi kinh tế. Theo Vogel, trong các phiên họp Đảng Đặng Tiểu Bình luôn nhấn mạnh: “Các khoa học gia TQ phải học ngoại ngữ để có thể đọc các phúc trình nước ngoài…TQ cần nuông chiều các chuyên gia. TQ cần du nhập tự động hóa vào các nhà máy và hậu thuẩn các khoa học gia tài năng.”[4]

          Trong một quốc gia vừa ra khỏi Cách Mạng Văn Hóa, với hệ ý thức chuyên chế  khinh miệt khả năng chuyên môn và trừng phạt hay nghiền nát những ai thủ đắc các kỹ năng vừa nói, và cũng  là nơi các cấp lãnh đạo trong nhiều thiên niên kỷ luôn tin tưởng TQ là trung tâm của thế giới, những điều kể trên cũng đã là những ý tưởng gây sốc.

          Đặng  luôn là người tương đối thực tiển, nhưng một thứ thực tiển đã trở thành một tôn giáo thế tục – a secular religion – khi ông đã leo lên vị trí tột đỉnh của giới lãnh đạo. Theo Đặng, “Thực Nghiệm là Chỉ Tiêu Duy Nhất để Phán Đoán Chân Lý.”[5] Thành quả, không phải ý thức hệ, quyết định chính sách. Ngày nay sinh viên TQ nghiên cứu Lý Thuyết Đặng Tiểu Bình song song với cuộc đời và các châm ngôn của Mao,  nhưng hầu hết lý thuyết của Đặng là những châm ngôn tục thức hay đời thường về nghệ thuật trị quốc và quản lý kinh tế. Sau khi Mao từ trần vào năm 1976, Đặng đã sử dụng kỷ năng chính trị và lòng sùng kính của giới lãnh đạo lão thành và quần chúng để qua mặt người kế vị của Mao – Hua Guofeng (Hứa Quốc Phong), và Bộ Tứ – Gang of Four. Đặng đã khôn khéo lèo lái Hứa vào hậu trường thay vì ám sát hay cầm tù, nhờ vậy, đã chuẩn bị sân khấu cho những chuyển tiếp hòa bình giữa các chính quyền kế nhiệm trong tương lai.

          Đặng cũng không tìm cách xóa bỏ các lãnh đạo tiền nhiệm, như Mao đã từng cố gắng loại trừ mọi truyền thống TQ dẫn đến tình trạng tàn phá văn hóa rộng lớn. Đặng cũng duy trì Mao trong hình ảnh vị cha già đã khai sinh ra Đảng, giữ hình ảnh của Mao trên Thiên An Môn và hầu như đã thanh minh mọi tội lỗi cho Mao. Tuy vậy, ông đã phải công nhận: rất nhiều tư duy của Mao trong phạm vi phát triển kinh tế và chính trị đã sai lầm. Đặng cũng đã gạt bỏ “độc dược” khỏi ý tưởng học đòi Tây phương, và ngay cả Nhật.

          Khi công du qua Hoa Kỳ, Đặng đã bảo các trợ tá một nơi ông muốn viếng thăm là Wall Street, tượng trưng cho sức mạnh kinh tế tài chánh của Mỹ, suối nguồn của quyền lực Hoa Kỳ hơn cả xe tăng và hàng không mẫu hạm. Ông cảnh cáo, Trung Quốc phải bắt kịp các xứ tiền tiến nhất thế giới. Ông đã cho phép mở cữa các đại học trở lại, và đã có nhiều cuộc họp mặt với các người Mỹ gốc Hoa đã đoạt giải thưởng Nobel, để tìm hiểu bằng cách nào TQ có thể cải tiến các khoa học cơ bản. Ông đích thân giám sát việc phát triển các nguồn tài chánh nhà nước để tài trợ nghiên cứu cơ bản và bảo trợ một môi trường mới biết tôn trọng tri thức và học tập. Ông ngay cả ủng hộ ý tưởng các sinh viên cao học TQ nên xuất ngoại để học hỏi và nghiên cứu, một sự mặc nhiên thú nhận một tình trạng tụt hậu khác của TQ.

         Trong chính sách đối ngoại cũng vậy, Đặng đã chấp nhận một cách tiếp cận khiêm tốn, một chính sách được thực thi cho đến một ngày gần đây khi các chính quyền kế nhiệm quyết định thay đổi. Suốt trong hai thập kỷ 1970 và 1980, Đặng đã cắt xén chi tiêu quân sự và tuyên bố TQ phải âm thầm xây đắp lực lượng trong khi duy trì một hình ảnh yêu chuộng hòa bình trên trường quốc tế. Như Đặng đã nói với một lãnh tụ Phi châu đang viếng thăm TQ năm 1985, “Xin đừng theo mô hình của chúng tôi. Nếu có một kinh nghiệm từ phía chúng tôi, đó là hoạch định các chính sách theo ánh sáng các điều kiện quốc gia của chính mình.”[6]

          Quan trọng hơn hết, kể từ cuối thập kỷ 1970, Đặng đã nới lỏng các luật lệ xã hội và kinh tế, cởi trói óc kinh doanh đã bị dồn nén, và cho phép người dân trung bình sống cuộc đời riêng của họ không còn e sợ đảng sẽ dòm ngó vào những việc riêng tư. Báo chí, các nhà xuất bản tiểu thuyết, và rạp chiếu bóng, đều được phép mở cửa hoạt động trở lại. Đầu tư ngoại quốc được chào đón, nhất là trong những đặc khu kinh tế mới miền Nam TQ, nơi các nhà đầu tư được dành nhiều ưu đãi về thuế khóa và phần lớn được cách ly với luật lệ hay thiếu vắng luật lệ TQ. Chính quyền cho phép nông dân khởi đầu bán nông sản và  mùa màng của họ, bắt đầu giảm thiểu trợ cấp nhà nước và phát huy các xí nghiệp cấp làng xã và thành phố. Có lẽ còn quan trọng hơn, Đặng, khuôn mặt nổi trội nhất TQ, đã cố tình nói rõ “làm giàu là vinh quang,” như một tín hiệu,  không như trong các thập kỷ trước, nhà nước sẽ hậu thuẩn thay vì trừng phạt các nhà tư bản.

          Nhưng trái với những gì người Mỹ đã từng gặp Đặng luôn tin tưởng, sự chú tâm vào canh tân và từ bỏ kỷ thuật chính trị và xã hội cực đoan kiểu Mao của Đặng Tiểu Bình đã không biến ông ta thành một người dân chủ. Sau chuyến công du TQ của Nixon năm 1972, Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh đã tăng cường quan hệ. Cùng đối diện một kẻ thù chung ở Điện Cẩm Linh, các nhà làm chính sách Hoa Kỳ mong muốn chỉ nhìn thấy những nét đặc trưng tốt nhất nơi các đối tác TQ. Và khi gặp mặt Đặng, họ dễ dàng tìm thấy ở ông một nhân vật cải cách. Ông ta nói những điều người Mỹ đang nóng lòng làm bạn với TQ như một đồng minh có thể hiểu, và sử dụng một thứ ngôn từ tự nhiên, trực tiếp, không mấy khác các chính trị gia Hoa Kỳ. Năm 1978, tạp chí Time đã chọn Đặng “Man of the Year” – Người của Năm, vì đã khởi động chương trình canh tân TQ.

          Để đáp lại, các cơ quan truyền thông Nhà Nước TQ đã mô tả chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Đặng trong năm 1979 dưới một ánh sáng tích cực, phổ biến những hình ảnh về đời sống Hoa Kỳ giúp đem lại hứng khởi, ước muốn phát triển và kinh doanh, các sản phẩm tiêu thụ Tây phương…  Đặng nói với cử tọa tại Đại Học Temple, ông ta tôn trọng sự quyết tâm theo đuổi tự do học thuật của trường. Tại những nơi khác, ông đã ca ngợi sự cởi mở của xã hội Hoa Kỳ.

          Nhưng Đặng đã không tôn trọng các giá trị ông ca ngợi. Vào cuối năm 1978, với niềm tin Đặng có thể phát huy không những cải cách kinh tế mà ngay cả cải cách chính trị, các nhà hoạt động bắt đầu treo các biểu ngữ đòi hỏi các quyền tự do trên bức tường gần Thiên An Môn. Rải rác trong số nầy còn có cả những chỉ trích kín đáo đối với Mao. Chẳng bao lâu phong trào đã được biết như Bức Tường Dân Chủ, và các bố cáo đã thu hút sự chú ý rộng rãi của quần chúng. Dư luận lan truyền Đặng đã hậu thuẩn các nhà hoạt động chính trị. Hàng nghìn rồi hàng trăm nghìn người hàng ngày đến đọc bố cáo, tin tức, viết lời bình luận, và những kinh nghiệm đau khổ đã phải chịu đựng trong thời Cách Mạng Văn Hóa. Tháng 1-1979, vài ủng hộ viên phát động một cuộc xuống đường, kéo đến khu trung tâm lãnh đạo đảng gần Thiên An Môn.

           Tuy nhiên, theo Vogel, khi phong trào Bức Tường Dân Chủ lớn mạnh, Đặng bắt đầu cảnh cáo: “một vài bố cáo không có lợi cho nhu cầu ổn định… Khi các người phản đối thu hút được những đám đông khổng lồ và đề kháng các luật lệ căn bản của giới lãnh đạo Cộng Sản, Đặng đã có hành động quyết định: đàn áp sự thách thức.”[7] Vào tháng 3, các quan chức thành phố Bắc Kinh đã ngăn cấm các bố cáo và sách báo thách thức giới lãnh đạo. Kế đó, lực lượng an ninh đã câu lưu các lãnh tụ Bức Tường Dân Chủ.

          Trước và trên hết,  Đặng luôn tin tưởng ở Đảng Cộng Sản. Ông là người thực tiển, và trên lý thuyết, chấp nhận tự do, trừ khi Đảng bị đe dọa. Ông đã dành trọn những năm tháng trưởng thành cho chính trị Đảng. Ông không thấy có phương cách nào khác ngoài Đảng có thể đoàn kết và lãnh đạo xứ sở. Và đặc biệt khi các nhà nước Cộng Sản khác bắt đầu cải cách vào cuối thập kỷ 1980, ông đã trở nên hoàn toàn thuyết phục:  Đảng không thể chấp nhận tự do hóa nếu muốn thượng tồn. Nếu Đảng phải tự cứu, đó chỉ vì Đảng mới là vị cứu tinh của dân tộc. Hình thức dân chủ duy nhất có thể chấp nhận đối với Đặng là “dân chủ trong nội bộ Đảng” – inner-party democracy. Các đảng viên có thể thảo luận bất cứ đề tài nào trong nội bộ, nhưng một khi đã đạt được quyết định, tất cả đều phải nhất trí trong quá trình thực thi.

          Trước khi dẹp Bức Tường Dân Chủ, chính Đặng,  hơn bất cứ lãnh đạo đảng nào khác, đã giàn dựng sân khấu cho việc thực thi canh tân kinh tế mà không canh tân chính trị – một quá trình trong nhiều thập kỷ đã thách thức mọi lý thuyết canh tân quy ước, như đã được các nhà khoa học chính trị Seymour Martin Lipset và Samuel Huntington  diễn đạt, nhấn mạnh cải cách kinh tế nhất thiết tạo ra áp lực đưa đến cải cách chính trị, nhất là trong giới trung lưu học thức – những thành phần sẽ không chấp nhận chính quyền độc tài.

          Mùa xuân 1989, triết lý của Đặng đã phải đối diện với thử thách lớn nhất. Sự giận dữ của quần chúng khắp nơi – trước tệ nạn tham nhũng gia tăng, lạm phát, và tăng trưởng kinh tế suy giảm – đã châm ngòi cho nhiều cuộc biểu tình đòi hỏi tự do trên khắp TQ, nhất là Bắc Kinh. Như đã được phản ảnh trong các cuộc thảo luận nội bộ thời đó, Đặng rõ ràng đã tin, nếu cần, chính quyền phải sử dụng vũ lực để duy trì quyền lực. Ông luôn tin tưởng: chấp thuận cải cách chính trị có thể đưa đến hỗn loạn trong một quốc gia rộng lớn và, lắm khi, khó quản lý, và có thể phương hại đến tiến bộ kinh tế của TQ. Đặng cũng tin: các quốc gia Cộng Sản khác đang theo đuổi cải cách chính trị trước cải cách kinh tế, có thể phải đối diện với những khủng hoảng tương tự, và lãnh đạo của họ có thể bị lật đổ trước khi có thể giải quyết các vấn đề kinh tế lớn lao của quốc gia, dó đó, gây những bất ổn khủng khiếp.

          Với thành tích lấy quyết định tàn nhẫn và cứng rắn của Đặng, hồi kết của vụ Thiên An Môn không có gì đáng  ngạc nhiên. Mặc dù đã thăng tiến các đảng viên cải cách  để phát huy nhãn hiệu canh tân kinh tế của chính mình, khi phong trào chống đối leo thang,  Đặng, từ sau hậu trường – vì không còn chính thức ở vị trí lãnh đạo tối cao của TQ – đã qua mặt và cuối cùng đã quản thúc tại gia người số hai của chính ông – lãnh tụ cải cách Zhao Ziyang. Đứng về phía Li Peng, một lãnh tụ cứng rắn, Đặng đã lên tiếng nghiêm khắc cảnh cáo các người biểu tình phải rời khỏi Quảng Trường. Cuối cùng, vào hai ngày 3 và 4 tháng 6, Đặng đã giám sát cuộc đàn áp đẩm máu phong trào phản đối không võ trang. Cùng với PLA, ban hành lệnh thiết quân luật và giải tỏa Quảng Trường Thiên An Môn, gây tử thương cho vài nghìn người biểu tình,  Đặng đã hứa với các lãnh đạo khác trong đảng: rồi ra “Người Tây phương sẽ quên.”[8] Theo Vogel, chính Đặng đã không bao giờ nghi ngờ mình đã lấy quyết định đứng đắn – đàn áp mạnh mẽ các người chống đối.

          Ngay sau vụ Thiên An Môn,  TQ đã phải đối diện với một thời kỳ cô lập tồi tệ nhất trên trường quốc tế kể từ những rối loạn và tàn phá trong kỷ nguyên Mao.  Hoa Kỳ đã áp dụng các biện pháp chế tài, và nhiều quốc gia Tây phương cũng đã chấm dứt các quan hệ thương mãi. Vào thời điểm đó, nhiều quan sát viên nước ngoài và giới trí thức TQ tin tưởng Đảng Cộng Sản sẽ không thể trường tồn, ít ra trong hình thức hiện hữu đương thời. Sự tiên đoán của các lãnh đạo nước ngoài đã trở thành đề tài chủ yếu trong ngoại giao toàn cầu, với Bill Clinton và nhiều lãnh đạo khác đã cảnh cáo Bắc Kinh: nếu không cải tổ nghiêm chỉnh, đảng Cộng Sản có thể khó thượng tồn.

          Những tác phẩm như cuốn “The Coming Collapse of China” (2001)  – Sự Sụp Đổ Sắp Tới Của Trung Quốc – đã trở thành những sách bán chạy nhất – bestsellers, ở Mỹ. Ngay cả gần đây, vào đầu năm 2011, Ngoại Trưởng Hillary Clinton cũng đã đề cập cùng chủ đề. Bà đã nói với phóng viên tờ The Atlantic, “Bắc Kinh đang tìm cách chận đứng lịch sử [có nghĩa: chận đứng dân chủ hóa], một việc làm của người khùng.”[9]

          Henry Kissinger, một trong những kiến trúc sư quan hệ hiện đại của Hoa Kỳ với TQ, chắc chắn nghĩ rằng quyết định của Đặng năm 1989 có thể chấp nhận được. Là người Mỹ thực dụng chính chắn, Kissinger đã thấy ở Đặng một tâm hồn đồng điệu, đối nghịch với Mao thường thiếu kiên định, khó lường. Trong tác phẩm mới nhất, “On China” (Về Trung Quốc), một suy ngẫm về lịch sử chính sách đối ngoại của TQ và quan hệ của chính ông với các lãnh đạo TQ, Kissinger đã tỏ ra rất tâm đầu với Đặng. Kissinger viết: “Trung Quốc như một siêu cường kinh tế hiện nay là di sản của Đặng Tiểu Bình. Đặng đã làm tròn bổn phận tối hậu của một lãnh đạo – đã lèo lái xã hội của ông từ chỗ đứng hiện tại đến chỗ xã hội đó chưa bao giờ đạt đến.”[10]

          Sự thẩm định nầy cũng đúng sự thật phần nào, nhưng Kissinger đã tổng quát hóa để bao gồm gần như toàn bộ giới lãnh đạo TQ, rất ít người trong giới nầy có được chuẩn mực của một chính khách với nghệ thuật quản lý nhà nước cao như Đặng. Trong thực tế, cũng như nhiều nhà quan sát ít hiểu biết về TQ hơn, Kissinger hình như đã sẵn có định kiến với khuôn mẫu cũ, nhìn các lãnh đạo TQ như những nhà ngoại giao có kỷ năng tự nhiên khôn ngoan hơn hẵn các đối tác Tây Phương. Chẳng hạn, một ví dụ nực cười nhất của tập quán rập khuôn nầy, trong nhiều năm, một số quan sát viên TQ đã luôn nhắc đến lời của Chu Ân Lai: “Còn quá sớm để nói: Cuộc Cách Mạng của Pháp là một thành công,”[11] một câu chuyện thường được trích dẫn như bằng chứng của tầm nhìn xa khôn ngoan của các nhà ngoại giao TQ. Nhưng như học giả kỳ cựu về Trung Quốc, Chas Freeman, đã tiết lộ trong cuộc hội luận đánh dấu ngày ra mắt một tác phẩm của Kissinger, họ Chu đã đơn thuần lẫn lộn cuộc Cách Mạng 1789 của Pháp với cuộc xuống đường ở Paris năm 1968.

          Tuy vậy, Kissinger vẫn chấp nhận định kiến “túi khôn TQ” đã làm lu mờ những vận động chính trị thiễn cận trong các xứ dân chủ Tây Phương. Như Kissinger đã từng diễn đạt trong một trích đoạn kiểu mẫu: “Chiến lược của TQ thường phơi bày ba đặc trưng: phân tích tỉ mỉ các khuynh hướng dài hạn, nghiên cứu kỷ lưỡng các lựa chọn chiến thuật, và thăm dò khách quan các quyết định thực thi.”[12]

          Người ta hầu như có thể nghe tiếng nghiến răng của vị chính khách lão thành khi nói về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, một chính sách ngược lại thường chịu ảnh hưởng các ý tưởng của các chính trị gia và ý muốn của cử tri [Wall Street], và thường không do một nhóm nhỏ các quan chức. Hình như Kissinger cũng đã mặc nhiên chỉ trích các người biểu tình về biến cố Thiên An Môn, vì đã “tìm cách minh chứng sự bất lực của chính quyền, làm suy yếu chính quyền, và cám dỗ chính quyền vào các hành động thiếu cân nhắc.”[13] Nhận xét nầy khá phù hợp với quan điểm của Kissinger – Thiên An Môn chỉ là một điểm chớp trong quan hệ Mỹ-Hoa: nó chỉ là một phiền toái ngoại giao do đám người biểu tình gây ra vì họ đang tự gây phiền toái cho chính họ. Là một trong số ít người Mỹ nổi tiếng đầu tiên viếng thăm TQ sau sự kiện Thiên An Môn, Kissinger đã đích thân giúp cải thiện quan hệ qua việc thúc đẩy Bắc Kinh chứng tỏ vài khía cạnh cải cách mang tính trình diễn để biến cố Thiên An Môn chóng lắng dịu và lùi vào quên lảng.

          Trái với những tiên đoán của các nhà ngoại giao Mỹ, TQ hình như đã coi thường lịch sử: xác nhận quyết định của Đặng không cho phép cải cách chính trị, ngay cả trong năm 1989. Nhiều quốc gia láng giềng Á Châu, như Thái Lan và Phi Luật Tân, hình như đang tìm cách chuyển tiếp qua dân chủ trong thập kỷ 1990, chỉ để trở lại chế độ bán chuyên quyền trong thập kỷ kế tiếp, bước giật lùi do kinh tế đình trệ và cấp lãnh đạo bất lực và tham nhũng. Nhật đã phải trải nghiệm hai thập kỷ ngưng trệ và nghèo khó gia tăng. Nga đã ve vãn dân chủ trong thập kỷ 1990, nhưng chẳng bao lâu đã rơi vào tình trạng một nhà nước băng đảng, kỹ nghệ suy sụp và quyền lực quốc tế bị xói mòn. Ngay cả Tây Phương, đã từng nhiều năm  thuyết giảng TQ về tư hữu hóa và cải cách chính trị, trong ba năm qua cũng đã phải sử dụng tài nguyên quốc gia lớn lao để trợ giúp các kỹ nghệ từ xe hơi đến ngân hàng.

          Trong lúc đó, TQ hình như ngày một sinh động và phồn vinh. Nhiều nhà nước chuyên quyền đã tìm cách canh tân kinh tế mà không nới lỏng chính trị, và vài xứ đã thành công, nhưng không nước nào sánh kịp TQ. Kinh tế TQ tăng trưởng gần 9% năm 2009, trong khi kinh tế Nhật co rút 5%, và kinh tế Mỹ sụt giảm 2,6%. Hiện nay, TQ đang nắm giữ gần 1,2 nghìn tỉ công trái của chính quyền Mỹ. Ngoài ra, không mấy bận tâm với các đòi hỏi của Tây Phương và Nhóm Đồng Thuận Tân Tự Do Hoa Thịnh Đốn phải tư hữu hóa, chính quyền TQ đã tái khẳng định kiểm soát nhiều khu vực kinh tế chiến lược trong thập kỷ vừa qua. Trong số 44 công ty lớn nhất ở TQ, tư nhân chỉ nắm ba công ty.

          Cho đến hai hoặc ba năm trước đây, Nhóm Đồng Thuận Bắc Kinh đã thu hút hầu hết các lãnh đạo chuyên chế  – từ Mahmoud Amadinejad của Iran, Bashar al-Assad của Syria, đến Islam Karimov của Uzbekistan – tất cả đều náo nức học hỏi mô hình TQ để canh tân thể chế. Trong những năm gần đây, không những chỉ những chế độ chuyên chế muốn học hỏi kinh nghiệm của Bắc Kinh,  mà ngay cả một số lãnh tụ ngày một đông và các công dân bình thường từ các quốc gia dân chủ trẻ trung, như Indonesia, Thái Lan, Senegal, Venezuela, Nicaragua và Bolivia – những xứ sự ủng hộ dân chủ của quần chúng đã suy giảm và các nhà lãnh đạo đang tìm những mô hình tăng trưởng mới sau sự thất bại của Nhóm Đồng Thuận Hoa Thịnh Đốn – cũng đều muốn học hỏi mô hình TQ. Nghiên cứu 10 quốc gia Đông Nam Á, học giả Indonesia Ignatius Wibowo đã khám phá: trong thập kỷ vừa qua, với chỉ vài ngoại lệ, các quốc gia nầy  đã dõi theo chiều hướng TQ và tránh xa mô hình dân chủ tự do, bởi lẽ họ đã chứng kiến những thành công của TQ bên cạnh các khó khăn kinh tế ngày một nghiêm trọng của Tây Phương.

          Trái  với các tiên đoán của các học giả như Huntington và Lipset, tầng lớp trung lưu TQ đã chứng tỏ không mấy thích chống đối, ngay cả khi các cuộc cách mạng đang lan tràn ở Trung Đông. Trong thực tế, các thị dân trong tầng lớp trung lưu ở TQ đã cấu thành một rào cản ngày một bảo thũ đối với thay đổi. Tiếp theo sau sự kiện Thiên An Môn, Đảng Cộng Sản đả từ bỏ ý thức hệ truyền thống, và thay vào đó, đã xây dựng tính chính đáng của  Đảng trên thành tích cải thiện tăng trưởng  kinh tế và vun quén một tinh thần quốc gia mới, mạnh mẽ, và đôi khi khó tánh, qua các chiến dịch truyền thông, tu chỉnh sách giáo khoa, và các sinh hoạt cộng đồng. Từ nghiên cứu nầy đến nghiên cứu khác, đa số tầng lớp trung lưu thành thị, với đời sống ngày một sung túc hơn rất nhiều kể từ thời kỳ cải cách bắt đầu vào cuối thập kỷ 1970, hình như không còn muốn thay đổi chế độ. Một thế hệ trẻ, giàu, trong khu vực thành thị, tự xem thuộc khuynh hướng tân bảo thủ, đã đòi hỏi chính quyền phải có hành động cứng rắn hơn đối với Đài Loan, Tây Tạng, Nhật, Hoa Kỳ, và các kẻ thù được nhận diện khác. Tư cách đảng viên, ngày nay được mở rộng để đón nhận những thành phần tư doanh, đã trở thành những mục tiêu hấp dẫn không khác tư cách hội viên các câu lạc bộ thượng lưu ở Tây Phương. Kết quả  một cuộc phân tích rộng rãi các công dân TQ của Trung Tâm Đông-Tây có trụ sở ở Hoa Kỳ cho thấy: “cùng với quá trình tiến bộ trong cải cách và tăng trưởng kinh tế ở TQ, trình độ quan tâm của quần chúng đến việc phát huy một xã hội dân chủ tự do hình như đã suy giảm.” [14]  Lý do: tăng trưởng kinh tế đã mang lại nhiều lợi lộc nhất cho khu vực thành thị, và dân thành thị đặc biệt tin, tự do hóa chính trị rất có thể sẽ chuyển dịch quyền lực kinh tế và chính trị đến các khu vực nông thôn nghèo nàn hơn.

          Một cuộc thăm dò đã được công bố năm vừa qua của tổ chức nghiên cứu Pew Research Organization, tập trung vào các khu vực thành thị, đã tìm thấy chín trong mười người TQ đã cảm thấy hạnh phúc với điều kiện hiện nay của xứ sở trong khi chỉ 30% người Mỹ, thường thuộc hàng ngũ những người lạc quan trên thế giới, đã cảm thấy thỏa mãn với hướng đi của Hoa Kỳ.

          Tăng trưởng kinh tế của TQ và kinh tế ngưng trệ của các xứ Tây Phương rõ ràng đã khiến các nhà làm chính sách ở Bắc Kinh thêm tự tin và táo bạo. Mặc dù luôn tôn sùng Đặng, các lãnh đạo TQ ngày một tảng lờ phương châm của Đặng theo đó TQ nên giữ một vai trò tương đối khiêm tốn trong sinh hoạt toàn cầu cho đến khi đã thực sự giàu có. Một quan chức cao cấp Thái đã nói, “các lãnh đạo TQ  thường khi đến đây và muốn học kinh nghiệm của chúng tôi. Ngày nay, hình như không còn gì để họ học….Họ không còn quan tâm lắng nghe chúng tôi.”[15]

          Trong khi Đặng cắt xén các ngân sách quân sự, chính quyền ngày nay dành cho quân đội TQ một ngân sách với tỉ số gia tăng hàng năm tới 15%, và giới quân sự đang gấp rút triển khai các hệ thống vũ khí quan trọng như tàu sân bay… Bên ngoài Nam Hải, các quốc gia Á Châu khác đã nhiều lần va chạm với một TQ táo bạo hơn. Suốt thập kỷ 2000, TQ luôn ve vãn Ấn Độ, và hai quốc gia đã có những liên hệ kinh tế ngày một chặt chẽ. Tuy vậy, trong năm 2009, TQ hình như đã sẵn sàng đụng độ với nước láng giềng phía Tây Nam. Mùa xuân năm 2009, sau khi đã đồng ý giải quyết các tranh chấp biên giới trước đây với Ấn Độ, TQ công khai tuyên bố họ sở hữu khoảng 90.000 cây số vuông phần lãnh thổ đang tranh chấp gần Tây Tạng. Trong năm kế tiếp, TQ đã đả kích thế giới khi ủy ban Nobel quyết định trao giải Nobel hòa bình cho Liu Xiaobo, bị cầm tù trong năm 2009 vì đã thành lập Charter 08 – một đơn thỉnh cầu trên internet đòi hỏi dân chủ, nhân quyền và pháp trị. Bắc Kinh đã lên án Na Uy và các quốc gia Âu Châu khác, và gây sức ép buộc lãnh đạo các quốc gia Á Châu và Âu châu phải từ chối không tham dự buổi lễ trao giải. Nhiều quốc gia đã phải đồng ý.

          Mặc dù còn yếu kém hơn Hoa Kỳ về phương diện quân sự, nhưng uy thế kinh tế và quy chế chủ nợ chính của Hoa Kỳ đã khiến TQ ngày một hung hăng táo bạo hơn ngay cả trong quan hệ với Hoa Kỳ, gây sốc cho các nhà ngoại giao Mỹ chưa từng quen ứng xử với đối thủ cùng vai vế: Bắc Kinh đã khiển trách các chính trị gia Hoa Kỳ thiếu cẩn trọng về tài chánh; sau khi Quốc Hội khó khăn lắm mới đạt được thỏa ước tạm thời nâng mức trần công trái, hãng thông tấn nhà nước TQ Xinhua đã cảnh cáo các chính trị gia Hoa Kỳ phải khống chế tật ghiền nợ…; khi Đức Dalai Lama, người đã bị các lãnh đạo TQ xem như lãnh tụ ly khai quá khích, tỏ ý muốn viếng thăm Hoa Thịnh Đốn vào mùa thu 2009, các quan chức TQ đã gây áp lực nặng nề đòi hỏi chính quyền Obama từ chối tiếp kiến, ngay cả trong tư cách cá nhân. Đối diện với nền kinh tế suy nhược và những đòi hỏi từ nước chủ nợ lớn, Tòa Bạch Ốc đã phải nhượng bộ. Obama cho phép Đức Dalai Lama viếng thăm Hoa Kỳ nhưng không ghé Tòa Bạch Ốc. Lần đầu tiên một Tổng Thống Hoa Kỳ đã phải làm ngơ không nghênh tiếp vị lãnh tụ lưu vong Tây Tạng trong vòng hai thập kỷ.

          Trên nhiều phương diện, sự tự tin mới của TQ không hề mang tính ngoại lệ. Xét cho cùng, trong hai thiên niên kỷ, TQ luôn là một trong số ít quốc gia hùng cường bậc nhất thế giới. Như Kissinger đã giải thích với ít nhiều chi tiết, các vị hoàng đế TQ đã quen với cảnh các nhà lãnh đạo nước ngoài đã phải đến Bắc Kinh như những kẻ cầu cận. Sự quá tự tin đó đã là lý do chính triều đại cuối cùng đã không hiểu được TQ đã mất chỗ đứng kinh tế trước Anh quốc và các quốc gia Tây Phương trong thế kỷ 19. Theo cách nhìn dài hạn, sự trở lại trung tâm thương mãi và chính trị toàn cầu của TQ  và các quốc gia khác như Ấn Độ, trên nhiều phương diện, là bình thường và dễ hiểu hơn sự thống trị bởi một số nhỏ các xứ Tây Phương.

          Tuy nhiên, cũng như các lãnh đạo Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 19 đã luôn xem toàn bộ Tây Bán Cầu đều nằm trong phạm vị ảnh hưởng của riêng người Mỹ, TQ chưa chấp hữu đủ ảnh hưởng và sự kính nể quốc tế để biện minh cho cách ứng xử khẳng định ngày một mạnh mẽ hơn – một hố cách biệt vài lãnh đạo TQ hình như chưa thấu hiểu. Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đã kéo hàng trăm triệu dân TQ ra khỏi nghèo đói, nhưng đồng thời cũng đã tạo ra tình trạng chênh lệch kinh tế lớn lao trong một xứ mang danh nghĩa xã hội chủ nghĩa. Sự bất quân bình kinh tế ở TQ còn nghiêm trọng hơn rất nhiều so với  phần còn lại của Á Châu. Chế độ độc đảng cũng rất dễ đưa đến tệ nạn tham nhũng, phung phí khoảng trên dưới 90 tỉ USD tăng trưởng kinh tế mỗi năm và làm ô nhiễm sinh hoạt chính trị. Những vùng ngoại biên như Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông ngày một bất ổn, và trong khu vực nông thôn , nơi tăng trưởng kinh tế chưa thẩm thấu, hàng chục nghìn vụ chống đối bùng nổ mỗi năm, đôi khi khá bạo động. Sự chú tâm như tia laser của cấp lãnh đạo TQ vào tăng trưởng kinh tế đã tạo ra những tai họa ô nhiễm môi trường tiềm ẩn. Và theo một số nhà nhân khẩu học, TQ – với chính sách một con đã làm nghiêng lệch, méo mó hệ thống an sinh xã hội – sẽ biến thể thành xứ đang phát triển đầu tiên sớm trở nên già cổi trước khi giàu có. Tình trạng bất thường nầy sẽ là một tai họa cho một nền kinh tế đã thụ hưởng một lực lượng nhân công lao động khổng lồ, trẻ, thiếu chuyên môn, nhưng cần cù sẵn sàng cống hiến làm việc nhiều giờ với mức lương tối thiểu.

          Mặc dù uy tín của Hoa Kỳ đã sụt giảm quá nhiều trong mấy thập kỷ vừa qua, và Hoa Thịnh Đốn khó lòng có thể được chọn lựa như mô hình cho chính sách đối ngoại lý tưởng, các lãnh đạo nước ngoài, tuy vậy, cũng đã ít nhiều làm quen và thích ứng với phương cách lãnh đạo của Hoa Kỳ trong các định chế quốc tế, tuần tiểu các tuyến đường biển, và bảo vệ một trật tự thế giới, mặc dù phần lớn nhằm phụng sự quyền lợi các đại công ty đa quốc gia Hoa Kỳ.

          Vả chăng, TQ chưa có một hải quân hoạt động khắp các đại dương. Trong quan hệ quốc tế, Bắc Kinh đã chỉ theo đuổi những chính sách hẹp hòi, hầu như trọng thương. Tại Liên Hiệp Quốc, TQ ít khi tỏ ra sẵn sàng lên án ngay cả những đồng minh cực đoan như Bắc Hàn hay Miến Điện. Nhưng thái độ nầy dĩ nhiên có thể thay đổi, nếu Hoa Kỳ tiếp tục từ bỏ ảnh hưởng toàn cầu và không thể ngăn ngừa hệ thống kinh tế của mình tan rã, cũng như nếu TQ trở nên có kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm nhiều hơn. Trong mọi trường hợp, trật tự thế giới hiện hữu vẫn chưa bị lật đổ hay thay thế.

          Qua những hành động ngày một khẳng định trong những vùng như Biển Đông hay Nam Hải mà vẫn chưa sẵn sàng đảm nhiệm vai trò lãnh đạo toàn cầu, vẫn chưa có ý niệm thu hút và động viên các quốc gia bạn cũng như thù, các nhà lãnh đạo Bắc Kinh đã vô tình đẩy các quốc gia, kể cả những quốc gia với một lịch sử chống Mỹ dài lâu, vào vòng tay Hoa Kỳ, cường quốc toàn cầu duy nhất còn lại.

          Mô hình phát triển của TQ đang thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, trong khi các cấp lãnh đạo và quần chúng trong nhiều quốc gia thường tỏ ý muốn rời bỏ chính sách kinh tế tân tự do của Nhóm Đồng Thuận Hoa Thịnh Đốn, rất ít người trong những xứ nầy muốn lựa chọn mô hình chính trị cô lập, chuyên quyền và đè nén của Nhóm Đồng Thuận Bắc Kinh. Trong năm qua, Hillary Clinton đã trở thành nhà ngoại giao được nhiều người ve vãn tại các hội nghị Đông Nam Á.  Lý do chính là vì các quốc gia nầy đang nhìn về phía Hoa Thịnh Đốn để tìm kiếm một sự trấn an: Hoa Kỳ sẽ không bỏ rơi Á Châu cho một trật tự lấy TQ làm cơ sở trung tâm. Phi Luật Tân, hai thập kỷ trước đây đã xua đuổi các lực lượng Hoa Kỳ ra khỏi các căn cứ trên quần đảo, hiện đang tìm cách  tích lũy các trang bị quân sự của Mỹ và thuyết phục quân đội Mỹ luôn đến viếng thăm. Hà Nội hiện nay cũng chào đón các chiến hạm hải quân Hoa Kỳ, gửi nhiều quan chức cao cấp qua Hoa Kỳ học tập và nghiên cứu, và đã ký thỏa ước hợp tác về kỹ thuật nguyên tử hiện đại với Mỹ.

          Kissinger đã tìm thấy một tương lai tươi sáng hơn cho TQ. Ông khen ngợi cấp lãnh đạo hiện nay đã đưa ra trước nhân dân TQ một danh sách các nhiệm vụ phải hoàn thành không khác đang liệt kê các kế hoạch của chính Kissinger. Kissinger cũng khen TQ đã hứa hẹn trổi dậy trong hòa bình, tựa như những lời hứa của các chính trị gia luôn đáng tin cậy. Có lẽ Kissinger, cũng như nhiều người trước ông, đã tự ru ngủ với những huyền thoại TQ.

          Trong một xứ đối diện với những thách thức lớn lao, trong nội bộ cũng như trên trường quốc tế, không có gì rõ ràng là ngay đối với Đặng, người được thụ hưởng sự kính phục của người dân cũng như những định chế hùng mạnh nhất của xứ sở, đã có thể giám sát một chuyển tiếp của TQ đến dân chủ. Một lãnh tụ hàng đầu khác, Thủ Tướng Ôn Gia Bảo, người được quần chúng kính trọng không kém và kiên cường thực hiện tự do hóa, cũng vẫn chỉ là một tiếng nói ngày một cô đơn, không  được nhiều đồng sự quan tâm. Trong vòng hai năm tới, khi ông hưu trí, hình như chưa có ai với quyền hành và tầm cỡ  của họ Ôn  đã được nhận diện trong số người có thể lên thay thế. Nhiều quan chức TQ –  những người đã quên lời cảnh cáo của Đặng:  “Nếu một ngày nào đó, TQ thấy cần tìm cách đòi hỏi quyền bá chủ trên thế giới, lúc đó nhân dân thế giới cũng có thể sẽ chống đối,” – hình như cũng sẽ bị sốc trước sự kiện Bắc Kinh đã làm rối tung các quan hệ với các xứ khác trong vòng hai năm qua. Họ cũng sẽ phải công nhận TQ trong thực tế vẫn còn khá xa với vai trò lãnh đạo thế giới.

          Nguyễn Trường

          Irvine, California, U.S.A.

          31-10-2011


[1] No one  will say it openly, but what drives every meeting in Southeast Asia now is fear of what the region will be like with China dominating.

[2] There are a few foreigners, with full bellies, who have nothing better to do than try to point fingers at our country.

[3] …pursuing the capitalist road.

[4] Chinese scientists had to learn foreign languages so they could read foreign reports… China should cherish its experts. It needed  to introduce automation into its factories and to support talented scientists.

[5] The Practice is the Sole Criterion for Judging Truth.

[6] Please don’t copy our model. If there is any experience on our part, it is to formulate policies in light of one’s own conditions.

[7] As the Democracy Wall movement grew, Deng began issuing warnings “that some postings were not conducive to stability … When protesters attracted huge crowds and resisted basic rule by the Communist leadership, Deng moved decisively to suppress the challenge”.

[8] Westerners  would forget.

[9] Beijing is “trying to stop history, which is a fool’s errand.

[10] China as the present day economic superpower is the legacy of Deng Xiaoping. Deng fulfilled the ultimate task of a leader – taking his society from where it is to where it has never been.

[11] “too early to say” whether the French Revolution was a success.

[12] China’s strategy generally exhibits three characteristics: meticulous analysis of long-term trends, careful study of tactical options, and detached exploration of operational decisions.

[13] Kissinger even seems to implicitly blame the protesters for the Tianmen crackdown, for “trying to demonstrate the impotence of the government, to weaken it, and to tempt it into rash acts.”

[14] …as China’s economic reform and growth have progressed, public interest in promoting liberal democracy seems to have diminished.

[15] Chinese leaders used to come here and want to learn from us. Now it’s like they don’t have anything left to learn…They have no interest in listening to us.

Advertisements