Năng lượng dầu khí và chính trị thế giới

Vietsciences- Nguyễn Trường            07/11/2008

 Những bài cùng tác giả

I : Phần dẫn nhập

Với sự cáo chung của chiến tranh lạnh, mọi người những tưởng từ nay thế giới sẽ an bình ổn định hơn. Trước năm 2001, những biến động ở bán đảo Triều Tiên, Việt Nam, Afghanistan, Trung Á… luôn gắn chặt với tình trạng đối đầu giữa hai siêu cường Hoa Kỳ và Liên Bang Xô Viết. Sau ngày bức tường Bá Linh sụp đổ (1989) và khối Xô Viết tan rã (1991), người ta có đủ lý do để tin tưởng tình trạng căng thẳng và xung đột trước đây sẽ giảm dần, nếu không hoàn toàn chấm dứt. Tổng Thống George H. W. Bush còn đưa ra viễn kiến một trật tự thế giới mới trong đó mọi tranh chấp đều có thể giải quyết một cách hòa bình qua đường lối ngoại giao đa phương. Không may, trật tự thế giới mới chưa bao giờ được hình thành. Và nhân loại đã phải chứng kiến bạo lực tiếp diễn khắp nơi, lắm khi còn ác liệt hơn, với sự xuất hiện của nhiều tổ chức khủng bố.

Các nhà phân tích chính trị đã gặp rất nhiều khó khăn trong nỗ lực giải thích những xung đột, bạo loạn, bộc phát và lan tràn trong nhiều châu lục, mặc dù những ganh đua mang tính ý thức hệ giữa các cường quốc rõ ràng đã giảm thiểu.

Một số nhà quan sát tin có thể tìm được một lối giải thích thỏa đáng trong chính trị bản sắc (identity politics) — dựa trên sự khẳng định chân dung, căn cước, mang tính tôn giáo, sắc tộc, quan hệ bộ lạc –thay thế cho ý thức hệ và mất quân bình trong cán cân lực lượng toàn cầu. Theo giáo sư Samuel P. Huntington — đại diện của khuynh hướng nầy — qua bài viết nổi tiếng đăng trong tạp chí Foreign Affairs năm 1993, đó là sự xung đột giữa các nền văn minh (a clash of civilizations). Ông phân biệt và sắp xếp những nền văn minh khác nhau trên thế giới thành những tập hợp : Tây phương/Cơ đốc, Slavic/Chính thống giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo, và Khổng giáo. Huntington lập luận, những dị biệt giữa các nhóm nầy đã dẫn dắt nhân loại trong quá trình tiến hóa đến một thời kỳ xung đột mới trong thế giới hiện đại. Trong thực tế, một vài vụ xung đột trong thời hậu chiến tranh lạnh, ở những nơi như Bosnia, Kashmir, Chechnya, hình như đã xác nhận cách giải thích vừa nói.

Tuy nhiên, nhiều cuộc chiến và liên minh khác trong nhiều thập kỷ qua — chẳng hạn như liên minh giữa Hoa Kỳ và vài xứ Hồi Giáo cực đoan, Saudi Arabia và United Arab Emirates, trong cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991 chống lại Iraq — không thể lý giải theo chiều hướng đó. Một số nhà nghiên cứu cảm nhận cần phải tìm kiếm một lối giải thích khác thỏa đáng hơn. Và giáo sư Michael T. Klare là người đại diện cho khuynh hướng thứ hai nầy.

Sau khi phân tích một số các cuộc chiến gần đây ở Á, Phi, Michael Klare đã đi đến kết luận hoàn toàn khác với Huntington. Theo ông, tài nguyên thiên nhiên, thay vì những dị biệt trong văn minh hay bản sắc căn cước, mới là cội rễ của các xung đột dai dẳng hiện nay. Đó là quyền kiểm soát các mỏ kim cương ở Angola và Sierra Leone ; các mỏ vàng và đồng ở Congo ; gỗ ở Borneo và Cambodia. Đã hẳn, các lý do tôn giáo và sắc tộc cũng giữ một vai trò nào đó, nhưng lý do chính là do các muu đồ, toan tính của chủ soái các bộ tộc, các tướng tá cầm đầu những sứ quân, và các thủ lãnh mỵ dân, nhằm độc chiếm, kiểm soát các nguồn tài nguyên hiếm quí : kim cương, vàng, đồng, gổ quý, ruộng đất, nước, và trong vài trường hợp quan trọng khác, dầu khí.

Năm 2001, khi trình bày và phân tích những kết luận của mình trong cuốn Resource Wars : The New Landscape Of Global Conflict (Chiến Tranh vì Tài Nguyên : Cảnh Quan Mới của Xung Đột Toàn Cầu), Michael T. Clare đã xem tất cả các tài nguyên quí hiếm vừa kể đều có tầm quan trọng ngang nhau : dầu, nước, đất đai, và các khoáng sản khác sẽ dẫn dắt đến những tranh giành xung đột trong thế kỷ 21 khi số cung ngày một hạn chế và khan hiếm hay khi hai hay nhiều nhóm tranh giành quyền kiểm soát, chiếm hữu những tài nguyên quí hiếm vừa kể. Dầu hỏa cũng chỉ là một trong nhiều tài nguyên quí hiếm, không hơn không kém, so với các khoáng sản khác.

Về sau, trước nhiều sự kiện quan trọng mới liên tiếp xảy ra, Klare buộc lòng phải tái thẩm định kết luận của chính mình. Cuốn Resource War xuất bản ngày 17-5-2001, cùng lúc với sự công bố National Energy Policy (Chính sách Năng Lượng Quốc gia) của chính quyền George W. Bush, đã châm ngòi cho một cuộc tranh luận gay gắt về hậu quả lâu dài của sự lệ thuộc ngày một sâu xa hơn vào số dầu nhập khẩu.

Tại Hoa Kỳ, khu vực dầu khí (khai thác và lọc dầu) chỉ chiếm khoảng 5% GDP. Trong lúc đó, số cung dầu khí trên thị trường quốc tế rất dồi dào với giá rẻ. Dầu khí lại thiết yếu cho việc phát triển các ngành kỹ nghệ như xe hơi, xây dựng đường sá và xa lộ, hàng không, hóa học, canh nông, du lịch, và thương mãi ngoại ô –những ngành tối thiết cho kinh tế, và do đó, cho lối sống Hoa Kỳ.

Các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, dù thuộc đảng Cộng hòa hay Dân chủ, đều cảm thấy có trách nhiệm bảo đảm các nguồn cung cấp dầu rẻ tiền, đủ để thỏa mãn nhu cầu quốc nội ngày một gia tăng. Cho đến thập kỷ 1940, trách nhiệm nầy còn nằm trong phạm vi chính sách đối nội và khu vực tư, vì Hoa Kỳ còn có trữ lượng dầu chưa được khai thác, đủ để đáp ứng nhu cầu căn bản trong nước.

Tuy nhiên, sau đệ nhị thế chiến, trữ lượng quốc nội ngày một cạn kiệt, Hoa Kỳ bắt đầu phải nhập khẩu và nhập khẩu ngày một nhiều hơn. Dầu khí đã trở thành một sản phẩm chiến lược thuộc phạm vi chính sách đối ngoại, và chính quyền liên bang phải trực tiếp đảm nhiệm điều hành chính sách dầu nhập khẩu. Khác với các tài nguyên thiên nhiên khác, dầu khí –một tài nguyên thiết yếu cho sự thịnh vượng và lối sống Hoa Kỳ – phải được bảo vệ với bất cứ giá nào, kể cả quân sự.

Cuối cùng, dầu khí đã được xem là tối thiết cho an ninh quốc gia, thuộc thẩm quyền Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên hệ chịu trách nhiệm bảo vệ các quyền lợi sinh tử của Hoa Kỳ. Dưới danh nghĩa đó, trong nhiều thập kỷ qua, quân lực đã được sử dụng để bảo đảm quyền tiếp cận và bảo vệ các nguồn cung cấp then chốt Saudi Arabia và Kuwait tránh các biến động từ bên trong lẫn bên ngoài.

II- Dầu khí – Sản phẩm chiến lược

Sinh hoạt địa chính trị đã bắt đầu sôi động từ trước Đệ Nhất Thế Chiến khi dầu khí trở thành sản phẩm mang tính chiến lược. Lúc đầu, các xứ Tây phương giữ vai trò áp đảo. Nhưng với sự lệ thuộc ngày môt nhiều của các quốc gia kỹ nghệ tiền tiến vào số dầu nhập khẩu, quan hệ quốc tế trở nên phức tạp và các xứ nhiều tài nguyên năng lượng thuộc thế giới thứ ba dần dà đã giành được quyền tham dự cuộc chơi. Nói một cách khác, sự tranh giành quyền kiểm soát các nguồn cung cấp dầu khí giữa các cường quốc kỹ nghệ đã giúp tái định hình địa chính trị toàn cầu theo chiều hướng ngày một thuận lợi hơn cho các xứ giàu năng lượng. Liên bang Nga, Iran, Venezuela, và Sudan là những trường hợp điển hình.

II.1: Liên bang Nga :

Trong những tháng gần đây, TT Vladimir Putin đã nhiều lần lên tiếng là sẽ hướng các hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử đến các đô thị Âu châu nếu TT George W. Bush mở rộng tuyến lá chắn chống hỏa tiễn California-Alaska hiện nay đến Ba lan và Cộng hòa Czech. Bên cạnh những lời công kích lập trường của Hoa Thịnh Đốn, đây còn là bằng chứng mới của sự thay đổi then chốt trong chính sách đối ngoại của Điện Cẩm Linh.

Thực vậy, dưới sự lãnh đạo của Putin, Liên bang Nga đã phục hồi và ra khỏi tình trạng hỗn loạn kinh tế tiếp theo sau sự tan rã của Liên bang Xô Viết năm 1991. Lập trường cứng rắn của Putin rõ ràng đã được xây dựng trên cơ sở một nền tài chánh ngày một phong phú nhờ ở số thu nhập lớn lao từ tài nguyên dầu khí. Sau khi tái quốc hữu hóa các công ty năng lượng và khai thác trữ lượng dầu khí khổng lồ, Putin bắt đầu dùng ảnh hưởng kinh tế để đẩy mạnh quyền lợi quốc tế của Liên bang Nga trên mặt trận ngoại giao. Kể từ năm 2003, Liên bang Nga đã vượt qua Hoa kỳ để trở thành quốc gia sản xuất dầu khí lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Saudi Arabia. Công ty Gasprom trong năm 2006 cũng đã qua mặt British Petroleum để chiếm địa vị công ty năng lượng lớn số hai trên toàn cầu theo giá thị trường.

Với giá dầu tăng gấp năm từ năm 1998 — khi đồng ruble của Nga suy sụp đến độ Liên bang Nga đã phải cầu viện các nước ngoài –, ngày nay ngân khố Liên bang Nga đầy ắp tiền mặt, không những đủ trang trải mọi ngoại trái mà còn tích lủy được một số ngoại tệ dự trữ trên 300 tỉ USD.

II.2: Iran :

Tài nguyên dầu khí dồi dào cũng đã cho phép cấp lãnh đạo môt số quốc gia hành động một cách quyết đoán khác thường. Iran là một ví dụ. Từ những năm đầu thế kỷ 21, các cường quốc Tây phương ngày một dè dặt hơn khi đề nghị đưa Iran ra trước Hội Đồng Bảo An Liên hiệp Quốc (HĐBALHQ hay UNSC). Ngày 10-01-2006, cơ quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA) đã phật lòng khi Iran tái nghiên cứu làm giàu uranium sau một thời gian tự nguyện đinh chỉ. Nhưng phải đợi đến tháng 9-2006, Bộ Ba (Anh-Đức-Pháp) trong Liên hiệp Âu châu (European Union Troika – EU3) mới thuyết phục được IAEA lên tiếng tố cáo Iran vi phạm Thỏa ước Cấm Phổ Biến Nguyên Tử (Non-Proliferation Treaty – NPT) Iran đã ký trước đó. Tuy vậy, EU3 vẫn chưa muốn đưa Tehran ra HĐBALHQ. Tháng 11-2006, với sự hỗ trợ của Hoa kỳ, EU3 mới đồng thuận yêu cầu IAEA ra quyết nghị khuyến cáo EU3 và Iran tái khởi hội đàm mà trước đó chưa đến bốn tháng EU3 đã đơn phương đinh chỉ. Và hội đàm chỉ được tái tục vào cuối tháng 11-2006.

Thực ra, sở dĩ các cường quốc Tây phương phải dịu giọng với Iran là vì lãnh đạo các xứ nầy thừa hiểu chế tài của Liên Hiệp Quốc, kể cả biện pháp cấm vận dầu lửa, là phương cách duy nhất hữu hiệu. Nhưng biện pháp nầy chắc chắn sẽ làm giá dầu gia tăng phương hại cho kinh tế của chính họ.

Một lý do khác là sự luân phiên thay đổi trong số 35 thành viên Ban Thống Đốc IAEA và lập trường của Ấn Độ về nội vụ. Ba trong số thành viên thường bỏ phiếu theo EU3 và Hoa Kỳ trong tháng 9-2006 lúc đó đã được thay thế bởi Belarus, Cuba, và Syria là những xứ có lập trường chống đối Tây phương. Ngoài ra, Ấn Độ, trong tháng 9-2006, là một trong số 22 thành viên đã bỏ phiếu chấp thuận nghị quyết EU3, giờ đây lại thay đổi thái độ ; do đó, số phiếu thuận nay chỉ còn 18/35 — một đa số quá mong manh. Lý do khiến Ấn Độ thay đổi lập trường là Iran vừa thỏa thuận cung cấp cho xứ nầy một số lượng hơi đốt trị giá 22 tỉ USD trong 25 năm đầu của thế kỷ 21. Trong khoảng thời gian nầy, số dầu khí nhập khẩu của Ấn sẽ gia tăng từ 70% lên đến 85%.

Bên cạnh Ấn Độ, Trung Quốc cũng nhảy vào cuộc chơi địa chính trị. Năm 2005, các công ty quốc doanh Trung Quốc đã ký với Iran một hợp đồng 25 năm, trị giá 20 tỉ USD, để mua hơi đốt và quyền khai thác một lô dầu rộng lớn trên căn bản chuyển nhượng quyền sở hữu dần lại cho Iran ( buy-back terms).

Trong mọi trường hợp, với số cầu tăng nhanh, số cũng hạn chế, và địa vị một xứ xuất khẩu dầu lớn thứ hai trong khối OPEC, một sự tẩy chay dầu Iran là một điều khó thể thực hiện. Một lời đe dọa của Iran ngưng cung cấp dầu khí, nếu bị Hoa Kỳ hoặc Do Thái tấn công, cũng đủ khiến giá dầu tăng vọt và làm chùn tay các vị lãnh đạo diều hâu trong chính quyền của cả hai xứ.

Vì những lý do vừa nói, cho đến nay các biện pháp chế tài đều tỏ ra không hữu hiệu. Ngạch số xuất khẩu của Iran vẫn gia tăng ; và với giá dầu tăng vọt, Iran đã có thể dùng nguồn lợi nầy để trợ giá thực phẩm và nhiên liệu quốc nội.

II.3 : Venezuela :

Dầu khí cũng giữ một vai trò quan trọng trong cuộc đối đầu giữa Venezuela và siêu cường khổng lồ phương Bắc. Trong chuyến công du đến Điện Cẩm Linh tháng 6-2007, Tổng Thống Hugo Chavez đã hoàn tất thương thảo một thỏa ước trị giá một tỉ USD, mua 5 tàu ngầm diesel, để bảo vệ thềm lục địa chứa nhiều trữ lượng dầu khí và vô hiệu hóa sự khả di cấm vận Hoa Kỳ có thể áp đặt trong tương lai. Venezuela cũng là nước mua vũ khí của Nga lớn thứ hai sau Algeria. Trong bài nói chuyện tại một căn cứ quân sự ở Caracas, Chavez đã tuyên bố : “Chúng tôi đang tăng cường quân lực chỉ để ngăn ngừa sự xâm lăng của đế quốc và bảo đảm hòa bình, chứ không phải để tấn công bất cứ ai”.

Đã hẳn ngoại tệ cần thiết cho chương trình quân sự đã đến từ tài nguyên dầu khí.Chính sự gia tăng nhanh chóng trong giá dầu đã đem lại uy thế cho Chavez trong đường lối đối đầu với TT George W. Bush trong khi Hoa Kỳ đang lệ thuộc vào số dầu nhập khẩu từ Venezuela.

Nguồn lợi dầu khí còn cho phép Chavez củng cố hậu thuẫn chính trị trong quốc nội. Chavez cũng dùng dầu như một lợi khí để giành sự ủng hộ ngoại giao từ các xứ Caribbean và Trung Mỹ trong chính sách đối ngoại thù nghịch với Hoa Thịnh Đốn. Chavez còn giúp đỡ tài chánh cho các nước nghèo con nợ ở châu Mỹ La Tinh, như Argentina.

Tại Hội Nghị Thượng Đỉnh 34 xứ thuộc Tổ Chức Các Quốc Gia Châu Mỹ (Organization of The American States–OAS) ở Mar del Plata, Argentina, tháng 11-2005, TT George W. Bush, mặc dù thông thạo tiếng Tây Ban Nha, đã gặp nhiều khó khăn khi muốn đam luận thân thiện với nguyên thủ các xứ thành viên. Trong lúc đó, TT Hugo Chavez của Venezuela luôn là người sáng giá trong cũng như ngoài hội trường. Thiện cảm dành cho Hugo một phần lớn nhờ ở Sáng Kiến Petrocaribe (Petrocaribe Initiative), ký trong tháng 6-2005, giữa công ty Petroleos de Venezuela SA và 13 xứ Caribbean và Trung Mỹ. Sáng Kiến nầy đã cập nhật một chương trình đã có từ tháng 10-2000, theo đó, 13 xứ thành viên được quyền trả tiền mua dầu Venezuela trong vòng 15 năm, với một lãi suất tượng trung 2%/năm, và giá 20 USD/thùng thay vì giá thị trường 30 USD/thùng cùng lúc. Với sự cập nhật, giá mới phải trả là 40 USD, thay vì giá thị trường 70 USD vào tháng 10-2005.

Dầu khí cũng đem lại cho Chavez một lợi khí để thắt chặt quan hệ với Trung Quốc, đề phòng trường hợp Hoa Kỳ quyết định ngưng nhập khẩu dầu thô từ Venezuela. Số dầu Venezuela thỏa thuận xuất khẩu qua Trung Quốc sẽ tăng gấp ba, lên 500.000 thùng/ngày vào năm 2009. Một công ty dầu Trung Quốc cũng đang hợp tác với công ty quốc doanh Petroleos de Venezuela SA để thăm dò dầu nặng trong vùng Vịnh Orinoco.Trong chuyến công du Trung Quốc năm 2006, Chavez tuyên bố :”Sự ủng hộ của Trung Quốc là rất quan trọng [đối với chúng tôi] trên hai phương diện chính trị và đạo đức “.

Venezuela — sản xuất dầu khí từ thập kỹ 1920’s và là một trong 4 quốc gia hàng đầu cung cấp dầu thô cho Hoa Kỳ — chỉ là một xứ có lợi tức ở mức trung bình trên thế giới.

II.4: Sudan :

Sudan, một xứ nghèo nhất thế giới mới gia nhập cuộc chơi, cũng đã tạo được một thế lực địa chính trị khả quan, một điều khó thể tưởng tượng vào thập kỷ trước. Khartoum đã nắm được thế đon bẩy, nhờ ở Trung Quốc, một trong 5 thành viên với quyền phủ quyết trong HĐBALHQ. Năm 1995, Công Ty Dầu Khí Quốc Gia Trung Quốc ( China National Petroleum Corporation-CNPC) đã giành đựoc hợp đồng khai thác dầu ở Sudan. Hai năm sau (1997), khi Hoa Thịnh Đốn xếp Sudan vào danh sách những xứ hỗ trợ khủng bố quốc tế, các công ty dầu Hoa kỳ buộc phải rút khỏi Sudan. Trung Quốc đã nhanh chân điền vào khoảng trống.

Năm 2000, Sudan đã ký một hợp đồng với một tập đoàn do CNPC cầm đầu trong vùng vịnh Melul — khu vực có trữ lượng dầu khí dồi dào. Ngoài việc khai thác các mỏ dầu, người Trung Quốc còn xây dựng nhà máy lọc dầu, và lắp đặt đường ống dẫn dầu.

Từ một xứ lệ thuộc vào dầu khí nhập khẩu trước khi người Trung Quốc đến, Sudan ngày nay xuất khẩu hàng năm khỏang hai tỉ USD dầu khí, một nửa số nầy đến Trung Quốc. Và ngày nay Khartoum là nguồn cung cấp dầu khí Phi châu lớn thứ hai cho Trung Quốc, chỉ sau Angola. Tháng 9-2004, khi HĐBALHQ thảo luận về sự tàn sát ở vùng Dafur, Tây Sudan, Hoa Kỳ muốn áp đặt chế tài kinh tế lên chế độ Sudan. Bắc Kinh cho biết sẽ dùng quyền phủ quyết. Rút cục, HĐBA cũng chỉ có thể thông qua một nghị quyết èo ọp, thiếu hiệu lực.

Tóm lại, sự tranh giành dầu khí giữa các xứ công nghiệp hóa khổng lồ đã giúp tái định hình địa chính trị toàn cầu theo chiều hướng thuận lợi cho các xứ giàu tài nguyên năng lượng.

III. Dầu khí và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ

Các sự kiện tưởng như rời rạc vừa nói là biểu hiệu của một xu thế ngày một rõ nét của địa chính trị toàn cầu trong những thập kỷ sắp tới. Khi các nhà lãnh đạo chính trị trên thế giới quyết tâm phát triển kinh tế để nâng cao mực sống, vai trò của năng lượng dầu hỏa và hơi đốt như một sản phẩm chiến lược ngày một quan trọng hơn. Ngày nay Hoa kỳ cũng đã lệ thuộc vào các nguồn cung cấp dầu khí nhập khẩu đến 60% nhu cầu quốc nội. Vì vậy, ngay từ 1932, khi các công ty dầu khí Hoa Kỳ đã sở hữu một phần tài nguyên dầu khí của Saudi Arabia, chính sách của Hoa Thịnh Đốn luôn nhằm kiểm soát dầu Trung Đông bằng mọi giá, kể cả nhân quyền và dân chủ.

Thực vậy, ngay từ đệ nhị thế chiến, Hoa kỳ luôn bị cám dổ bởi dầu khí Trung Đông. Các quan chức Anh xem “dầu Trung Đông là phần thưởng mang tính sinh tử cho bất cứ cường quốc nào có tham vọng khống chế toàn cầu”. Các cấp lãnh đạo Mỹ cũng đồng quan điểm và gọi đó là “nguồn lực chiến lược khổng lồ và là một trong những tặng vật lớn lao nhất trong lịch sử thế giới”. Trong sự tranh giành phần thưởng sinh tử sau đó, Hoa Kỳ đã trỗi dậy như một siêu cường tương lai.

Năm 1945, TT Franklin Delano Roosevelt đã thương thảo thành công một thỏa ước “đổi dầu lấy sự bảo vệ” (oil for protection agreement) với quốc vương Abdul Aziz Ibn Saud của Saudi Arabia. Từ đó Hoa Kỳ luôn tích cực dấn thân vào mọi chuyển biến ở Trung Đông. Mật vụ Hoa Kỳ đã trực tiếp nhúng tay vào việc lật đổ chính quyền dân cử Iran năm 1953 (để lật ngược làn sóng quốc hữu hóa kỹ nghệ dầu khí) cũng như trong sự hình thành của đảng Baath (Baathist Party) với chế độ độc tài ở Iraq vào đầu thập kỷ 1960s (để chận đứng sự trỗi dậy của phe tả — là phe dễ liên minh với Liên Xô, do đó, dễ gắn chặt trữ lượng dầu khí của Iraq với khối Xô Viết).

III.1 : Sự trỗi Dậy Của Khối OPEC :

Ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở Trung Đông bắt đầu suy giảm vào thập kỷ 1970s với sự ra đời của Tổ Chức các Quốc Gia Xuất Khẩu Dầu Lửa (Organization of the Petroleum Exporting Countries –OPEC) có mục đích điều hợp ngạch số sản xuất và giá dầu xuất khẩu trên toàn thế giới. Thế lực của OPEC được củng cố khi nhiều xứ lần lượt thiết lập các công ty dầu riêng của mình, quốc hữu hóa kỹ nghệ dầu, và giành lại quyền quyết định khỏi tay các đại công ty Tây phương — thường được biết dưới tên gọi “The Seven Sisters”, trong đó phải kể đến Shell, Texaco, và Standard Oil of New Jersey –, trước đó đã hoàn toàn chi phối việc thăm dò, khai thác, và phân phối dầu khí.

Với thành viên là các xứ xuất khẩu dầu quan trọng, OPEC bắt đầu quyết định số lượng dầu sản xuất và bán ra trên các thị trường quốc tế. Di nhiên, chỉ cần một thành viên quan trọng xé rào cũng đủ vô hiệu hóa cơ chế điều tiết ngạch số dầu cung cấp. Ngược lại, một khi các xứ thành viên nhất trí chấp hành các quyết định tập thể, OPEC có thể sử dụng cơ chế nầy để mặc cả với các đối tác hùng mạnh nhất trong hệ thống mậu dịch quốc tế. Một khối quyền lực mới, như vậy, đã xuất hiện trên diễn đan quốc tế, và trong nhiều tình huống, đã có thể giành được nhiều nhượng bộ đáng kể ngay từ Hoa Kỳ và Liên Bang Xô Viết, hai siêu cường vào thời đó.

Lúc OPEC mới ra đời, Hoa Kỳ vẫn còn tự túc về dầu khí. Tuy nhiên, kinh tế Mỹ lúc đó vẫn lệ thuộc các đối tác thương mãi, đặc biệt là Âu châu và Nhật bản. Những đối tác nầy lệ thuộc rất nhiều vào dầu khí Trung Đông. Những cuộc khủng hoảng dầu vào đầu thập kỷ 1970s, kể cả các hàng xe nối dài chờ đợi tại các trạm xăng ở Hoa Kỳ, cũng đủ phản ảnh tiềm lực của khối OPEC.

Trong bối cảnh đó, quan hệ đồng minh giữa Hoa Kỳ và hòang gia Saudi trở nên vô cùng quan trọng. Với trữ lượng dầu lớn nhất thế giới và khả năng sản xuất bậc nhất trong khối OPEC, Saudi Arabia luôn có ảnh hưởng quyết định đến chính sách của toàn khối. Để đổi lại, các thế hệ Tổng Thống Mỹ kế tiếp luôn tìm cách tăng cường quan hệ đồng minh với Saudi Arabia, khởi đầu từ thời TT Roosevelt, và phát triển các quan hệ chính trị, kinh tế giữa hai nước.

Về phần mình, Quốc vương Saudi luôn sẵn sàng dùng ảnh hưởng sẵn có trong khối OPEC để lèo lái hành động của khối theo chiều hướng thuận lợi và thích ứng với những mục tiêu rộng lớn hơn trong chính sách của Hoa Kỳ. Nói một cách khác, để đổi lấy những chính sách thuận lợi của OPEC, Hoa kỳ luôn sẵn sàng trang bị quân sự, và hậu thuẫn cho chế độ Saudi Arabia — một chế độ triền miên bấp bênh, bất ổn.

Với hậu thuẫn của một thiểu số thế lực luôn sử dụng nguồn lợi dầu khí lớn lao để theo đuổi quyền lợi riêng tu, hoàng gia Saudi đã áp đặt một chế độ toàn trị khắc nghiệt lên thần dân nghèo khó của mình. Vì vậy, Hoa Kỳ luôn phải cung cấp quân viện và hậu thuẫn chính trị ngày một gia tăng cho “đồng minh” trong những tình huống tế nhị, khó xử cho Hoa Thịnh Đốn. Ngược lại, trong một kỹ nguyên chủ nghĩa quốc gia ngày một lớn mạnh, hoàng gia Saudi Arabia phải gặp nhiều rắc rối khó khăn trong việc theo đuổi những chính sách rõ rệt thân Mỹ, nhất là trước sức ép và xu thế của các đối tác trong khối OPEC và quần chúng Saudi.

III.2 : Phái Tân Bảo Thủ và Giấc Mơ Đơn Cực :

Năm 1979 là năm quan trọng đối với Trung Đông. Đó là năm dân Iran xuống đường làm cách mạng. Chế độ Shah bạo tàn — do Hoa Kỳ dựng lên và hậu thuẫn sau một cuộc đảo chính cũng do Hoa Kỳ và Anh quốc giật dây vào năm 1953– sau hơn 25 năm cầm quyền, cuối cùng đã bị lật đổ. Một số viên chức ngoại giao Hoa Kỳ bị sinh viên biểu tình bắt làm con tin. Lãnh tụ tôn giáo tối cao Ayatollah Khomeini và các giáo si thuộc cấp lên nắm chính quyền. Cuộc cách mạng Iran đã đem lại một yếu tố bất ổn mới trong một tình hình vốn sẵn phức tạp, chẳng khác nào quẹt một que diêm để bên cạnh những ống dẫn dầu. Một chế độ, hiềm khích với Hoa Thịnh Đốn và không dễ khuất phục trước sức ép của Saudi Arabia, từ nay, đã là thành viên năng động của OPEC, nuôi tham vọng dùng tổ chức nầy để thách thức bá quyền kinh tế của Hoa Kỳ.

Chính vào thời điểm nầy, quá trình quân sự hóa chính sách Trung Đông của Hoa Kỳ đã hoàn tất. Năm 1980, TT Jimmy Carter — trước thời kỳ “Habitat For Humanity” (Ngôi Nhà Thiên Nhiên Cho Nhân Loaị)– công bố một viễn kiến về sau được biết dưới tên gọi Chủ thuyết Carter (Carter Doctrine) : Dầu vùng Vịnh Ba Tư là cực kỳ thiết yếu đối với quyền lợi quốc gia Hoa Kỳ và Hoa Kỳ sẽ sử dụng mọi biện pháp cần thiết, kể cả quân lực, để bảo đảm sự tiếp cận nguồn cung cấp dầu khí Trung Đông.

Để đạt mục đích, Carter quyết định thành lập Lực Lượng Đặc Nhiệm Liên Quân (Rapid Deployment Joint Task Force), một cơ cấu chỉ huy quân sự mới, có thể điều động lực lượng liên quân với trang bị cực kỳ tối tân tới bất cứ nơi nào ở Trung Đông với tốc độ thần tốc. Được củng cố và bành trướng qua nhiều đời Tổng Thống kế nhiệm, cơ cấu chỉ huy quân sự nầy đã được  khai triển thành Bộ Tư Lệnh Đặc Nhiệm Hoa Kỳ ở Trung Đông (United States Central Command – Centcom), có trách nhiệm phối hợp hoạt động quân sự của Hoa Kỳ ở Trung Đông và các vùng phụ cận.

Chính Centcom đã trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến vùng Vịnh năm 1990, đẩy lui lực lượng chiếm đóng Kuwait của Saddam Hussein, nhờ đó chận đứng khả năng kiểm soát tài nguyên dầu khí xứ nầy. Mặc dù không được chính thức nhắc đến vào thời điểm đó, Cuộc chiến Vùng Vịnh I là sự thể hiện rõ nét chủ thuyết Carter — “mọi biện pháp cần thiết, kể cả quân sự, phải được vận dụng để đảm bảo nguồn dầu Trung Đông”. Chính cuộc chiến nầy cũng đã giúp thuyết phục hoàng gia Saudi, lúc đó đang giao động trước sự hiện diện của quân đội Iraq ở ngay biên giới, dễ dàng chấp nhận sự tiếp tục hiện diện của quân lực Hoa Kỳ trên lãnh thổ của mình –một sự kiện dọn đường cho việc thực thi chủ thuyết Carter, đồng thời về sau cũng đã mang lại nhiều hậu quả tai hại bất ngờ.

Cùng lúc, sự tan rã đột ngột nhưng yên bình của Liên Bang Xô Viết đã báo hiệu Hoa Thịnh Đốn từ nay nghiễm nhiên giữ địa vị bá chủ toàn cầu cũng như đưa đến sự tranh luận sôi nổi trong nhóm hoạch định chính sách Hoa Kỳ về phương cách tận dụng và duy trì điều mà Charles Krauthammer, bình luận gia báo Washington Post, người đầu tiên đã gọi là “kỷ nguyên đơn cực” (Unipolar moment). Về sau, các thành viên trong chính quyền George W. Bush là những phần tử đặc biệt hăng say cổ súy tận dụng thế lực quân sự của siêu cường duy nhất để tăng cường địa vị bá chủ trên thế giới, đặc biệt ở Trung Đông. Họ họp thành nhóm vận động chính sách, cho ra đời The Project for a New American Century (PNAC), để triển khai và cổ súy quan điểm của mình. Năm 1998, nhóm nầy (gồm Dick Cheney, Donald Rumsfeld, Paul Wolfowitz, và nhiều thành viên khác, sau nầy giữ những chức vụ trọng yếu trong chính quyền George W. Bush) đã gửi một thu ngỏ đến TT Clinton cổ súy thực thi chiến lược lật đổ Saddam Hussein. Họ tố cáo lập trường hiếu chiến và tham vọng kiểm soát một nguồn cung cấp dầu khí lớn lao trên thế giới của Saddam.

Hai năm sau, nhóm nầy công bố một tuyên ngôn nẩy lửa, dùng làm kim chỉ nam cho chính quyền mới. Dưới nhan đề “Tái Xây Dựng Quốc Phòng Hoa Kỳ” (Rebuilding America’s Defenses), họ cổ súy điều mà sau nầy được biết dưới tên gọi “Chuyển Hóa Ngũ Giác Đai Kiểu Rumsfeld” (Rumsfeldian-style Transformation of the Pentagon). Sức mạnh quân sự áp đảo của Hoa Kỳ phải được sử dụng để bảo đảm và phát huy ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên toàn cầu và, trong trường hợp Bắc Hàn và Iraq, để lật đổ các chế độ đương quyền và thực hiện các chiến dịch bình định hậu chiến. Tuyên ngôn còn diễn giải phương cách vô hiệu hóa hoặc chế ngự làn sóng phản chiến quốc nội, ghi nhận trước là “khó thể có được sự đồng tình của quần chúng trừ phi có một biến cố mang tính tai họa và xúc tác như một vụ Trân Châu Cảng mới.

III.3 : Iraq với Saddam và Dầu Khí :

George W. Bush đắc cử Tổng Thống vào lúc ảnh hưởng của Hoa kỳ ở Trung Đông đang trên đã tuột dốc. Mặc dù vừa chiến thắng trong Cuộc Chiến Vùng Vịnh I và Liên Bang Xô Viết vừa tan rã, uy thế của Hoa Kỳ đối với khối OPEC và chính sách dầu khí đang bị đe dọa. Số cầu dầu khí trên toàn cầu đột nhiên tăng vọt và người ta e ngại thế giới sẽ lệ thuộc vào tài nguyên của khối OPEC ngày một sâu xa hơn. Để đổi lại một sự gia tăng trong số dầu sản xuất, các xứ thành viên OPEC bắt đầu đoi hỏi nhiều nhượng bộ và một vai trò chính trị ngày một quan trọng. Vào chính lúc đó, Hoa Kỳ không những đã tuột xuống hàng ngũ những xứ phải nhập khẩu dầu, mà còn phải nhập khẩu đến hơn 50% nhu cầu quốc nội.

Trong cùng lúc, đồng minh then chốt Saudi Arabia ngày một suy yếu bởi sự trỗi dậy của tổ chức al-Qaeda. Mục tiêu chính của tổ chức nầy là lật đổ hoàng gia, và quân đội Hoa Kỳ vừa đánh bại Saddam Hussein trong Cuộc Chiến Vùng Vịnh I và đồn trú tại các căn cứ thường trực trên lãnh thổ Saudi. Osama bin Laden và các thành phần Saudi bất đồng chính kiến tố cáo hoàng gia là tay sai của đế quốc Mỹ. Bên trong khối OPEC, sự kiện nầy đã khiến hoàng gia Saudi ngày một lúng túng và gặp nhiều rắc rối trong vai trò xứ chủ nhà của các căn cứ tiền đồn quân đội Mỹ, và trong chính sách thân Mỹ của mình.

Tình hình lúc một phức tạp khi ảnh hưởng của Iran và Iraq ngày một lớn hơn bên trong khối OPEC. Với số trữ lượng lớn thứ nhì và thứ ba trên thế giới (Iran còn có trữ lượng hơi đốt thiên nhiên lớn thứ hai trên hành tinh), ảnh hưởng của hai xứ nầy ngày một lớn mạnh. Đặc biệt hơn nữa, ảnh hưởng của Iraq sẽ gia tăng gấp bội một khi Saddam thoát khỏi các biện pháp chế tài của LHQ sau Cuộc Chiến Vùng Vịnh I (không được phép khai thác những khu dầu mới cũng như canh tân hạ tầng cơ sở năng lượng đang xuống cấp). Mặc dù lãnh đạo của hai xứ còn thù nghịch sau cuộc chiến trong thập kỷ 1980s, họ cũng đã có thể đồng ý trong chính sách năng lượng nhằm đối kháng các tham vọng, đòi hỏi của Hoa Kỳ.

Năm 1998, lập trường của họ còn được tăng cường khi cử tri Venezuela – thành viên OPEC quan trọng nhất ngoài Trung Đông – bầu Hugo Chavez, ứng cử viên có lập trường chống đối Hoa Thịnh Đốn, làm Tổng Thống. Nói một cách khác, tháng 1 năm 2001, chính quyền mới ở Hoa Thịnh Đốn phải thương nghị về dầu khí không những với một hoàng gia Saudi Arabia suy yếu, dè dặt, mà còn với nhiều đối tác thù nghịch trong một OPEC được tăng cường.

Trong tình huống đó, không ai ngạc nhiên khi chính quyền mới ở Hoa Thịnh Đốn, vốn ôm mộng đon cực và ước mo một Pax Americana toàn cầu, đã vội vả thực thi những chính sách hiếu chiến ghi sẵn trong tuyên ngôn của nhóm PNAC. Theo nguyên Bộ trưởng Ngân khố Paul O’ Neill trong hồi ký “The Price of Loyalty”(Cái Giá của sự Trung Thành), Iraq luôn ám ảnh Bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld. Trong phiên họp đầu tiên của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (National Security Council–NSC), ngày 30-01-2001, bảy tháng trước biến động 11/9, Rumsfeld lập luận, trọng tâm Israel-Palestine trong chính sách Trung Đông của chính phủ Clinton cần được dẹp bỏ. “Điều chúng ta thật sự muốn nghi tới là loại bỏ Saddam”. Rumsfeld đưa ra luận cứ : “Thay đổi chế độ Iraq sẽ cho phép chúng ta cải tiến tình trạng người Kurds thân Mỹ,chuyển hướng Iraq theo kinh tế thị trường, và bảo đảm một chính sách dầu khí thuận lợi “.

Việc thẩm định đề nghị của Rumsfeld được giao cho Nhóm Hoạch Định Chính Sách Năng Lượng Quốc Gia bí mật (National Energy Policy Development Group –NEPDG) do Phó TT Dick Cheney triệu tập ngay sau khi George W. Bush tuyên thệ nhậm chức. Nhóm đặc nhiệm nhanh chóng quyết định : việc tăng cường ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong hệ thống sản xuất và phân phối dầu Trung Đông phải là “uu tiên hàng đầu trong chính sách năng lượng quốc tế của Hoa Kỳ ” (primary focus of US international energy policy), trên cả những dự án triển khai những nguồn năng lượng thay thế và các biện pháp tiết kiệm năng lượng quốc nội được xếp xuống uu tiên hai hoặc ba. Mục tiêu chính là nhằm thuyết phục hoặc cưởng ép các xứ Trung Đông mở rộng cửa các khu vực năng lượng đón nhận đầu tu ngoại quốc, nói một cách khác, nhằm thay thế vai trò kiểm soát các khâu khai thác và phân phối dầu khí Trung Đông trong tay nhà nước — nền móng co bản của thế lực OPEC — bằng quyền quyết định của các đại công ty đa quốc gia Tây phương luôn đi theo đường lối, chính sách của Hoa Kỳ. Chương trình nầy, dù chỉ chi phối một thiểu số các khu dầu lớn ở Trung Đông, cũng đủ giúp ngăn trở guồng máy quyết định tập thể và giảm thiểu, nếu không bẻ gãy, quyền lực của khối OPEC.

Trên bình diện lý thuyết, đây là phương cách rất hấp dẫn để chận đứng đã suy giảm uy lực của Hoa Kỳ trong vùng và biến những năm tháng cầm quyền của TT Bush thành một thời đại đơn cực mới ở Trung Đông.

Mục tiêu đã được quyết định, Nhóm Đặc Nhiệm liền bắt tay vào việc soạn thảo một chiến lược chi tiết hơn. Theo Jane Mayer của báo The New Yorker, điều canh tân mang nhiều ý nghĩa nhất ở đây là sự cộng tác mật thiết giữa Nhóm Đặc Nhiệm (Task Force) của Cheney và HĐANQG (NSC). Một chỉ dấu rõ rệt của sự cộng tác chặt chẽ vừa nói là HĐANQG đã quyết định hòa nhập và thống nhất hai địa hạt chính sách riêng rẽ làm một : việc thẩm duyệt chính sách hành động đối với “các quốc gia ngoài vòng pháp luật” như Iraq và các hành động nhằm chiếm hữu những khu dầu khí hiện hữu cũng như mới.

Mặc dù các cuộc thảo luận vừa nói đều tối mật, các thông tin lọt ra bên ngoài trong mấy năm gần đây cũng đủ chứng tỏ diễn tiến hòa nhập đã rất thành công. Tính đến tháng 3-2001, theo O’Neill,một thành viên trong cả hai Nhóm Đặc Nhiệm và HĐANQG : “Các kế hoạch thực hiện đã được thảo luận nhằm chiếm đóng Iraq — với đầy đủ phương cách xử lý các khu dầu, lực lượng giữ hòa bình, và các tòa án xử tội phạm chiến tranh — mặc nhiên tiến hành chủ thuyết chiến tranh phòng ngừa”.

Cũng theo O’Neill, khi biến cố 11/9 xẩy ra, kế hoạch tiến chiếm Iraq cũng đã được triển khai, và Rumsfeld, trong thực tế, đang thúc đẩy đem ra thực hiện, ngay trong phiên họp đầu tiên của HĐÃNQG, được triệu tập để thảo luận phương cách phản ứng. Sau vài ngày thảo luận, kế hoạch được hoản lại cho đến khi quét sạch al-Qaeda và lật đổ chính quyền Taliban ở Afghanistan. Vào tháng 1-2002, sau ba tháng khá thành công ở Afghanistan, chính quyền Bush mới trở lại chú tâm kế hoạch Iraq. Tuy vậy, phải đợi đến tháng 11-2002, O’Neill mới được nghe TT Bush chính thức duyệt y kế hoạch xâm lăng Iraq, và cuộc tiến chiếm đã thực sự diễn ra vào ngày 20-3-2003.

III.4 : Cuộc Chiến Thay Đổi Chế Độ Iraq :

Trong bối cảnh đó, thật chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi một câu ngắn gọn, trong tập hồi ký dày 500 trang nhan đề The Age of Turbulence (kỹ Nguyên Biến Động) của nguyên chủ tịch Cục Dự trữ Liên Bang, Alan Greenspan, đã gây sóng gió ở Hoa Thịnh Đốn vào cuối tháng 9-2007. Greenspan viết : “Tôi lấy làm buồn là trên phương diện chính trị thật không tiện chút nào khi xác nhận một điều mọi người đều biết : cuộc chiến Iraq chủ yếu là vì dầu hỏa”. Là viên chức cao cấp đầu tiên nói ra điều đó, Greenspan dồn dập được yêu cầu diễn giải rõ thêm, nhất là sau khi nhiều quan chức khác trong chính quyền lên tiếng phủ bác.Tony Fratto, người phát ngôn của Tòa Bạch Ốc, còn châm biếm gọi đây là “lối phân tích trong các tiệc rượu Georgetown” (Georgetown cocktail party analysis), hàm ý mỉa mai –“một câu chuyện đầu môi chót lưỡi trong những lúc trà dư tửu hậu”.

Những diễn giải tiếp theo trong tập hồi ký làm sáng tỏ vấn đề hơn :”Chừng nào Hoa Kỳ còn lệ thuộc vào những nguồn cung cấp dầu khí thiếu tin cẩn, chúng ta dễ lâm vào những cuộc khủng hoảng kinh tế không hoàn toàn do chúng ta kiểm soát”. Vì Saddam Hussein, một đồng minh cũ, gần đây thỉnh thoảng tỏ ra thiếu thân thiện, Greenspan nghi (như đã thổ lộ với Bob Woodward của báo Washington Post) cần loại bỏ Saddam để bảo đảm hệ thống các thị trường dầu khí hiện hữu tiếp tục hoạt động bình thường. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho chương trình Democracy Now, Greenspan giải thích thêm, việc ông ủng hộ kế hoạch loại bỏ Saddam Hussein “không dính dáng gì đến vũ khí tiêu diệt hàng loạt” mà chỉ vì sự “đe dọa kinh tế ông ta có thể gây ra cho phần còn lại của thế giới” khi ông ta kiểm soát những trữ lượng dầu then chốt ở Vịnh Ba Tư.

Luận cứ của Greenspan phản ảnh lô-gic của nhóm PNAC và những viên chức chủ trương phải dùng các biện pháp quân sự để đối phó với hiểm họa OPEC. Greenspan lo ngại, Saddam Hussein — một đồng minh trong quá khứ, giờ đã là một kẻ thù đe dọa quyền lợi Hoa Kỳ ở Trung Đông — có thể kiểm soát các nguồn cung cấp dầu khí then chốt. Điều nầy lại có thể cho phép ông ta dùng tác dụng đòn bẫy kinh tế, chính trị, để chống lại Hoa Kỳ và đồng minh.

Greenspan còn đi xa hơn, và lập luận, hiểm họa Saddam có thể giải quyết bằng cách nầy hay cách khác — hoặc lật đổ ông ta hoặc loại ông ta khỏi địa vị kiểm soát. Thay thế Saddam bằng một chính quyền thân Mỹ rõ ràng là hạ sách. Xét cho cùng, tại sao lại phải đặt một người như Saddam vào địa vị kiểm soát nguồn dầu khí Iraq ? như Nhóm Đặc Nhiệm Năng Lượng Cheney chủ trương, mở rộng cửa kỹ nghệ dầu khí Trung Đông để đón nhận đầu tu ngoại quốc là thượng sách. Cùng một ý nghi, Greenspan tin, tách rời khu vực dầu khí khỏi sự kiểm soát, không chỉ của Saddam mà cả của bất cứ chính quyền nào khác ở Iraq, là vinh viễn tránh được hiểm họa một Iraq hoặc một OPEC rạn vở có thể tiếp tục nắm giữ thế đon bẩy kinh tế chống lại Hoa Kỳ.

Nói rõ hơn, Greenspan quan niệm kế hoạch xâm lăng Iraq như một hành động mang tính bảo thủ –một sự trở lại thời tiền-OPEC khi Hoa Kỳ hoàn toàn tự do tiếp cận nguồn cung cấp dầu khí Trung Đông mà không vấp phải bất cứ trở ngại nào. Với những nền kinh tế đối dầu đang lên từ châu Á, độc quyền tiếp cận dầu khí của Hoa Kỳ hàm ngụ một sự tiếm đoạt tiềm lực kinh tế, chính trị, mà tình trạng khan hiếm năng lượng đang đem lại cho các xứ giàu năng lượng Trung Đông. Nói một cách khác, những ý tưởng bảo thủ của Greenspan đã ám chỉ những đổi thay mang tính cách mạng trong phương trình kinh tế, chính trị mà chính quyền Bush đem ra thực nghiệm một cách đầy tai họa ở Iraq từ tháng 3-2003.

Tưởng cần nhắc lại ở đây, Iraq cũng chỉ là trạm đầu dễ xâm lăng và chiếm đóng. Tầm ngắm của nhóm PNAC, từ đầu, đã hướng tới Iran như đã ẩn dụ trong câu nói đưa tân bảo thủ thời tiền-Iraq : “Ai cũng muốn đến Baghdad. Bậc tu mi nam tử chỉ muốn tới Tehran”.

Phóng tầm nhìn khỏi những đổi thay căn bản ở Trung Đông, người ta còn thấy thấp thoáng một viễn tượng còn táo bạo hơn cho phần còn lại của thế giới. Trong thế kỷ 21, số cầu năng lượng gia tăng không sớm thì muộn sẽ vượt quá số cung. Độc quyền tiếp cận nguồn năng lượng Trung Đông của Hoa Kỳ, nếu thành tựu và có thể duy trì, sẽ gây khan hiếm, thiếu hụt cho nhiều xứ khác, hoặc đòi hỏi các xứ nầy phải thỏa mãn nhiều yêu sách của Hoa Kỳ để được tiếp cận nguồn cung cấp. Nói một cách khác, nỗ lực bảo thủ của Greenspan, để bảo toàn quyền tiếp cận, đã hàm ngụ một sự gia tăng lực đon bẩy khủng khiếp của Hoa Kỳ trong quan hệ với các xứ, vì nhu cầu an sinh kinh tế, phải lệ thuộc vào năng lượng. Điều nầy có nghĩa một biến dạng ghê gớm trong cán cân lực lượng toàn cầu.

Điều cần nói rõ là các tham vọng và cách hành xử để thể hiện những tham vọng vừa nói, đặt cơ sở trên viễn kiến một Hoa kỳ với tham vọng đế quốc, có trách nhiệm, có thể, và luôn sẵn sàng giữ vai trò nòng cốt, áp đảo, quyết đoán mọi việc trong sinh hoạt thế giới. Di nhiên, tất cả các nước khác phải tiếp tục gánh chịu mọi bất trắc khủng hoảng kinh tế mà giờ đây họ không còn mấy khả năng kiểm soát. Chỉ riêng Hoa Kỳ là có đủ quyền đe dọa, hoặc dùng sức mạnh quân sự áp đảo của mình, để giải quyết vấn đề năng lượng ; để khống chế bất cứ xứ nào tìm cách gây –hoặc lợi dụng, khai thác — khủng hoảng năng lượng, hay có tiềm năng và ý đồ làm như thế.

Tất cả những điều trên đều không thoát khỏi tầm nhìn của các quan chức ôm mộng đon cực — những quan chức ra quyết định tiến chiếm Iraq. Hơn bất cứ cấp lãnh đạo chính quyền nào đi trước, họ sẵn sàng thực nghiệm, theo “kiểu sốc và kinh hoàng” (shock and awe style), một hình thức mới mẻ và táo bạo của chủ thuyết Carter trên khắp hành tinh. Theo O’Neill, trong phiên họp đầu của HĐANQG, Rumsfeld đã đưa ra viễn kiến theo đuổi những mục tiêu hoang đường trên đây. Ông ta nói :”Thử tưởng tượng vùng [Trung Đông] không có bóng dáng Saddam và với một chế độ đi theo quyền lợi của Hoa Kỳ sẽ như thế nào. Điều đó sẽ làm thay đổi mọi thứ trong vùng và mọi nơi khác”.

Một viễn kiến còn táo bạo, hoang đường hơn đã được David Frum – người chuyên viết diễn văn cho TT Bush — phát biểu với báo New York Times mấy ngày sau đó : “Một sự lật đổ Saddam Hussein do Hoa Kỳ lãnh đạo, và thay thế chế độ độc tài quá khích đảng Baath với một chính quyền mới khắng khít hơn với Hoa Kỳ, sẽ đặt Hoa Kỳ vào địa vị toàn quyền chi phối vùng Vịnh chặt chẽ hơn bất cứ cường quốc nào kể từ thời đế quốc Ottomans, hay ngay cả đế quốc La Mã trước đây “.

Trong khi số cầu năng lượng toàn cầu tăng vọt, Hoa Kỳ chỉ còn ba chính sách để lựa chọn :

(1) Cố gắng phối hợp những nguồn năng lượng thay thế với sự quản lý hữu hiệu để giảm thiểu hoặc loại bỏ một phần lớn số năng lượng nhập khẩu ;

(2) Chấp nhận lực đon bẩy khối OPEC đang thụ hưởng do số cũng không theo kịp số cầu, và cố gắng thương thảo để thủ đắc một phần vừa phải trong tổng số cung ngày một bất cập ;

(3) Hoặc sử dụng sức mạnh quân sự để cưởng chế các nguồn cung cấp dầu khí Trung Đông phải thỏa mãn nhu cầu của chính mình, phương hại cho phần còn lại của thế giới.

Khởi đầu với Jimmy Carter, năm vị Tổng Thống kế tiếp đã chọn chiến lược cưỡng chế, với George W. Bush là người cuối cùng đã quyết định phương cách thay đổi chế độ mang tính phòng ngừa và bạo động để mong thành đạt mục tiêu theo đuổi.

Cho đến nay, hai sự lựa chọn còn lại chưa có cơ hội thực nghiệm.

IV : Thay lời kết luận

Những phân tích trên đây cũng đủ cho thấy vai trò chiến lược của dầu khí trong các quan hệ quốc tế. Condoleezza Rice chỉ khám phá ra sự thật nầy sau khi đảm nhiệm chức vụ ngoại trưởng vào tháng giêng năm 2005. Trong dịp điều trần trước Ủy ban Ngoại giao Thượng viện tháng 4-2006, bà đã thổ lộ : “Trong cương vị Bộ trưởng Ngoại giao, không có gì làm tôi ngạc nhiên hơn là phương cách chính trị năng lượng biến thành một phương thế ngoại giao -tôi muốn dùng từ: “méo mó” – trên khắp thế giới”.

Lời tuyên bố từ cửa miệng một nguyên giám đốc công ty Chevron không những đáng kinh ngạc mà đồng thời đã phƠi bày sự thiếu hiểu biết về tầm quan trọng của dầu khí trong lịch sử ngoại giao của Hoa Kỳ.

Tháng 8-1945, khi tóm tắt tình hình sau đệ nhị thế chiến, một quan chức hàng đầu của Bộ Ngoại Giao đã viết : “Một sự rà soát lại chính sách ngoại giao trong 35 năm qua cho thấy dầu hỏa đã giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ hơn bất cứ một sản phẩm nào khác”. Lời trích dẫn nầy có thể bắt gặp trong nhiều sách giáo khoa môn lịch sử Hoa Kỳ.

Trong thực tế, Hoa Kỳ đã nổi tiếng như quốc gia đầu tiên luôn làm “méo mó”, đường lối ngoại giao, qua cách sử dụng dầu khí để theo đuổi các mục tiêu kinh tế, chính trị trên thế giới.

Trong suốt sáu thập kỷ đầu của thế kỷ 20, khi Hoa Kỳ còn là quốc gia sản xuất dầu khí hàng đầu, chính quyền Mỹ luôn sử dụng lá bài dầu lửa để đẩy mạnh quyền lợi quốc gia ở hải ngoại.

Đó là điều Hoa Kỳ đã làm khi gia nhập hàng ngũ phe đồng minh tháng 4-1917, vào lúc số dầu lửa sản xuất ở Hoa Kỳ chiếm đến 2/3 tổng số sản xuất trên thế giới. Ngoài đóng góp quân sự, Hoa Kỳ còn cung cấp 4/5 số cầu dầu lửa của phe đồng minh, và nhờ đó, đã giúp đem lại chiến thắng cho phe nầy.

Để đổi lại, sau chiến tranh, Hoa Kỳ đã buộc các đồng minh Anh, Pháp phải mở cửa châu Âu và các xứ thuộc địa Trung Đông (vùng có nhiều triển vọng dầu khí, nhất là Iran, ngay từ năm 1908, đã tìm được nhiều trữ lượng dầu khí) đón nhận các công ty Hoa Kỳ.

Trong đệ nhị thế chiến, sau khi nhập cuộc, Hoa Kỳ cũng đã triệt để khai thác tiềm năng dầu lửa của mình để hỗ trợ phe đồng minh. Vì vậy, trữ lượng khả dụng (proven reserves) của Hoa Kỳ đã cạn kiệt một cách nhanh chóng đáng ngại. Các nhà làm chính sách lúc đó đã phải hướng về Saudi Arabia — xứ đã tìm được nhiều trữ lượng dầu khí ngay từ năm 1938 — mở đầu cho quan hệ Hoa Thịnh Đốn-Riyadh ngày một khắng khít, tiếp diễn cho đến ngày nay.

Năm 1956, khi liên quân Anh-Pháp-Do Thái tiến chiếm Ai Cập, chính quyền Ai cập đã đóng cửa kênh đào Suez và làm gián đoạn nguồn cung cấp dầu lửa từ vùng Vịnh Ba Tư đến Tây Âu. Các xứ Tây Âu cầu cứu TT Dwight Eisenhower vì biết rõ các công ty dầu khí Hoa Kỳ có khả năng sản xuất thặng dư lối 4 triệu thùng mỗi ngày. nhưng Eisenhower từ chối. Lý do là Hoa Thịnh Đốn không hài lòng với hiệp ước đình chiến thiếu thỏa đáng do Liên Hiệp Quốc giàn xếp. Eisenhower buộc liên quân chiếm đóng phải rút khỏi Ai Cập. Vừa thiếu dầu trầm trọng, vừa phải đối diện với một mùa đông buốt gíá đang đến gần, Luân Đôn và Paris đành phải nhượng bộ và nhanh chóng rút quân.

Tuy nhiên, một khi sản xuất dầu lửa đã lên đỉnh điểm vào năm 1970 và từ đó ngày một sụt giảm, Hoa Thịnh Đốn đã phải lệ thuộc vào dầu nhập khẩu lúc một nhiều hơn – hiện khoảng 60% nhu cầu tiêu thụ quốc nội. Từ nay, Hoa kỳ không còn khả năng sử dụng dầu khí như một vũ khí ngoại giao như trước.

Trong bối cảnh đó, Hoa Thịnh Đốn cũng không nên vội vã lên án các cường quốc đang lên khi các xứ nầy chỉ ứng xử theo gương của Hoa Kỳ trong nhiều thập kỷ qua. Trong mọi trường hợp, Hoa Kỳ cũng không đủ sức để đơn phương trừng phạt các xứ đang hùa theo bầy “ác quỷ” để mưu cầu tiếp cận những nguồn cung cấp dầu khí vì lý do an sinh kinh tế.

Xét cho cùng, chính sự cạnh tranh kinh tế đã chi phối các luồng cung cầu năng lượng. Và Hoa Kỳ — một quốc gia luôn thuyết giảng thánh kinh các giá trị tu bản –cũng khó thể chống đối nguyên tắc tự do cạnh tranh trên thị trường, dù đó là thị trường năng lượng mang tính chiến lược.

Đã hẳn, Hoa Kỳ không phải là quốc gia duy nhất lệ thuộc vào những xứ cung cấp dầu đầy bất ổn. Âu châu, Nhật bản còn lệ thuộc vào dầu khí vùng Vịnh nhiều hơn. Trung Quốc, Ấn Độ — những cường quốc kinh tế đang lên — cũng cần năng lượng từ Trung Đông. Vì vậy, cạnh tranh quốc tế để giành quyền tiếp cận những nguồn dầu không mấy tin cẩn sẽ ngày một gay gắt hơn. Vấn đề càng trở nên phức tạp khi tổng số cung toàn thế giới vượt mức đỉnh điểm và bắt đầu tiệm giảm trong một tương lai chắc không quá xa.

Ở đây, tưởng cần nhấn mạnh, một lần nữa, tính hữu hạn của số cung dầu khí. Các nhà lãnh đạo các xứ giàu tài nguyên năng lượng, hiện đang thụ hưởng phồn thịnh và thế lực nhờ ở số thu nhập từ tài nguyên dầu khí, cũng nên ghi nhớ bài học lịch sử của Hoa Kỳ và thấy trước tương lai để tiên liệu cách ứng xử thích nghi khi số cung “vàng đen” tất yếu suy giảm, rất có thể trước khi nhân loại đón chào thế kỷ 22.

© GS Nguyễn Trường

Irvine, CA, USA

ngày 04-01-2008.

———————————————-

Chú Thích:

Bài viết, nhất là phần sử liệu và phân tích, đã dựa trên tác phẩm “Blood and Oil : The Dangers and Consequences of America’s Growing Dependency on Imported Petroleum” của Michael T. Klare, do Metropolitan Books xuất bản năm 2004,và First Owl Books, 2005. Độc giả,muốn hiểu rõ đề tài hơn, có thể tìm đọc tài liệu không thể thiếu nầy.

Michael T. Klare, đương kim giáo sư xã hội học đồng thời Giám Đốc sáng lập Trường Cao Đẳng Toàn Cầu Học thuộc Viện Đại Học Stony Brook University.

Sách Tham Khảo :

(1) Blood and Oil : The Dangers and Consequences of America’s Growing Dependency on Imported Petroleum, Michael T. Klare, Metropolitan Books, 2004.

(2) Resource Wars : The New Landscape of Global Conflict, Michael T. Klare, Holt Paperbacks, 2002.

(3) Blood of the Earth : the Battle for the World’s Vanishing Oil Resources, Philip Hiro, Nation Books, New York, 2007.

(4) Secrets and Lies : Operation “Iraqi Freedom” and After, Philip Hiro, Nation Books, New York, 2007.

 

©  http://vietsciences.orghttp://vietsciences.free.fr– Nguyễn Trường

Advertisements