Phóng thích, sám hối, trách nhiệm – Từ Lockerbie đến Mỹ Lai

Vietsciences- Nguyễn Trường     14/09/2009

 Những bài cùng tác giả

Hai tuần trước, phần nhân loại – lương tâm chưa bị chai sạn – lại thêm một lần trăn trở trước tin tức báo chí về hai vụ thảm sát ở Lockerbie và Mỹ Lai. Một phạm nhân vừa được phóng thích, tiếp tục quả quyết mình vô tội, bị Hoa Kỳ cực lực lên án trong khi được chính người đồng hương tiếp đón một cách trọng thể khi về đến quê hương. Phạm nhân thứ hai bày tỏ sự hối lỗi muộn màng sau 35 năm sinh sống tự do trong chính xứ sở của mình, chẳng hề bị ai quấy nhiễu.

 

Abdelbaset Ali Mohmed Al Megrahi

Khi Abdelbaset Ali Mohmed Al Megrahi  người Libya, bị kết án 27 năm tù năm 2001 vì tội cài bom khiến phi cơ của hãng Pan American, chuyến bay 103, nổ tung trên không phận Lockerbie, Scotland, năm 1988, được phóng thích vì lý do nhân đạo[1], phản ứng giận dữ đã bùng lên như đã được Charles Gibson ghi nhận trên Kênh ABC World News ngày 22-8-2009.

 

 

Phi cơ của hãng Pan American, chuyến bay 103, nổ tung trên không phận Lockerbie, Scotland, năm 1988

Mấy ngày sau, báo chí  tường thuật  lời xin lỗi của trung úy William Calley, người bị án tù chung thân năm 1971, vì tội tàn sát dân làng Mỹ Lai ở Việt Nam.

Trung úy William Calley

Khi al-Megrahi, sau tám năm tù tội, được chính quyền Scotland phóng thích, trở về Lybia và được tiếp đón như một anh hùng, các quan chức Hoa Thịnh Đốn đã tỏ ra hết sức thất vọng. Phát ngôn nhân Tòa Bạch Ốc, Robert Gibbs, cho đây là việc làm đáng tiếc và kinh tởm (outrageous and disgusting) trong khi T T Obama lại tỏ ra rất bất bình (highly objectionable).

 

al-Megrahi, sau tám năm tù tội, được chính quyền Scotland phóng thích, trở về Lybia và được tiếp đón như một anh hùng

Calley, hiện sinh sống ở Atlanta – mặc dù công nhận đã trực tiếp giết hại nhiều thường dân Việt Nam, nhưng  sau khi  được T T Richard Nixon can thiệp, chỉ bị quản thúc tại gia ba năm – đã được nhiệt liệt hoan hô tại câu lạc bộ Kiwanis Club of Greater Columbus, Georgia, thành phố nơi ông sinh sống từ sau chiến tranh Việt Nam. Khác với al-Megrahi, chẳng ai lên tiếng quấy rầy Calley, và cũng không ai buồn hỏi cảm tưởng của Robert Gibbs hay T T Obama.

 

Richard Nixon, Barack Obama, Robert Gibbs

Sự khác biệt trong phản ứng một phần có lẽ do yếu tố thời gian, và do sự hối lỗi của Calley, dù nhiều thập kỷ muộn màng, về sự thảm sát dã man hơn 500 thường dân [9]. Calley nói với cử tọa: “không một ngày nào trôi qua mà tôi không cảm thấy hối hận những gì đã xẩy ra ngày ấy ở Mỹ Lai. Tôi cảm thấy hối hận đối với những người Việt Nam đã bị giết, với gia đình họ, với các quân nhân Hoa Kỳ có dính líu đến nội vụ và gia đình của họ. Tôi rất lấy làm tiếc[2].

Riêng về phần mình, al-Megrahi, nay sắp phải vĩnh viễn ra đi vì ung thư, đã chấp nhận: thân nhân của 270 nạn nhân của vụ phi cơ lâm nạn ở Lockerbie “đã thù ghét tôi. Họ ứng xử như vậy là lẽ tự nhiên. ..Họ tin tôi có tội, cái tội trong thực tế tôi  không hề phạm. Một ngày nào đó, sự thật không còn bị che đậy như hiện nay. Người Á Rập chúng tôi có câu: Sự thật không bao giờ chết[3].

BIỆT LỆ HOA KỲ

Calley bị buộc tội về cái chết của 100 thường dân và kết án vì đã sát hại 22 người trong một làng quê Việt Nam trong khi al-Megrahi bị kết án về tội gây tử vong cho 270 thường dân trên một chuyến bay ở Lockerbie, Scotland.

Hầu như tất cả mọi người đều xem như một hành động sai lầm, đáng phỉ nhổ, hoặc trắng trợn, thiếu lương tâm, khi chính quyền Scotland đã cho phép một phạm nhân bị án giết người hàng loạt trở về quê và được tiếp đón nồng hậu.

Trong khi đó, không một ai nghĩ một tên giết người hàng loạt đã sống nhởn nhơ trong tự do ngay nơi quê hương xứ sở của mình trong bấy nhiêu năm là một điều trái luật pháp và đạo lý.

Gia đình các nạn nhân Lockerbie đều được tìm gặp và phỏng vấn đầy đủ. Khi Calley lên tiếng xin lỗi, không một phóng viên Mỹ nghĩ cần tìm kiếm gia đình các nạn nhân vụ Mỹ Lai lịch sử , nói gì đến việc hỏi xem họ nghĩ thế nào về lời xin lỗi muộn màng của tên sĩ quan tội phạm, người đã chỉ huy và đích thân  tàn sát thân nhân của họ và luôn được sống nhởn nhơ trong tự do.

Tạm quên đi phản ứng chính thức của các giới chức Hoa Kỳ đối với vụ al-Megrahi, sự thiếu vắng một lời bình luận về vụ Calley đã phơi bày một sự thật phũ phàng: người Mỹ từ lâu luôn dị ứng trước những tội ác của Hoa Kỳ đối với dân tộc Việt nam suốt trong cuộc chiến chấm dứt cách đây gần 35 năm. Từ đó, sự che giấu, từ vụ tàn sát nầy đến vụ tàn sát khác, đã lần lượt được lột trần và phô diễn cho bất cứ ai muốn tìm hiểu sự thật. Thử đơn cử một vài sự kiện. Chẳng hạn, vụ tàn sát dân thường ở làng Thanh Phong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, bởi Bob Kerrey, về sau là Nghị Sĩ Liên Bang, và đội người nhái SEAL dưới quyền (như đã được phơi bày trên New York Times Magazine và CBS News năm 2001); một loạt tội ác (gồm tàn sát, tra tấn, và cắt bỏ từng phần cơ thể) đối với hàng trăm nạn nhân dân sự, phần lớn ở Quảng Ngải, bởi một đơn vị ưu tú  Hoa Kỳ, Tiger Force (báo Toledo Blade năm 2003); 7 vụ tàn sát, 78 vụ tấn công thường dân, và 141 vụ tra tấn, và nhiều tội ác khác  (Los Angeles Times năm 2006); vụ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ thảm sát dân thường ở Ấp Lệ Bắc tỉnh Quảng Nam (tạp chí In These Times năm 2008); và vụ tàn sát hàng nghìn thường dân ở Đồng Bằng Sông Cửu Long trong chiến dịch Speedy Express (tạp chí The Nation năm 2008).

Nói chung, trong thập kỷ vừa qua, nhiều sự thật kinh hoàng dồn dập về Việt Nam – từ lâu được che đậy – cho thấy vụ tàn sát Mỹ Lai không phải là một sự kiện riêng lẻ, và nhiều cựu quân nhân Hoa Kỳ từ lâu đã luôn sống với nhiều ký ức không mấy khác William Calley.

 

 

 

 

Nếu chúng ta nhớ lại những gì đã thực sự xẩy ra ở Mỹ Lai, lời xin lỗi muộn màng hơn 40 năm sau của Calley nghe thật trống rỗng, vô cảm, và vô nghĩa. Không những hơn 500 dân làng, không phương tiện tự vệ, đã bị Calley và khoảng 100 binh sĩ dưới quyền truy lùng và sát hại không chút nương tay ngày 16-3-1968, mà còn nhiều đàn bà, gái nhỏ  bị hãm hiếp tàn nhẫn, bị phân thây, nhà cửa bị thiêu rụi, gia súc bị giết hại, làng mạc bị san bằng. Nhiều thường dân bị bắn chết bên cạnh hay ngay trong hầm trú ẩn. Nhiều đàn bà với em bé trên tay, nhiều bà mẹ dùng thân che chở những đứa con bé dại bị súng liên thanh hạ sát chồng chất lên nhau. Nhiều em bé, ngay cả trẻ sơ sinh, bị hạ sát không chút ngập ngừng. Nhiều người bị thảm sát dọc những mương rãnh dẫn nước vào ruộng đồng…

Chỉ riêng Calley bị kêu án chung thân khổ sai. Nhưng trong thực tế, Calley chỉ bị giữ ba ngày trong phòng giam quân đội trước khi T T Richard Nixon can thiệp và được đưa đến một căn nhà dành cho người độc thân, nơi đây Calley được bạn gái đến thăm đều đặn, chế tạo các máy bay kiểu mẫu chạy bằng gas, và nuôi gia súc. Đến cuối năm 1974, Calley được trả tự do hoàn toàn. Những tháng năm sau đó, Calley đã đi nói chuyện với sinh viên các trường cao đẳng và được trả 20.000 USD mỗi lần, cưới con gái một chủ tiệm kim hoàn ở Columbus, Georgia, làm việc tại đây trong nhiều năm chẳng bị ai quấy nhiễu. Mãi cho đến nay, Calley luôn giữ im lặng, và mặc dù đã có nhiều cơ hội, chẳng hề hé môi mảy may sám hối.

Dù sao, sự ân hận muộn màng của Calley cũng chứng tỏ một chút ý thức trách nhiệm trong khi các cấp trên của ông, từ đại úy đại đội trưởng Ernest Medina lên đến Tổng Thống Tổng Tư Lệnh Quân Đội Lyndon Johnson, chưa bao giờ có đủ can đảm đứng ra nhận lãnh trách nhiệm.

 

Ernest Medina,  Lyndon Johnson, Robert McNamara

Gần đây, khi Robert McNamara, Bộ Trưởng Quốc Phòng thời Lyndon Johnson, từ trần ngày 6-7-2009, người đã từ bỏ mọi biện minh cho cuộc chiến Việt Nam của chính mình (chúng ta đã sai lầm, sai lầm ghê gớm), Jonathan Schell đã đặt câu hỏi:

Có bao nhiêu quan chức cùng tầm cỡ với McNamara đã tỏ ra chút ăn năn về những lỗi lầm, những điên cuồng và những tội ác của họ? Trong khi nhiều thập kỷ của thế kỷ 20 lần lượt trôi qua, những gò đống thây ma chồng chất ngày một cao, cao hơn, cao tít trời xanh, và nay một lần nữa lại chồng chất trong thế kỷ mới, nhưng  có bao nhiêu người quyền cao chức trọng , những vị gây ra những tội ác đó, đã bao giờ nói lên “Tôi đã phạm sai lầm“, hay ‘Tôi đã sai lầm ghê gớm‘, hay đã bao giờ rơi nước mắt ăn năn về hành động của chính mình? Tôi chỉ thấy: một người – Robert McNamara”[4].

Vì lẽ Hoa Kỳ chưa bao giờ nhìn nhận trách nhiệm về tầm cỡ các thương vong và khổ đau gây ra ở Đông Nam Á trong những năm chiến tranh, và lời sám hối muộn màng của McNamara chỉ đến sau nhiều thập kỷ, McNamara chưa bao giờ  được xem như tội phạm chiến tranh, mặc dù ông, cũng như các lãnh đạo dân sự vŕ quân sự của Hoa Kỳ thời đó, lẽ ra đã phải gánh chịu trách nhiệm về thảm  trạng tắm máu ở Việt Nam, một trách nhiệm thập phần lớn lao hơn Calley – một sĩ quan cấp thấp.

ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG –  LÒ SÁT SANH

 

Thảm sát tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

 

Julian Ewell

Vài tuần sau khi McNamara từ trần, Julian Ewell, một tướng lãnh đã hai lần giữ  vai trò tư lệnh quan trọng ở Việt Nam, cũng qua đời. Trong nhiều năm, bóng ma tội ác luôn vây quanh ông, nhưng chỉ trong một cộng đồng chọn lọc các cựu quân nhân và các sử gia nghiên cứu chiến tranh Việt Nam. Năm 1971, Kevin Buckley và Alex Shimkin, tạp chí Newsweek, đã mở một cuộc điều tra rộng lớn về thành tích quân sự của Ewell –  cuộc hành quân Speedy Express kéo dài  sáu tháng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long –  và đã thu lượm được bằng chứng của nhiều vụ tàn sát thường dân rộng lớn. Một viên chức Mỹ đã cho Buckley biết, trình độ kinh tởm còn ghê rợn hơn cả Mỹ Lai nhiều lần. Nhưng…số thường dân bị sát hại chỉ được biết dần hồi qua thời gian, phần lớn diễn ra trong đêm tối và do oanh kích. Và tất cả đều “do lệnh các cấp chỉ huy luôn chờ đợi đếm được nhiều xác thù”[5].

 Khi tin tức về bài báo sắp tới của tạp chí Newsweek lọt ra bên ngoài, John Paul Vann, một đại tá hồi hưu lúc bấy giờ là nhân vật quyền lực số ba ở Việt Nam, và phụ tá của ông, Đại Tá David Farnham, được triệu về Hoa Thịnh Đốn họp với Tổng  Tham Mưu Quân Đội, Tướng William Westmoreland. Trong cuộc họp, John Paul Vann cho Westmoreland biết, quân sĩ dưới quyền Ewell đã tàn sát thường dân một cách vô nhân đạo , nhằm nâng cao số tử vong của kẻ thù như một chỉ dấu quan trọng của sự thành công trên chiến trường, cũng như để lấy tiếng và thăng tiến trong binh nghiệp. Theo Farnham, Vann nói, Speedy Express, trong thực tế, là chiến dịch “nhiều Mỹ Lai”[6] ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.

 

William Westmoreland, Hugh Thompson

Nỗ lực che đậy của Ngũ Giác Đài, cũng như ý muốn của Newsweek tránh gây thêm bối rối cho chính quyền Nixon sau vụ Mỹ Lai, đã giấu nhẹm phần lớn kết quả cuộc điều tra  đầy chi tiết của Kevin Buckley và Alex Shimkin . Ấn bản bài viết bị cắt xén đã giúp Ngũ Giác Đài vượt qua công luận chống đối mà không phải mở điều tra chính thức tương tự cuộc điều tra sâu rộng tiếp theo sau vụ tàn sát bị tiết lộ ở Mỹ Lai. Phải đợi đến năm 2008, một số kết quả cuộc điều tra của báo Newsweek bị cắt xén cũng như  những bằng  chứng mới về các cuộc tàn sát và che giấu mới được phơi bày trên tạp chí The Nation. Và chỉ sau khi Ewell từ trần, báo Washington Post mới đăng tải phúc trình chính thức của cuộc điều tra, từ lâu được giữ bí mật, của quân đội – một thủ tục pháp lý tiếp theo sau cuộc điều tra của Buckley và Shimkin. Cuộc điều tra đã đi đến kết luận:

Trong khi thật khó lòng thẩm định một cách chính xác con số thường dân thương vong trong chiến dịch Speedy Express của quân đội Hoa Kỳ, trong thực tế, con số tử vong hình như khá quan trọng, và người ta có thể xây dựng một vụ, với cơ sở khá chắc chắn, chứng tỏ con số thường dân thương vong có thể lên tới vài nghìn (từ 5.000 đến7.000)”[7].

Một năm sau khi bài báo bị cắt xén của Buckley-Shimkin được xuất bản, Ewell về hưu trí. Đại tá Farnham tin, Ewell đã bị cho nghỉ hưu sớm vì quân đội luôn âu lo một vụ scandal. Nếu quả thật như vậy, đây là hình thức chế tài chính thức duy nhất Farnham được biết, một hình phạt quá nhẹ nhàng so với al-Megrahi, và ngay cả Calley. Đã hẳn,  Ewell phải chịu trách nhiệm về số thường dân thương vong lớn hơn rất nhiều. Khỏi phải nói, các vụ tàn sát thường dân của Ewell chưa bao giờ được đưa lên truyền hình, và cũng không một Tổng Thống nào lên tiếng tỏ thái độ trước công luận về tương lai Tướng Ewell, dù chỉ đối với các quyền lợi quân sự dành cho  ông,  nói gì đến khả năng của Ewell sống yên lành bên cạnh gia đình. Trong thực tế,  sau lễ cầu nguyện, Ewell đã được mai táng với đầy đủ danh dự và lễ nghi quân cách tại nghĩa trang quốc gia Arlington National Cemetery.

CHỈ HUY, LÃNH ĐẠO VÀ TRÁCH NHIỆM

Trong lần nói chuyện gần đây, William Calley nhấn mạnh ông chỉ tuân hành lệnh các  cấp  trên ở Mỹ Lai, điều ông luôn lặp đi lặp lại. Cuộc điều tra của quân đội – được chính thức phát động theo đúng thủ tục pháp lý tiếp theo sau cuộc điều tra Buckley và Shimkin – liên hệ đến 45 quân nhân nghi phạm trong đại đội dưới quyền Medina, kể cả Calley. Cuộc điều tra thứ hai tập trung vào 30 quân nhân dính líu đến việc che giấu những gì đã thực sự xẩy ra ở Mỹ Lai: “chểnh mảng trong quân vụ” hoặc “ban lệnh khi chỉ huy” (omissions or commissions). Trong số nầy có 28 sĩ quan và 2 tướng lãnh. Toàn nhóm 30 người đều bị buộc tội như những nghi phạm trong 224 vụ. Tuy nhiên, chỉ một mình Calley bị kết án trong vụ Mỹ Lai. Rút cuộc, ngay cả Calley cũng tránh khỏi bất cứ hình phạt đáng kể nào vì tội phạm của mình.

Mặc dù một cơ hội đã bị đánh mất trong kỷ nguyên Chiến Tranh Việt Nam, hành động xin lỗi của Calley và phản ứng trước vụ phóng thích al-Megrahi đã đem lại một cơ may khác cho Hoa Kỳ rà soát lại lương tâm một cách đứng đắn trong tư thế một siêu cường có tinh thần trách nhiệm. Khi suy gẫm về sự sám hối nhiều thập kỷ muộn màng của Calley, người Mỹ có thể tự hỏi vì sao lại có thái độ phân biệt ứng xử  (double standard) trước sự kiện tàn sát hàng loạt. Tưởng chúng ta cũng nên hỏi tại sao chỉ một vài cá nhân – một sĩ quan tình báo Libya trước đây hay, trong những trạng huống họa hoằn hơn, một sĩ quan bộ binh cấp thấp Hoa Kỳ – lại được chọn làm vật tế thần đứng ra gánh chịu các tội phạm chống lại nhân loại tầy đình, trong khi người phải chịu trách nhiệm lớn lao nầy rõ ràng là những cấp lãnh đạo trên cao; và tại sao các tướng lãnh trong dây chuyền chỉ huy và lãnh đạo, những vị có trách nhiệm điều hành chiến tranh  – ở Hoa Thịnh Đốn hay Tripoli – thoát khỏi mọi trừng phạt trong khi chính bàn tay của họ đã vấy máu của dân lành. Thật không may, cơ hội nầy chắc rồi cũng sẽ bị phung phí.

Trong cùng một suy nghĩ, có lẽ người Mỹ chắc cũng không chiêm nghiệm một cách nghiêm chỉnh làm sao số đông người Mỹ sống bên cạnh Calley trong nhiều thập kỷ vừa qua đã không lên tiếng đòi công lý.

Calley và các sĩ quan đồng đội – từ Donald Reh ( dính líu trong vụ tàn sát 19 thường dân – phần lớn đàn bà và trẻ con – trong các vụ tàn sát tháng 2-1968) đến Bob Kerrey – vẫn tiếp tục cuộc sống yên lành không hề bị đưa ra trước tòa án binh (court martial), nói gì đến tù tội như trường hợp al-Megrahi.

Sau khi Calley sám hối, một ký giả AFP (Agence France Presse) –  không phải phóng viên Mỹ – nghĩ cần phải phỏng vấn những người còn sống sót hay thân nhân các nạn nhân trong vụ tàn sát ở Mỹ Lai để tìm hiểu cảm nghĩ của họ. Khi ký giả AFP nói chuyện với Phạm Thành Công, người đã chứng kiến mẹ và các anh em bị tàn sát ở Mỹ Lai (nay đang điều hành một bảo tàng nhỏ trong làng), và hỏi cảm nghĩ của anh về lời xin lỗi của Calley, Công trả lời: “Có thể giờ đây anh ta đã sám hối về tội ác và lỗi lầm đã phạm 40 năm trước đây[8]. Rất có thể.

Ngày nay, một số đồng phạm của Calley – những người, phần lớn chẳng ai biết, đã phạm tội ác ở Việt Nam, và chưa bao giờ phải đối mặt với công lý về tội ác của chính mình – đang sống nhởn nhơ trong các thành phố, các vùng ngoại ô của Mỹ. Nhiều người khác đã phạm tội ác trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, và vẫn đang tiếp tục…  Sự giận dữ trước sự kiện phóng thích can phạm duy nhất bị kết án vì hành vi khủng bố trong chuyến bay 103 của hãng Pan Am trên không phận Lockerbie, Scotland, vì vậy, đang đồng vọng một cách lạc lõng, vô cảm, và vô nghĩa.

Thái độ thờ ơ không đòi hỏi một lối ứng xử chân thành trước những đau thương tang tóc người Mỹ đã gây ra cho dân tộc Việt Nam và thái độ bàng quan trước các nhân chứng vật chứng, của các vụ tàn sát, đổ vỡ, hủy diệt, các thương tổn vật chất và tinh thần, vẫn luôn tồn tại như một di sản dài lâu của cuộc chiến Việt Nam. Vết thương chiến tranh vẫn còn đó ngày nào nhân dân Mỹ chưa sẵn sàng làm những gì các cấp lãnh đạo quân sự và dân sự Hoa Kỳ trong hơn 40 năm qua vẫn chưa đủ can  đảm để bắt đầu: nhận trách nhiệm về những tang tóc, khổ đau, đổ nát Hoa Kỳ đã gây ra cho dân tộc Việt Nam và khởi động quá trình hàn gắn.

Ở đây, một điều đáng buồn tưởng cần được ghi nhận: chừng nào năm cường quốc nguyên tử, thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, còn tìm cách định hình và áp đặt một trật tự thế giới  – từ các chiêu bài, các khẩu hiệu về hòa bình, thịnh vượng, công bằng… cho đến tự do, dân chủ, nhân quyền … trên khắp hành tinh – theo đúng quyền lợi của mình, những đòi hỏi hay ước mơ nói trên cũng vẫn chỉ là những đòi hỏi hay ước mơ.

Ngay cả số phận của hơn 300 triệu công dân của chính siêu cường duy nhất cũng vẫn còn nằm trọn trong tay tập đoàn quân sự kỹ nghệ! Và trong nhóm năm thành viên thường trực HĐBA-LHQ, Hoa Kỳ vẫn luôn là một biệt lệ lớn lao.

© GS Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

07-9-2009

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Bài viết là một biên khảo phần lớn căn cứ trên tài liệu của Nick Turse, và các sách báo tham khảo liệt kê dưới đây:

1.  The War Behind Me: Vietnam Veterans Confront the Truth about US War Crimes, Deborak Nelson, Basic Books,11-2008.

2. The Cpmplex: How the Military Invades Our Everyday Lives, Nick Turse, Metropolitan Books, 2009.

3.  A People’s History of the Vietnam War, Howard Zinn, Bookmarks, London, 2001; New Press, New York, 2003.

4.  Magazines: The Economist; The Nation.

 


[1] …on compassionate  grounds.

[2] There is not a day that goes by that I do not feel remorse for what happened that day in Mỹ Lai. I feel remorse for the Vietnamese who were killed, for their families, for the American soldiers involved and their families. I am very sorry.

[3] … relatives of the 270 victims of the Lockerbie bombing “have hatred for me. It’s natural to behave like this… They believe I’m guilty, which in reality I’m not. One day, the truth won’t be hiding as it is now. We have an Arab saying: The truth never dies”.

[4] “[H]ow many public figures of his importance have ever expressed any regret at all for their mistakes and follies and crimes? As the decades of the twentieth century rolled by, the heaps of corpses towered, ever higher, up to the skies, and now they pile up again in the new century, but how many of those in high office who have made these things happen have ever said, ‘I made a mistake,’ or ‘I was terribly wrong,’ or shed a tear over their actions? I come up with: one, Robert McNamara.”

[5] …command’s insistence on high body counts.

[6] …”many Mỹ Lais”.

[7]  “[W]hile there appears to be no means of determining the precise number of civilian casualties incurred by US forces during Operation Speedy Express, it would appear that the extent of these casualties was in fact substantial, and that a fairly solid case can be constructed to show that civilian casualties may have amounted to several thousand (between 5.000 and 7.000).

[8] Maybe he has now repented for his crimes and his mistakes committed more than 40 years ago.

[9] Danh sách 504 nạn nhân:

Tên của những người đã chết có ghi bên cạnh tuổi và giới tính. Trong số 504 nạn nhân, có 50 trẻ em từ ba tuổi trở xuống, 69 trẻ từ bốn đến bảy tuổi, 91 trẻ từ tám và mười hai tuổi, và 27 người từ bảy mươi đến tám mươi. Danh sách này được Đại sứ quán Việt Nam tại Washington, DC cung cấp để theo lời yêu cầu của Trent Angers, tác giả của Người anh hùng của Mỹ Lai (The Hero of Mỹ Lai): truyện của Hugh Thompson

 

©  http://vietsciences.orghttp://vietsciences.free.fr– Nguyễn Trường

Advertisements