KỶ NGUYÊN HẬU CHIẾN, HOA KỲ, TRUNG QUỐC

                                                      hay

                                THAY ĐỔI LỚN DÙ MUỐN DÙ KHÔNG

Trong mọi khía cạnh của nhân sinh, đổi thay là một hằng số.Tuy nhiên, đổi thay thực sự quan trọng chỉ họa hoằng lắm mới xẩy ra. Ngay cả lúc đó, ngoại trừ khi nhìn lại, đổi thay mang tính chuyển hóa vẫn rất khó nhận diện. Khi quyết định dành một ý nghĩa lớn lao cho mỗi sự kiện khác thường hay xác quyết mỗi biến cố bất ngờ như một cuộc cách mạng, những người tự nhận vai trò diễn giải các hiện tượng đương thời – nhất là các chính trị gia và các nhà bình luận – đã làm gia tăng tính nghiêm trọng của vấn đề phân biệt  các sự kiện vụn vặt và các sự kiện trọng đại.

Có phải biến cố 11-9 đã làm thay đổi thế giới? Trong một thời gian ngắn sau tháng 9-2001, câu trả lời gần như hiển nhiên: đúng, do nhiều hệ lụy lớn lao và không thể thay đổi. Nhưng chỉ một thập kỷ sau, vấn đề không còn rõ ràng như thế. Ngày nay, đại đa số người Mỹ đang sống như biến cố 11-9 đã không bao giờ xẩy ra. Nói đến khả năng để lại một dấu ấn trên cách sống của người Mỹ, những người như Steve Jobs và Mark Zuckerberg từ lâu đã làm lu mờ Osama bin Laden, mặc dù di sản của họ có trường tồn hay không cũng còn phải chờ đợi.

Những ai nghĩ có thể tiên đoán sự hiện hữu của “Thay Đổi Lớn Lao Đang Xẩy Ra Hiện Nay”, vì vậy, cũng nên ứng xử với ý thức khiêm tốn và thận trọng, công nhận sự khả dĩ các biến cố đang diễn tiến rất có thể sẽ  phơi bày một câu chuyện trái ngược.

THAY ĐỔI LỚN DÙ MUỐN DÙ KHÔNG

Trong bối cảnh đó, thời khắc hiện tại là lúc trật tự thế giới, trong thực tế, đang kinh qua những chuyển biến căn bản. Thế giới hậu chiến, như một thực thể hậu quả của Thế Chiến II, đang sắp chấm dứt. Một sự tái phân quyền lực toàn cầu quan trọng đang diễn tiến. Những sắp xếp đã từng đem lại nhiều đặc quyền cho Hoa Kỳ, làm lợi lớn cho dân tộc Mỹ, hiện đang trên đường tan rã.

Thực vậy, trên khắp thế giới, chúng ta đang chứng kiến sự sụp đổ của cơ cấu chính quyền đã xuất hiện từ Đệ Nhị Thế Chiến. Sau khi Liên Bang Xô Viết tan rã, Tổng  Thống H. W. Bush, trong một bài diễn văn, đã kêu gọi thiết lập một trật tự thế giới mới. Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự ra đời của trật tự mới đó, dù muốn dù không.

Hệ thống tài chánh đã được thiết lập trước đây giờ đang thất bại. Hệ thống an sinh xã hội ra đời sau Đệ Nhị Thế Chiến giờ cũng đã bị lung lay dưới sức nặng phí tổn leo thang. Trât tự xã hội đang rạn vỡ bởi lẽ các cam kết chính quyền các quốc gia Âu Châu hiện  không còn đủ khả năng duy trì và thể hiện. Giới lãnh đạo chính trị Âu châu đang tìm hết cách vá víu trong tuyệt vọng, tuy nhiên nguy cơ vẫn liên tục lan tràn.

Chính quyền Mỹ đang tìm cách ngăn ngừa Thế Chiến III, và trong quá trình đã phung phí tài nguyên đến cạn kiệt, để rồi chỉ còn biết phải vay nợ các nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc. Khi nợ đáo hạn, chính quyền Mỹ  lại không đủ can đảm lấy những quyết định đau đớn để chận đứng nạn mất máu. Các viên chức dân cử , Cộng Hòa cũng như Dân Chủ, chỉ biết tìm cách duy trì quyền lực, và cử tri chẳng còn nhiều lựa chọn, ngoại trừ  xuống đường phản kháng. Và chúng ta đang chứng kiến phong trào Occupy Wall StreetOWS dựng lều chiếm đóng và cảnh sát chống bạo động đàn áp quần chúng biểu tình phản kháng bất bạo động…

Thế giới đang trên đường tiến tới đa cực. Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, những cường quốc ở Trung Đông cũng như Ấn Độ và Trung Quốc hai siêu cường Á châu, đều đang đi lên. Người Mỹ đang nổ lực cải thiện quan hệ đồng minh với Thổ Nhĩ Kỳ và Ân Độ. Nhưng  T T Obama  hiểu rõ  Hoa Kỳ không còn đủ khả năng thách thức TQ ở lục địa, và vì vậy, nay đã có thỏa ước thiết lập một căn cứ  thủy quân lục chiến ở Úc…Dù sao, về lâu về dài không một ngạch số viện trợ quân sự hay kinh tế nào có thể bảo đảm cấp lãnh đạo các quốc gia thụ hưởng sẽ hành động ngược lại với quyền lợi quốc gia của chính họ.

Trong khi đó ở Hoa Thịnh Đốn, giới cầm quyền vẫn làm ngơ  như không có gì xẩy ra, tiếp tục hành động như đang sống trong thời 1945 với niềm tin: Thế Kỷ của Hoa Kỳ phản ảnh ý định của Thượng Đế sẽ tiếp tục thêm vài thế kỷ.

Đây chính là khía cạnh đáng lo nhất của chính trị Hoa Kỳ đương đại, còn tệ hại hơn phương cách sinh hoạt  bất bình thường,  phát xuất từ tinh thần đảng phái nhỏ nhen và thối rữa, mua quan bán chức. Đối diện với một thế giới đang thay đổi tận gốc rễ, những người ngồi ở vị trí nhiều ảnh hưởng đơn thuần làm ngơ, ngay cả từ chối bắt đầu điều chỉnh để thích nghi với thực tại mới.

Thay Đổi Lớn đang xẩy ra trước mắt mang tính chính trị, kinh tế, và quân sự. Hiện nay, chúng ta có thể nhận diện ít ra bốn chủ đề hội tụ.

(1) Nghị Trình Tự Do Sụp Đổ

Ngay sau biến cố 11-9, chính quyền George W. Bush đã bắt tay vào việc thay đổi diện mạo vùng Trung Đông Nới Rộng. Đây là mục tiêu chiến lược cuối cùng của “cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố” của Bush.

Với ý định thành đạt trong thế giới Hồi giáo những gì người Mỹ đã thành đạt ở Âu châu và Thái Bình Dương giữa những năm 1941 và 1945,  Bush đã tìm cách thiết lập một trật tự thế giới mới phụng sự quyền lợi của Hoa Kỳ – một trật tự cho phép tự do tiếp cận dầu lửa và các tài nguyên khác, dập tắt phong trào cực đoan Hồi giáo, và mở đường cho  Do Thái tự do thao túng trong khu vực. Chìa khóa của sự thành công là quân lực Hoa Kỳ, một lực lượng T T Bush và nhiều người Mỹ tin tưởng không thể chận đứng và không thể thất bại – có thể đánh bại bất cứ ai, bất cứ nơi nào, trong bất cứ điều kiện nào.

Chẳng may, ngay sau khi đem ra thực thi ở Iraq, Nghị Trình Tự Do hầu như đã lập  tức sụp đổ. Chính quyền Bush đã kỳ vọng cuộc “Hành Quân Tự do Iraq”[1] sẽ là một cuộc chiến ngắn ngũi, gọn gàng, và  kết thúc với thắng lợi quyết định. Trong thực tế, đây là một cuộc chiến dài lâu, nhơ bẩn, và cực kỳ tốn kém, để chỉ đem lại những kết quả may mắn lắm cũng vô cùng nhập nhằng mờ ảo.

Trước khi rời nhiệm sở vào tháng giêng năm 2009,  T T Bush cũng đã từ bỏ Nghị Trình Tự Do, mặc dù không công nhận sự sụp đổ , và vì vậy, không cho người Mỹ biết những hệ lụy của thất bại. Hệ lụy rõ ràng nhất: người Mỹ ngày nay đã hiểu quyền lực quân sự của Hoa Kỳ, mặc dù rất ấn tượng, vẫn không đủ giúp Hoa Kỳ áp đặt nghị trình của mình trong vùng Trung Đông Nới Rộng. Người Mỹ chẳng những không thể “giải phóng” mà cũng không thể thống trị hay thuần hóa thế giới Hồi giáo, một phán quyết từ kỷ nguyên Bush, những phiêu lưu quân sự tiếp nối của Barack Obama ở Afghanistan-Pakistan đã chỉ có thể khẳng định.

Nổ lực nhiều hơn cũng sẽ không đem lại kết quả nào khác. Nguyên Bộ Trưởng  Quốc Phòng Robert Gates đã nắm bắt thực tế mới một cách gọn ghẽ: “Bất cứ bộ trưởng quốc phòng nào trong tương lai khuyến cáo tổng thống một lần nữa gửi một  số lớn bộ binh Mỹ tới Á châu , Trung Đông, hay Phi châu, cũng cần được ‘khám nghiệm đầu óc của mình,’ như Tướng MacArthur, một cách tế nhị, đã từng nói.”[2]

Đã hẳn, ngay cả hiện nay, các nhân vật diều hâu vẫn tiếp tục lập luận ngược lại. Chẳng hạn, các Kagan, Keane, Krauthammer, và Kristol đều nằng nặc khẳng định “chúng ta đã thắng” ở Iraq, hay ít ra cho đến lúc Tổng Thống Obama đã đánh mất thắng lợi đã đạt được một cách vẻ vang. Điểm chính yếu trong luận cứ của họ là không ai lưu tâm bằng cách nào họ đã lúc một hạ thấp dần đường ranh định nghĩa chiến thắng.

Trở lại năm 2003, họ đã hồ hởi chào mừng sự lật đổ Saddam Hussein như thời điểm khởi đầu sự thống trị của Hoa kỳ trong vùng Trung Đông. Ngày nay, với sự vắng mặt của Saddam, “thế giới đã trở thành một nơi chốn tốt đẹp hơn,”[3] ra khỏi Baghdad với lực lượng Hoa Kỳ nguyên vẹn đã trở thành một định nghĩa thực tế của thành công, đủ để biện minh tính chính đáng của nhiều nghìn thương vong, nhiều triệu người di tản, và hàng nghìn tỉ USD phung phí.

Trong khi đó, ở Trung Đông, al-Qaeda vẫn còn khả năng mở 30 cuộc tấn công mỗi tuần chống lại các lực lượng an ninh và thường dân Iraq. Thực tế nầy mọi người đều chứng kiến. Nhưng với họ, đó vẫn là chiến thắng!

(2) Đại Suy Thoái

Trong lịch sử kinh tế chính trị Hoa Kỳ, các bong bóng đầu cơ xìu xẹp đã là một chủ đề luôn tái diễn. Những xảo thuật lừa đảo của Wall Street – đưa đẩy thường dân Mỹ vào tình cảnh nợ nần, nhà cửa bị tịch biên –  là câu chuyện thường ngày. Các suy thoái đủ cỡ tái diễn ít ra mỗi thập kỷ một lần.

Suy thoái kinh tế 2008 tiếp diễn, ngày một trầm trọng, đề kháng mọi biện pháp cứu chữa liều lĩnh nhất. Trong ý nghĩa đó, Đại Suy Thoái hiện nay không mấy khác Đại Khủng Hoảng trong thập kỷ 1930.

Thay vì một hiện tượng chóng qua, Đại Suy Thoái hình như báo hiệu một cái gì mang tính chuyển hóa. Rất có thể một kỷ nguyên mới đã bắt đầu – bất định nhưng rất có thể kéo dài nhiều năm – tăng trưởng chậm, thất nghiệp cao, và cơ hội ít dần. Trong khi lợi tức trì trệ và nhiều người trẻ hoàn tất học vấn chỉ để không tìm thấy viêc làm, thành viên giới trung lưu bắt đầu chợt hiểu huyền thoại “Hoa Kỳ như một xã hội không phân biệt giai cấp” là chỉ có thế. Sự thật là trò chơi lừa đảo chỉ có lợi cho một tối thiểu số và phương hại cho số đông; và trong những năm gần đây, phương thức cứu chữa đã trở thành những trò dối gạt trơ trẻn.

Nhận thức nầy đã làm bối rối chính trị Hoa Kỳ. Trong vòng vài năm, sự tin tưởng ở giới lãnh đạo Hoa Thịnh Đốn đã suy giảm nhanh chóng. Quốc Hội đã trở thành trò cười. Những hy vọng nhen nhúm bởi sự đắc cử của TT Obama từ lâu đã tan biến, chỉ để lại phía sau nhiều thất vọng, hoài nghi, và yếm thế.

Một kết quả, từ hai phía cực hữu và cực tả, là nhen nhúm ngọn lửa cực đoan trong quần chúng Mỹ. Năng lượng chính trị Hoa Kỳ ngày nay chỉ còn tìm thấy trong phong trào Tea Party và Occupy Wall Street, cả hai đều phơi bày một tâm trạng hờ hững sâu xa đối với phương cách sinh hoạt chính trị lỗi thời.

Tình huống nầy sẽ đưa nước Mỹ về đâu, hiện nay vẫn còn là một ẩn số. Nhưng hệ thống chính trị Hoa Kỳ từ lâu luôn cơ sở trên sự chờ đợi điều kiện vật chất ngày một dồi dào, đem lại nhiều hứa hẹn hơn cho mọi người. Vấn đề – một hệ thống như thế có thể giải quyết thành công các thử thách liên quan đến khả năng quản lý sự khan hiếm và phân phối nhu cầu phải hy sinh – được xem như chưa có giải đáp. Điều nầy đặc biệt đúng khi những kẻ đã làm giàu như kẻ cướp, đã tỏ ra không chút sẵn sàng chia sẻ những hy sinh đòi hỏi.

(3) Mùa Xuân Á-Rập

Chính trị Trung Đông cũng tương tự như nền kinh tế khập khiểng Hoa Kỳ: tiên đoán tương lai là điều đầy bất trắc. Tuy nhiên, mặc dù không có tham vọng tiên đoán kết quả –liệu Tunisia, Egypt, và Libya sẽ vồ vập dân chủ? Có thể nào các biến động sẽ đưa đến một Hồi giáo cộng tồn với canh tân thế tục?   Chỉ có một điều có thể nói ra một cách an toàn: tình hình biến động Á-Rập hiện nay đang quét sạch những tàn tích cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc Tây phương khỏi thế giới Hồi Giáo.

Người Âu châu đã tạo dựng vùng Trung Đông hiện đại với một mục đích duy nhất: phụng sự quyền lợi của Âu châu. Với quyền lực Âu châu suy yếu sau Đệ Nhị Thế Chiến,  Hoa Kỳ – lúc đầu hơi ngần ngại, nhưng đến thập kỷ 1980 không còn dấu hiệu kiềm chế – đã nhảy vào lấp đầy khoảng trống. Nơi trước đây phần lớn thuộc  phạm vi quyền lực Anh quốc nay đã trở thành khu vục ảnh hưởng của Mỹ, với nhịp độ các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ ngày một tăng tốc.

Mặc dù đã công khai tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa thực dân một thời của Luân Đôn,  chính sách của  Hoa Thịnh Đốn cũng không mấy khác đường lối theo đuổi bởi Âu châu. Ý tưởng là bít kín, loại trừ những thành phần phá hoại, và đồng thời khai thác mọi thứ tài nguyên của Trung Đông. Chính sách người Mỹ ưa thích là đồng minh với các chế độ chuyên chế, cung cấp vũ khí, bảo đảm an ninh, và các phương cách lấy lòng khác, để đổi lấy những lời hứa hẹn ứng xử phù hợp với sự chờ đợi của Hoa Thịnh Đốn. Phúc lợi của người dân trong khu vực, ngoại trừ Do Thái, không bao giờ được quan tâm hơn là một ý nghĩ đến sau.

Các biến cố trong năm qua đã làm rõ một điều: nắp che giờ đây đã được mở và Hoa Kỳ khó thể làm được gì để đóng lại nắp. Một cuộc thực tập lớn về quyền tự quyết của Á-Rập đã bắt đầu. Người Á-Rập cũng như người không phải Á-Rập trong thế giới Hồi Giáo nới rộng sẽ quyết định tương lai của họ theo cách riêng của họ. Quyết định có thể khôn ngoan hay khờ dại. Trong mọi trường hợp, Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương sẽ có rất ít thay thế ngoài việc phải chấp nhận kết quả và xử lý các hậu quả, bất cứ là gì.

Đã hẳn, một Hoa Thịnh Đốn, nằm trong tay những người tin chắc những quyết định của Bạch Ốc sẽ định đoạt dòng chảy lịch sử, sẽ nhấn mạnh trái lại. Phe dân chủ công nhận bài nói chuyện của Obama năm 2009 ở Cairo đã đem lại cảm hứng cho người Á-Rập cởi bỏ xiềng xích. Điều đáng nực cười hơn, phe Cộng Hòa tin việc giải phóng Iraq của George W. Bush đã giúp thiết lập dân chủ trong khu vực, và do đó, đã thúc đẩy người dân Tunisia, Egypt, và vài quốc gia khác phải theo gương. Nói một cách nhẹ nhàng , bằng chứng hậu thuẩn cho những điều trên đơn thuần không hiện hữu. Những ai chờ đợi người Ai Cập đúc tượng Obama hay Bush ở Quảng Trường Tahrir tại Cairo chắc phải chờ đợi lâu dài.

(4) Âu Châu Đang Tìm Đường Để Thượng Tồn

Trong một chừng mức khá quan trọng, câu chuyện thế kỷ XX – ít nhất theo quan điểm thông thường Tây phương – là câu chuyện một Âu châu làm hỏng mọi chuyện và Hoa Kỳ phải ứng cứu. Thực vậy, lỗi lầm thực sự lớn lao là hai cuộc thế chiến. Năm 1917 và một lần nữa, sau tháng 12 năm 1941, Hoa Kỳ đã phải gửi những đội quân lớn để đối phó với các lực lượng quấy rối hòa bình. Sau Thế Chiến I, người Mỹ rút về. Sau Thế Chiến II, người Mỹ đã ở lại, không những để  bảo vệ Tây Âu, mà còn để giúp phục hồi các nền kinh tế tơi tả của các đồng minh “dân chủ Âu châu”.

Sau hơn một nửa thế kỷ, Kế hoạch Marshall vẫn còn được nhắc tới như một gương sáng đặc biệt về kỷ năng lãnh đạo chính trị cũng như một minh chứng cho khả năng kinh tế vô song của Hoa Kỳ sau Thế Chiến II.

Ứng cứu các lục địa trong cơn bỉ cực là một việc chỉ Hoa Kỳ mới có đủ sức cáng đáng.

Đó là thời hậu chiến. Ngày nay, Châu Âu một lần nữa lâm nguy, mặc dù cũng may lần nầy chưa cần đến quân đội nước ngoài đến gở rối và dọn dẹp. Khủng hoảng hiện nay là khủng hoảng kinh tế, bắt nguồn hoàn toàn từ thái độ thiếu cẩn trọng và vô trách nhiệm của giới lãnh đạo Âu châu, và về chất lượng, chẳng mấy khác cách ứng xử của người Mỹ, nguyên do đưa đến đại suy thoái.

Hiện nay, liệu Hoa Kỳ một lần nữa ứng cứu? Chắc chắn là không. Đối diện với nhiều vấn đề bắt nguồn từ quá trình lão hóa, Chú Sam đã bất kham, không thể đủ sức leo lên trở lại. Như vậy, Âu châu giờ đây có thể trông cậy vào ai? –Những tiêu đề trên báo chí gần đây kể lại câu chuyện:

-Âu châu thiếu thanh khoản đang nhìn về phía Trung Quốc để cầu viện             -Âu châu van xin TQ cứu trợ

-Âu châu ngữa tay cầu xin Bắc Kinh

-Liệu TQ có phải là vị cứu tinh của Âu Châu trong cơn khủng hoảng nợ nần?

Vấn đề quyết định ở đây không phải trong thực tế Bắc Kinh sẽ kéo Âu châu ra khỏi khủng hoảng. Vấn đề là hy vọng hay chờ đợi giờ đây đang chuyển dịch. Xét cho cùng, vai trò cứu tinh giúp Âu châu có phải đã chuyển dịch hay đã trao qua tay  người khác? Hình như đó là vai trò vĩnh viễn của Hoa Thịnh Đốn? Rõ ràng là không.

TƯƠNG LAI HOA KỲ

Như  lời một bản nhạc của Buffalo Springfield: “Có cái gì đang thay đổi ở đây. Đó là cái gì thì chưa chắc chắn.”[4]

Đã hẳn, các chính trị gia Hoa Kỳ vẫn ngoan cố phủ nhận, chỉ bằng lòng lặp lại khuôn rập (clichés) nhạt nhẽo và trấn an về vai trò lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ, biệt lệ Hoa Kỳ, và Thế Kỷ của Hoa Kỳ không bao giờ chấm dứt. Họ luôn muốn chúng ta vững tin mọi chuyện vẫn sẽ như trước – quý hồ cử tri đặt đúng người vào tòa Bạch Ốc.

Ứng viên tổng thống Cộng Hòa Jon Huntsman tuyên bố: “Đối với các quốc gia tiếp tục đề kháng bước tiến không thể chận đứng của tự do nhân bản, chính trị, và kinh tế, chúng ta sẽ nói rõ, họ đang đứng về phía sai lầm của lịch sử, bằng cách quả quyết ánh sáng của Hoa Kỳ luôn chói sáng trong mọi góc địa cầu, tượng trưng cho đèn báo hiệu của hy vọng và cảm hứng.”[5]

Mitt Romney cũng nhấn mạnh: “Đây là thời điểm của Hoa Kỳ. Chúng ta nên đón mừng thử thách, không lùi bước, không rút vào võ ốc biệt lập, không vẫy cờ trắng đầu hàng, mà cũng không nhường bước cho những ai quả quyết Hoa Kỳ đã hết thời… Tôi sẽ không từ bỏ vai trò của Hoa Kỳ trên thế giới.”[6] Với sự thiếu vắng tính sáng tạo không đáng ngạc nhiên, danh hiệu cuộc vận động của Romney “bạch thư”về an ninh quốc gia là Một Thế Kỷ của Hoa Kỳ.

Trang mạng vận động của Thống Đốc Rick Perry đã đưa ra một góc nhìn của người trong cuộc khá quan trọng: “Rick Perry tin ở chủ thuyết biệt lệ Hoa Kỳ, và bác bỏ ý niệm tổng thống của chúng ta cần xin lỗi thay cho quốc gia, nhưng thay vào đó, tin tưởng đồng minh cũng như địch thủ phải hiểu rằng Hoa Kỳ đang tìm kiếm hòa bình từ một lập trường đầy đủ sức mạnh.”[7]

Về phần mình, Newt Gingrich muốn mọi người  phải hiểu “Hoa Kỳ vẫn là hy vọng tốt nhất và cuối cùng của nhân loại trên hành tinh.”[8]

Các ứng viên Cộng Hòa khác, ngoài Ron Paul, đều rút tỉa từ cùng số vốn các ý tưởng nông cạn và thiếu sáng tạo.  

Chúng ta có thể phán đoán theo chuẩn mực lãnh đạo của C. Wright Mills: “những người ‘không có óc tưởng tượng sinh động’ là cần thiết để thực hiện các chính sách ‘thiếu óc tưởng tượng’ do một nhân vật thượng lưu ‘không có óc tưởng tượng’ hoạch định”[9] — tất cả đều xuất sắc và có đủ điều kiện để làm tổng thống.

Họ muốn chúng ta tin không có gì sai quấy ở Hoa Kỳ và trên thế giới mà không thể cứu chữa qua việc đẩy Obama ra khỏi Bạch Ốc, nhờ đó phục hồi trật tự đứng đắn trên thế giới.

Có phải Hoa Kỳ đã hết thời? – Câu hỏi in đậm trên trang bìa số mới nhất của tờ Foreign Affairs (Đối Ngoại), tạp chí hàng đầu của giới làm chính sách đối ngoại ở Hoa Kỳ. Cũng như trường hợp điễn hình với giới lãnh đạo ngoại giao, Foreign Affairs đã đặt câu hỏi sai, một câu hỏi được thiết kế với mục đích chính yếu đem lại một câu trả lời thiếu chân thật mang tính trấn an.

Leo lên nóc nhà và hét to: Không, Hoa Kỳ không hết thời! Tuy nhiên, mọi bằng chứng đều cho thấy Hoa Kỳ ngày nay không còn là Hoa Kỳ năm 1945. Và trật tự thế giới hiện nay cũng không còn dấu vết tương tự với trật tự thế giới trong thời hoàng đạo của siêu cường Hoa Kỳ. Mọi người trên hành tinh đều hiểu điều đó. Có lẽ cuối cùng rồi người Mỹ, khởi đầu bởi các chính trị gia, cũng phải hiểu như thế. Nếu họ từ chối, một hình phạt thích đáng và đớn đau đang đợi chờ.

TRUNG QUỐC: TRIẾT LÝ TRUYỀN THỐNG VÀ UY QUYỀN HIỆN ĐẠI

Với ảnh hưởng kinh tế toàn cầu và quyền lực quân sự ngày một gia tăng của TQ, sự cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và TQ là điều không thể tránh. Lãnh đạo cả hai nước quả quyết một cách lạc quan:  sự cạnh tranh có thể được xử lý mà không gây các xung đột đe dọa trật tự toàn cầu.

Đa số các nhà phân tích hàn lâm không lạc quan như thế. Nếu lịch sử có thể đem lại một chỉ dẫn, sự trổi dậy của TQ trong thực tế đang đặt ra một thử thách cho Hoa Kỳ. Những cường quốc đang lên tìm cách gia tăng uy quyền trong hệ thống toàn cầu, và các cường quốc trên đà suy yếu ít khi chịu chấp nhận vị trí suy yếu mà không cưỡng lại. Và với những dị biệt giữa hai hệ thống chính trị Hoa Kỳ và TQ, các nhà phân tích bi quan có thể tin có nhiều khả năng xẩy ra chiến tranh.

Một số nhà phân tích chính trị Đông phương thực tiển thường bị các đối tác Tây phương lên án là “diều hâu”. Nhưng trong thực tế, họ chỉ  tránh đánh giá quá cao tầm quan trọng của yếu tố đạo đức trong quan hệ quốc tế. Tuy vậy, thực tiển không có nghĩa các chính trị gia chỉ nên quan tâm đến sức mạnh quân sự và kinh tế. Trong thực tế, đạo đức có thể giữ một vai trò nòng cốt trong quá trình định hình sự cạnh tranh quốc tế giữa các cường quốc chính trị – và giúp phân biệt kẻ thắng người thua.

Đây là kết luận của các lý thuyết gia chính trị TQ như Khổng Tử và Mạnh Tử. Họ viết trong thời đại trước nhà Thanh  trước khi TQ được thống nhất như một đế quốc cách đây hơn 2.000 năm – một thế giới trong đó các xứ nhỏ bé cạnh tranh nhau chiếm lợi thế lãnh thổ.

Có lẽ đó là thời kỳ quan trọng nhất trong tư tưởng TQ ,và nhiều trường phái cạnh tranh  giành uy thế ý thức hệ và ảnh hưởng chính trị. Họ đồng quy trên một tri thức sâu sắc chủ yếu: chìa khóa đạt được ảnh hưởng quốc tế là quyền lực chính trị, và thuộc tính trung tâm của quyền lực chính trị là khả năng lãnh đạo sáng suốt và đạo đức. Những vua quan cai trị, hành động đúng với chuẩn mực đạo đức mỗi khi có thể, luôn thủ thắng trong cuộc tranh đua giành vai trò lãnh đạo trong trường kỳ.TQ đã được thống nhất bởi triều Thanh năm 221 B.C., một triều đại quá ngắn ngũi và không thành công như Vũ Vương nhà Hán, vị hoàng đế đã rút tỉa được chủ thuyết pháp trị thực tiển lẫn nhân trị của Khổng Phu Tử, để cai trị TQ trên 50 năm, từ 140 B.C. đến năm 86 B.C.

Theo Tuân Tử (Xunzi), có ba loại lãnh đạo: nhân bản, bá chủ, và chuyên chế.  Nhà cầm quyền nhân bản hay nhân trị giành được “tâm phục” (con tim) và “trí phục” (khối óc) của quần chúng quốc nội và ngoại quốc.  Lãnh tụ chuyên chế – dựa trên sức mạnh quân sự – dễ có kẻ thù. Nhà cầm quyền bá chủ mang tính trung dung: không lừa dân trong nước, không lừa đồng minh bên ngoài. Nhưng cả ba loại lãnh đạo đều không quan tâm đến yếu tố đạo đức và thường sử dụng bạo lực chống lại mọi xứ không phải đồng minh. Các triết gia thường đồng ý nhà  cầm quyền nhân bản luôn đắc thắng trong bất cứ cuộc cạnh tranh nào với bá quyền hay chuyên chế.

Những lý thuyết trên có thể quá xa vời với thế giới hiện nay, nhưng vẫn có những song hành khá ấn tượng. Thực vậy, Henry Kissinger đã có dịp thổ lộ: ông ta tin, tư  tưởng triết lý truyền thống của TQ, có lẽ sâu sắc hơn bất cứ ý thức hệ ngoại quốc nào khác, đã trở thành lực lượng tinh thần áp đảo bên sau chính sách đối ngoại TQ.

Tình trạng phân chia trong thời đại trước nhà Thanh có nhiều nét tương đồng với tình trạng chia rẽ toàn cầu hiện nay, và các phương thuốc của các lý thuyết gia chính trị thời đó ngày nay vẫn còn thích đáng – nói rõ hơn, các nhà nước dựa trên quyền lực quân sự hay kinh tế không quan tâm đến kỷ năng lãnh đạo sáng suốt và đạo đức chắc chắn phải thất bại.

Chẳng may, những quan điểm trên đây không còn mấy ảnh hưởng trong thời đại chi phối bởi thuyết định mệnh kinh tế, ngay cả khi các chính quyền thường nhắc lại,  chỉ  như  câu chuyện đầu môi chót lưỡi. Chính quyền TQ thường tự nhận cấp lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng Sản là nền móng của phép mầu kinh tế TQ, nhưng lại thường hành động tựa như cạnh tranh với Hoa Kỳ chỉ diễn ra trên sân chơi kinh tế. Và ở Mỹ, các chính trị gia cũng thường khoa trương các tiến bộ, dĩ nhiên không bao giờ các thất bại, là nhờ kỷ năng lãnh đạo của chính họ.

Cả hai chính quyền đều phải hiểu: lãnh đạo chính trị sáng suốt và đạo đức, không chỉ ném tiền vào mọi vấn đề, sẽ quyết định kẻ thắng trong cuộc tranh đua giành bá quyền toàn cầu.

Nhiều người tin tưởng một cách sai lầm: TQ chỉ có thể cải thiện quan hệ đối ngoại bằng cách gia tăng viện trợ kinh tế. Nhưng mọi người đều hiểu rõ khó lòng “mua được tình thân”; tình bạn kiểu đó không thể thượng tồn qua thử thách khó khăn.

Như vậy, bằng cách nào TQ có thể được lòng đa số quần chúng trên thế giới? Theo các triết gia TQ cổ xưa, mọi chuyện phải bắt đầu từ “tề gia trị quốc”. Nhân trị phải bắt đầu với sự tạo dựng một mô hình đáng thèm muốn ngay trong nước, trước khi có thể gây cảm hứng ở nước ngoài.

Điều nầy có nghĩa TQ phải thay đổi thứ tự ưu tiên khỏi phát triển kinh tế, để thiết lập một xã hội hài hòa thoát khỏi những hố cách biệt khổng lồ hiện nay giữa người giàu và người nghèo. TQ cần phải thay thế sự tôn thờ tiền bạc bằng đạo đức  truyền thống và tẩy sạch nạn tham nhũng chính trị để thực thi công lý và công bằng xã hội.

Đối với các nước ngoài, TQ phải chứng tỏ uy quyền “nhân trị”  khả dĩ cạnh tranh với Hoa Kỳ, hiện vẫn còn là siêu cường “bá quyền ưu việt”. Sức mạnh quân sự là nền tảng của bá quyền và giúp giải thích tại sao Hoa Kỳ đang có nhiều đồng minh. T T Obama đã phạm nhiều lỗi lầm chiến lược ở Afghanistan, Iraq, và Libya, nhưng cũng đã chứng minh được Hoa Thịnh Đốn còn đủ khả năng cùng lúc tiến hành ba cuộc chiến ở hải ngoại. Ngược lại,  quân đội TQ, từ tướng lãnh đến binh sĩ, đã thiếu kinh nghiệm chiến trường kể từ sau cuộc chiến ngắn ngũi với Việt Nam năm 1979.

Hoa Kỳ đang duy trì quan hệ tốt với thế giới bên ngoài, hơn hẳn TQ về lượng cũng như phẩm. Hoa Kỳ đang có hơn 50 đồng minh trong khi TQ không có được một. Bắc Triều Tiên và Pakistan chỉ là những bán-đồng-minh hay quasi-allies của TQ. Bắc Triều Tiên đã thiết lập quan hệ đồng minh chính thức với TQ năm 1961, nhưng không hề có tập trận chung hay viện trợ vũ khí trong nhiều thập kỷ. TQ và Pakistan có sự hợp tác quân sự đáng kể , nhưng không có quan hệ đồng minh chính thức mang tính ràng buộc.

Để tạo một môi trường quốc tế thân hữu cần thiết cho hướng đi lên của mình, Bắc Kinh cần phát huy những quan hệ ngoại giao và quân sự có chất lượng cao hơn Hoa Thịnh Đốn. Không một cường quốc hàng đầu nào có khả năng có quan hệ thân hữu với mọi quốc gia trên thế giới, vì vậy, cốt lõi cạnh tranh giữa TQ và Hoa Kỳ sẽ là bên nào có được nhiều bạn với chất lượng cao. Để đạt mục đích, TQ cần chứng tỏ tư cách lãnh đạo với chất lượng đạo đức cao hơn Hoa Kỳ.

TQ cũng phải thừa nhận tư cách một cường quốc đang lên và chấp nhận những trách nhiệm đi kèm với địa vị mới. Chẳng hạn, khi cần bảo vệ quyền lợi của các nước nhỏ, như người Mỹ đã làm ở Âu châu và Vùng Vịnh Ba Tư, TQ cần tạo dựng những thỏa ước an ninh phụ trợ trong khu vực với các quốc gia lân bang theo đúng mô hình của Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải (Shanghai Cooperation Organization), một diễn đàn gồm TQ, Nga và vài xứ Trung Á.

Trên phương diện chính trị, TQ nên rút tỉa kinh nghiệm từ truyền thống cơ sở trên tiêu chí khả năng, nhân cách và lẽ phải – meritocracy. Các quan chức hàng đầu cần được lựa chọn trên căn bản đạo đức, tri thức và kinh nghiệm xã hội, thay vì chỉ lưu tâm đến tiêu chuẩn kỷ thuât và khả năng hành chánh. TQ nên mở rộng cửa đón nhận những người nhập cư hội đủ các điều kiện đòi hỏi ngõ hầu cải tiến guồng máy chính quyền.Triều đại nhà Tống – từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 10, và có lẽ là kỷ nguyên vẻ vang nhất của TQ – đã tuyển dụng một số đông người nước ngoài vào giữ những chức vụ cao cấp. TQ cần một đường lối tương tự và cạnh tranh với người Mỹ thu hút những người nhập cư có đủ tài năng.

Trong thập kỷ tới, cấp lãnh đạo mới của TQ chắc hẳn sẽ được lựa chọn từ thế hệ đã kinh qua giai đoạn khó khăn Cách Mạng Văn Hóa. Có nhiều dấu hiệu cho thấy người TQ đang quyết chí và sẽ đánh giá cao các nguyên tắc đạo đức chính trị hơn là những phúc lợi vật chất. Cấp lãnh đạo phải giữ một vai trò lớn lao hơn trên sân khấu chính trị quốc tế và sẽ giúp đem lại một môi trường bảo đảm an ninh và hổ trợ kinh tế nhiều hơn cho các xứ đang phát triển, nghèo và ít quyền lực.

Điều nầy có nghĩa cạnh tranh với Hoa Kỳ về chính trị, kinh tế, và kỷ thuật. Tình trạng cạnh tranh có thể đưa đến những căng thẳng ngoại giao, nhưng hy vọng ít nguy cơ xung đột quân sự.

Viễn ảnh tương đối hòa dịu nầy chính là nhờ sự cạnh tranh Hoa-Mỹ ngày nay khác với quan hệ giữa Mỹ và Liên Bang Xô Viết trong thời chiến tranh lạnh. Hy vọng, TQ cũng như Hoa Kỳ sẽ không cần đến chiến tranh đại diện để bảo vệ các quyền lợi chiến lược của mình hay tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên và kỷ thuật.

Nổ lực tìm cách cải thiện vai trò lãnh đạo thế giới của TQ và ý chí duy trì địa vị quốc tế của Hoa Kỳ là trò chơi “zero-sum game” – kẻ được người mất. Đó là cuộc tranh  giành con tim và khối óc của quần chúng thế giới, yếu tố quyết định ai thắng ai thua. Và, như các triết gia xa xưa của TQ đã tiên đoán, quốc gia nào chứng tỏ được quyền uy nhân đức sẽ chiến thắng. Mong lắm thay!

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

27-11-2011                                                                                                                         

 


[1] Operation Iraqi Freedom.

[2] Any future defense secretary who advises the president  to again send a big American land army into Asia or into Middle East or Africa should ‘have his head examined,’ as General MacArthur so delicately put it.

[3] …with Saddam’s departure said to have made the world a better place…

[4] Something’s happening here. What it is ain’t exactly clear.

[5] To those nations who continue to resist the unstoppable march of human, political and economic freedom, we will make clear that they are on the wrong side of history, by ensuring that America’s light shines bright in every corner of the globe, representing a beacon of hope and inspiration.

[6] This is America’s moment. We should embrace the challenge, not shrink from it, not crawl into an isolationist shell, not wave the white flag of surrender, nor give in to those who assert America’s time has passed…I will not surrender America’s role in the world.

[7] Rick Perry believes in American exceptionalism, and rejects the notion our president should apologize for our country but instead believes allies and adversaries alike must know that America seeks peace from a position of strength.

[8] America is still the last and best hope of mankind on earth.

[9] …men without lively imagination are needed to execute policies without imagination devised by an elite without imagination.

Advertisements