Quan hệ Mỹ-Iraq: đối nghịch và lệ thuộc

Vietsciences- Nguyễn Trường            04/09/2009

 Những bài cùng tác giả               

   

Dầu khí luôn là trung tâm của mọi sinh hoạt ở Iraq hiện nay. Ngay cả sự hiện hữu của một Iraq thống nhất tự nó đã là một sản phẩm của dầu khí.

Năm 1920, dưới sự bảo trợ của Hội Quốc Liên – League of Nations, Anh quốc đã cóp nhặt ba tỉnh Ottoman để tạo lập Vương Quốc Iraq. Đó là Basra, Baghdad, và Mosul. Mục tiêu là để khai thác tập đoàn Turkish Petroleum Company, tiền thân của Iraq Petroleum Company – IPC. Về sau, giới lãnh đạo Iraq có tinh thần quốc gia và Đảng Baath của Saddam Hussein đã quốc hữu hóa IPC, và từ đó, đã phải liên tục đương đầu với thái độ thù nghịch của Anh và Mỹ. Hussein đã tưởng thưởng các đồng minh Sunni trong đảng Baath qua việc bổ nhiệm họ vào những chức vụ quyền lực trong công ty, một lý do đưa đến quá trình rạn nứt nguy hiểm với phái Shiite đa số ở Iraq. Và lịch sử cận đại của Iraq đã được định hình bởi tác động của dầu khí.

                   Đã hẳn Iraq là một trong số các quốc gia giàu năng lượng trên thế giới. Theo British Petroleum – BP, Iraq có một trữ lượng dầu được kiểm chứng 115 tỉ thùng (barrels), chỉ đứng sau Iran với 138 tỉ và Saudi Arabia 264 tỉ. Tuy nhiên, theo nhiều nhà phân tích, tiềm năng dầu khí Iraq chưa được thăm dò đúng mức, và nếu sử dụng kỹ thuật thăm dò hiện đại, sẽ có thể tìm thêm được một số dự trữ  từ 45 đến 100 tỉ thùng. Nếu tất cả số dự trữ đã được kiểm chứng và có thể tìm thấy được khai thác đầy đủ, Iraq có thể cung ứng thêm cho thế giới từ 6 đến 8 triệu thùng mỗi ngày, như vậy, sẽ giúp đẩy lùi đỉnh điểm sản xuất toàn cầu trước khi bắt đầu tiệm giảm.

DƯỚI THỜI T T GEORGE W. BUSH

 

Donald Rumsfeld , Richard Bruce (= Dick) Cheney

 Khi George W. Bush bắt đầu nhiệm kỳ Tổng Thống năm 2000, Donald Rumsfeld hăm hở loan báo viễn kiến đầy tham vọng đối với Vùng Trung Đông. Trong phiên họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, Rumsfeld tuyên bố: :”Thử tưởng tượng vùng [Trung Đông] không có bóng dáng Saddam và với một chế độ sẵn sàng đi theo quyền lợi của Hoa Kỳ sẽ như thế nào. Điều đó sẽ làm thay đổi mọi thứ trong vùng và mọi nơi khác”[1].

David Frum , Nouri al-Maliki, Charles Ries

Một viễn kiến  còn táo bạo , hoang đường hơn, đã được David Frum – người chuyên viết diễn văn cho TT Bush – phát biểu với báo New York Times mấy ngày sau đó : “Một sự lật đổ Saddam Hussein do Hoa Kỳ lãnh đạo , và thay thế chế độ độc tài quá khích đảng Baath với một chính quyền mới khắng khít hơn với Hoa Kỳ , sẽ đặt Hoa Kỳ vào địa vị toàn quyền chi phối vùng Vịnh chặt chẽ hơn bất cứ cường quốc nào kể từ thời đế quốc Ottomans , hay ngay cả đế quốc La Mã trước đây”[2].

Ngày 1-5-2003,  trên chiến hạm USS Abraham Lincoln, T T Bush tuyên bố “các chiến dịch lớn…đã chấm dứt”. Từ đó,  các lời tuyên bố phấn khởi kiểu Rumsfeld xìu xẹp dần bởi các diễn tiến bất lợi trên chiến trường Iraq. Dù thất vọng đến đâu, các quan chức trong chính quyền Mỹ vẫn không từ bỏ tham vọng lớn lao lúc ban đầu. Hoa Thịnh Đốn vẫn luôn tìm cách áp đặt một chính quyền sẵn sàng hợp tác trong nỗ lực củng cố địa vị bá chủ của Hoa Kỳ ở Trung Đông.

Tuy nhiên, mặc dù với đợt tăng quân 2007, và mức độ bạo động có phần giảm bớt trong năm cuối nhiệm kỳ, chính quyền Bush vẫn khoa trương chiến lược mới của mình đang trên đà chiến thắng. Trong cùng thời gian, có nhiều dấu hiệu cho thấy chính quyền Iraq, dưới sự lãnh đạo của Thủ Tướng Nouri al-Maliki, trong trường kỳ, chẳng mấy trung thành với quyền lợi của Hoa Kỳ. Trong thực tế, chúng ta có thể thấy rõ thời điểm thay đổi chính sách – khi nỗ lực khống chế Trung Đông của Hoa Thịnh Đốn dứt khoát khó thể duy trì.

Nhà nước khách hàng –  do chính quyền Bush đã dành nhiều năm và nhiều tỉ đô la tạo lập, nuôi dưỡng, và bảo vệ – ngày một tỏ ra thiếu trung tín, cũng như có khuynh hướng và động lực đi theo đường lối riêng của mình. Dưới áp lực chính trị nội bộ, Maliki đã khởi sự theo đuổi xu thế mang tính quốc gia, đặc biệt trong hai địa hạt: chính sách chiếm đóng của Mỹ và tương lai dầu khí của Iraq. Trong chiều hướng nầy, al-Miliki đã liên tục tìm cách tách khỏi chính quyền Bush và thiết lập quan hệ thân thiện, nếu không công khai đồng minh, với các xứ đối nghịch với Hoa Thịnh Đốn, kể cả Iran.

CHÍNH SÁCH RÚT QUÂN CỦA MỸ

Biểu tượng bi hài nhất của khuynh hướng độc lập mới mẻ nầy là việc chính quyền Iraq chống đối đề nghị của Hoa Thịnh Đốn  về Thỏa Ước Qui Chế Quân Đội – status of forces agreement (SOFA) – chấp thuận sự hiện diện quân sự thường trực và không hạn chế  của Mỹ ở Iraq.

Với Nghị Quyết LHQ đem lại tính chính đáng cho sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Iraq sắp mãn hạn, việc thương thuyết  SOFA trở nên thiết yếu. Cuộc thương thảo bắt đầu với đề nghị phản ảnh tham vọng của Hoa Thịnh Đốn – dùng Iraq làm căn cứ giúp Hoa Kỳ hoàn toàn kiểm soát vùng Trung Đông. Cốt lõi của SOFA, lần đầu tiên được tiết lộ cho báo chí vào tháng 6-2008, là chiếm đóng lãnh thổ Iraq bằng một hiệp ước không mấy khác chế độ thuộc địa thế kỷ 19:

1. Không hạn chế số quân và thời gian chiếm đóng trong 58 căn cứ do Hoa Kỳ lựa chọn.

2. Nhà cầm quyền quân sự và dân sự Mỹ có quyền sử dụng lãnh thổ Iraq để tấn công các xứ láng giềng của Iraq không cần chính phủ Iraq cho phép.

3. Hoa Kỳ được quyền kiểm soát không phận Iraq cho đến cao độ 30.000 feet; không lực Mỹ được quyền dùng không phận Iraq vào các phi vụ tấn công các mục tiêu bên trong Iraq, hay quá cảnh để  tấn công các xứ khác.

 4. Các nhà thầu quân sự hay tư nhân Mỹ không thuộc thẩm quyền tài phán Iraq, ngay cả đối với các hành động không liên hệ tới trách nhiệm quân sự.

5. Các bộ quốc phòng, nội vụ, và an ninh quốc gia Iraq, kể cả việc tậu mãi vũ khí, phải chịu quyền giám sát của Hoa Kỳ trong vòng 10 năm.

Khi bị tiết lộ, rõ ràng do các viên chức thương thảo Iraq, đề xuất đã gặp sự chống đối của chính giới Iraq, từ quốc hội đến dân thường. Đề xuất cũng bị ngay cả lãnh tụ tôn giáo tối cao phái Shiite, Grand Ayatollah Ali al-Sistani, lãnh tụ quyền lực nhất, tố cáo. Sau đó chẳng bao lâu, thủ tướng Maliki cũng tuyên bố bác bỏ đề xuất, khởi động một quá trình thương thảo hỗn loạn theo đó người Iraq nhất quyết chỉ  chấp nhận một sự hiện diện khiêm tốn, có hạn kỳ, cũng như một hạn chót nhất định để rút quân – một phản đề nghị trái ngược với lập trường của chính quyền Bush.

Tháng 8-2008, khi các chi tiết đề xuất mới bắt đầu bị tiết lộ, người ta được biết các nhà thương thuyết Mỹ đã phải nhượng bộ nhiều điểm quan trọng. Theo các viên chức Iraq trong cuộc, bản dự thảo thỏa hiệp mới đòi hỏi quân Mỹ phải triệt thoái toàn bộ ra khỏi các thành phố, nơi thường xảy ra các cuộc đụng độ, vào cuối tháng 6-2009. Tất cả quân đội Mỹ – không phải chỉ quân tác chiến  – sẽ phải triệt thoái vào cuối năm 2011.

Nếu bản dự thảo vừa tiết lộ được đem ra thi hành, Hoa Kỳ sẽ phải bỏ lại 58 căn cứ , kể cả 5 căn cứ khổng lồ lâu dài (five massive enduring bases) chính quyền Bush đã phải bỏ ra hàng tỉ mỹ kim để xây cất. Hơn nữa, địa bàn hoạt động cũng bị hạn chế rất nhiều: Hoa Kỳ không được quyền tấn công các nước khác từ Iraq, khả năng phát động các chiến dịch bên trong Iraq cũng bị hạn chế, và miễn trừ tài phán chỉ dành cho nhân viên quân sự khi tham gia các chiến dịch đã được chấp thuận trước. Các khoản dự liệu trong thỏa ước mới là kết quả mặc cả giữa hai phía. Ngoại trưởng Condoleezza Rice tuyên bố dự thảo có thể chấp nhận được , và giải thích một cách lúng túng thời hạn  rút quân – không phải là một nhật kỳ nhất định từ lâu đã bị phía Mỹ cương quyết từ chối – chỉ là một “kỳ hạn mong ước” (an aspirational time horizon) tùy thuộc ở “điều kiện” (conditions) thực tế ở Iraq.

Trong một phản ứng trước làn sóng chống đối mãnh liệt của dân Iraq đối với những nhận xét của Rice, Maliki lập tức tuyên bố thỏa ước không thể chấp nhận được trừ phi hạn chót rút quân phải được ấn định chắc chắn và vô điều kiện. Trong một bài diễn văn, được phổ biến rộng rãi, trước giới lãnh đạo các bộ lạc, Maliki nói: bất cứ thỏa ước nào cũng phải cơ sở trên nguyên tắc “không một quân nhân nước ngoài nào được lưu lại Iraq sau một nhật kỳ định trước, không phải một khung thời gian mở rộng”[3]. Để làm rõ hơn ý của Maliki, một phụ tá thân cận đã cho Associated Press biết thêm, ” Quân đội Mỹ cuối cùng phải rời Iraq vào cuối năm 2011, bất kể điều kiện lúc đó như thế nào”[4].

Theo tin tức báo chí, một đợt thương thảo bí mật sau đó đã phục hồi một số đòi hỏi của người Mỹ, kể cả điều khoản quân đội Mỹ (ngoại trừ các lính đánh thuê) không thuộc thẩm quyền tài phán của Iraq, và hạn chót rút quân chỉ áp dụng cho quân tác chiến. Những nhượng bộ nầy của Maliki chắc chắn sẽ đưa tới một đợt phản đối và đề kháng mới trên đường phố và trong quốc hội.

Dù kết quả sau cùng ra sao, những cuộc thương thảo dở dang cho thấy một khía cạnh mới lạ trong quan hệ giữa hai chính phủ. Cho đến một ngày gần đây, giới lãnh đạo Iraq luôn tìm cách thực thi các chính sách của chính quyền Bush. Với thỏa ước SOFA, lập trường nầy đã cáo chung, vì sự chống đối các đòi hỏi của Hoa Thịnh Đốn. Với một sự hiện diện quân sự hùng mạnh, 146.000 quân, trên lãnh thổ Iraq, Hoa Thịnh Đốn chắc sẽ thắng ít ra một vài hiệp đối đầu, nhưng điều chúng ta có thể thấy trước: giấc mơ một chế độ gắn liền với chính sách của Hoa Kỳ vẫn chỉ là một giấc mơ.

DẦU KHÍ VÀ CHỦ NGHĨA QUỐC GIA

Chính sách dầu khí đã phản ảnh trung thực  lập trường mới trên đây. Ngay từ khi chiếm đóng Iraq, chính quyền Bush đã tìm cách tăng gấp bốn số dầu sản xuất, qua việc chuyển quyền kiểm soát kỹ nghệ dầu cho các đại công ty đa quốc gia. các nhà làm chính sách ở Hoa Thịnh Đốn tin, một khi được toàn quyền hành động, các đại công ty sẽ tung tiền đầu tư canh tân hạ tầng cơ sở sản xuất, sử dụng các kỹ thuật hiện đại nhất để khai thác các khu dự trữ dầu đang nằm chờ, cũng như thăm dò và khai thác các khu dầu mới.

Cho đến năm 2007, chính quyền Iraq đã tích cực ủng hộ các chính sách nầy, mặc dù đại đa số dân Iraq – kể cả các nghiệp đoàn công nhân kỹ nghệ dầu hùng mạnh, giới lãnh đạo tôn giáo, và đa số quốc hội – đã kịch liệt chống đối, đòi hỏi chính quyền Iraq phải nắm quyền kiểm soát. Năm 2004, chính quyền Iraq do người Mỹ chỉ định đã hăm hở thỏa hiệp với Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế – IMF – trao quyền khai thác các khu dự trữ dầu quan trọng của Iraq cho các đại công ty dầu quốc tế. Khi các công ty nầy nhận thấy cơ sở pháp lý bảo đảm đầu tư còn quá chênh vênh, chính quyền Iraq lập tức soạn thảo luật dầu khí đem lại một nền tảng vững chắc cho đầu tư ngoại quốc. Trong lúc chờ đợi, theo khuyến cáo bán chính thức của các công ty dầu, các kỹ thuật gia các công ty được cử giữ trách nhiệm nhiều tác vụ kỹ sư khác nhau ở Iraq.

Năm 2007, sau khi dự thảo luật dầu khí cuối cùng đã được chuyển qua quốc hội, dự thảo liên tục gặp sự chống đối. Các nghiệp đoàn công nhân dầu khí  lập tức phát động một phong trào đề kháng dữ dội chận đứng dự luật.

Tuy vậy, chính quyền Bush vẫn quyết tâm gây áp lực thông qua dự thảo luật. Họ không tiên liệu chính quyền Maliki cũng đã trở thành một nguồn chống đối mới. Charles Ries, trước khi rời chức vụ Đại Sứ Kinh Tế Hoa Kỳ ở Iraq tháng 8-2008,  sau một năm đầy thất bại, đã tuyên bố với báo chí: “Khi mới đến đây…tôi rất lạc quan, cả nghĩ,  chỉ cần một hay hai tháng [trước khi luật dầu khí được ban hành, nhưng] càng hiểu rõ nội vụ…rõ ràng đây là một thử thách chính trị lớn”[5].

Trong thời gian Ries còn tại chức, ngay cả giới lãnh đạo của Bộ Dầu Khí, lúc đó vẫn còn là một thành trì thân Mỹ, cũng đã chống đối. Một triệu chứng là Bộ Dầu Khí đã không thể hoàn thành năm hợp đồng không qua đấu thầu (Five no-bid contracts, không bao gồm đầu tư hay quyền khai thác) với tập đoàn dầu khí – do Exxon Mobil, Royal Dutch Shell, BP, Total, và Chevron cầm đầu – nhằm tăng số dầu sản xuất mỗi ngày thêm 500.000 thùng. Bộ trưởng dầu khí al-Shahrastani nói với Wall Street Journal:  lý do chính là các công ty dầu muốn được dành ưu tiên trong các hợp đồng thăm dò dầu tương lai. Lời bình luận nầy, cũng như những cuộc thương thảo bất thành, ám chỉ việc chính quyền Bush đã phải từ bỏ chính sách dầu khí Iraq ấp ủ từ lâu.

Thái độ mới được nhấn mạnh khi Bộ Dầu Khí phục hồi thỏa ước thời Saddam với CNPC, nay còn được ký thêm một hợp đồng 3 tỉ USD triển khai khu dầu Ahdab. Với sự tranh giành ngày một gay gắt quyền kiểm soát các nguồn dầu khí nước ngoài giữa TQ và Mỹ, tính tượng trưng của hành động nầy đã quá rõ ràng – nhất là từ khi một hợp đồng trước đây đã bị Hoa Kỳ, lúc mới bắt đầu chiếm đóng Iraq năm 2003, hủy bỏ một cách trắng trợn. Hơn nữa, hợp đồng mới là một hợp đồng dịch vụ với những điều khoản  trái với chính sách của Hoa Kỳ – đòi hỏi giảm bớt hay loại trừ  quyền kiểm soát kỹ nghệ dầu khí của chính quyền Iraq.

Ngay sau khi loan báo thỏa ước mới, Bộ trưởng dầu khí Shahrastani đã đưa ra một tuyên bố mang tính độc lập trong chính sách. Ông nói:”Số cung dầu khí [toàn cầu] đủ đáp ứng và có thể vượt quá chút ít số cầu thế giới hiện nay”[6]. Điều nầy có nghĩa, thế giới thặng dư dầu, và vì vậy, Iraq không cần phải vội vả ký kết bừa bải  các thỏa ước triển khai dầu khí có thể không có lợi cho Iraq trong trường kỳ.

Điều nầy cũng có nghĩa một sự tấn công đối với tiền đề căn bản của chính sách dầu khí Hoa Kỳ. Thực vậy, như Phó T T Cheney đã nói trước hội nghị kỹ nghệ dầu khí năm 1999: “Vào năm 2010, chúng ta cần thêm lối 50 triệu thùng mỗi ngày. Vậy số dầu đó lấy từ đâu ra? Trong khi nhiều nơi trên thế giới có nhiều triển vọng  dầu khí, Trung Đông, với 2/3 trử lượng dầu thế giới với giá rẻ, vẫn là nơi tọa lạc phần thưởng năng lượng cuối cùng “[7].

Năm 2001 – ngay trước biến cố 11-9 – Nhóm Đặc Nhiệm Năng Lượng Cheney, phối hợp chặt chẽ với Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, luôn xem vùng Trung Đông giàu năng lượng là tâm điểm của chính sách Trung Đông, định hình một thế giới trong đó số cung dầu khí phải được gia tăng để đáp ứng “số cầu gia tăng 50 triệu thùng mỗi ngày”.

Các xứ sản xuất dầu khí Trung Đông chưa bao giờ ưa thích lối phân tích của Cheney và luôn đề kháng mọi nỗ lực kích thích, khuyến dụ, hoặc cưởng ép phải gia tăng số dầu sản xuất. Ngược lại, họ luôn xem sự thiếu hụt dầu khí là kết quả tự nhiên của cơ chế thị trường, có lợi cho kinh tế của chính họ.

Với sự thành công lúc đầu của cuộc chiến xâm lăng của Mỹ, chính quyền Iraq có cơ trở thành một thành viên OPEC sẵn sàng xé rào, chấp nhận các kế hoạch do Hoa Kỳ yểm trợ, những kế hoạch trên lý thuyết sẽ tăng gấp bốn số dầu Iraq sản xuất trong vòng 10 năm. Vì vậy, những nhận định của Shahrastani là tín hiệu Iraq sẽ trở lại hàng ngũ OPEC và có thể giúp mở đầu một kỷ nguyên mới trong chính-trị-Iraq-thời- hậu-chiếm-đóng trong đó chính quyền Iraq không còn là một đồng minh đáng tin cậy của Hoa Kỳ.

CHÍNH SÁCH IRAQ CỦA HOA KỲ – MỘT THẤT BẠI

Các hành động trên đây mặc nhiên phản ảnh một thái độ mới, một sự tái thẩm định sự hiện diện của Hoa Kỳ ở Iraq. Thủ Tướng Maliki và đội ngũ hình như đã chấp nhận quan điểm của nhà báo Nir Rosen xem người Mỹ cũng chỉ là một lực lượng dân quân, chỉ khác họ là lực lượng hùng hậu nhất, trong các lực lượng ngoài vòng luật pháp mà Iraq phải tìm cách loại bỏ.

Chừng nào chính quyền Iraq tích lũy đủ số petrodollars và tìm được cách tách số ngoại tệ nầy khỏi nanh vuốt của các ngân hàng và quan chức quản trị Mỹ, giới lãnh đạo Iraq sẽ có đủ tài nguyên theo đuổi các chính sách phản ảnh các mục tiêu riêng của họ. Sự sụt giảm trong mức độ bạo động, được Hoa Kỳ xem như dấu hiệu thành công của Mỹ, trong thực tế, đã tăng tốc quá trình vừa nói. Nhờ đó, chính quyền Maliki cảm thấy sự tồn tại của họ ít lệ thuộc vào sự hiện diện của người Mỹ hơn, trong khi giúp tăng cường các lực lượng trong nước và trong khu vực, chống lại tham vọng của Hoa  Thịnh Đốn ở Trung Đông.

Tờ báo uy tín ở Iraq, Azzaman, đã nói đến các lực lượng nói trên trong một bài bình luận gần đây: “Iran đã trỗi dậy như một đối tác thương mãi hàng đầu. Các xí nghiệp Iran đã hiện diện ở vùng Kurdish Bắc Iraq và vùng Nam Iraq với những dự án hàng tỉ đô la. Hàng hóa Iran đầy dẩy trong các cửa hàng Iraq. Mặc dù dưới sự chiếm đóng và quản lý của Hoa Kỳ, Iraq đã ngày một lệ thuộc nhiều hơn vào Iran, đến độ vài nhà phân tích đã xem Iraq như một xứ vệ tinh của Tehran”[8].

Như để chứng minh điều nầy, báo Azzaman quả quyết: Bộ Dầu Khí và các bộ nòng cốt như Nội Vụ và Tài Chánh đang ở trong tay phái Shiite thân Iran. Đơn cử các nguồn tin từ Bộ Dầu Khí, tờ báo đã gợi ý những thay đổi gần đây trong chính sách dầu khí, trong thực tế, đã phản ảnh sức ép của Iran đòi hỏi phải loại trừ các đại công ty dầu Hoa Kỳ khỏi các hợp đồng khai triển các khu dầu quan trọng của Iraq.

Báo Azzaman có thể đã thổi phồng ảnh hưởng của Iran, bởi lẽ rất nhiều nhóm ảnh hưởng bên trong Iraq tiếp tục chống đối tham vọng của Hoa Thịnh Đốn về một chế độ khách hàng. Quốc Hội, giới lãnh đạo tôn giáo Sunni và Shia, các nghiệp đoàn hùng mạnh, và các phe kháng chiến Sunni và Shia, tất cả đều chống đối sự tiếp tục hiện diện và ảnh hưởng của Hoa Kỳ.

BÀN CỜ NĂNG LƯỢNG TRAQ

Trước ngày xâm chiếm Iraq, trong khi hàng triệu người biểu tình chống đối trên thế giới với những khẩu hiệu “KHÔNG LẤY MÁU ĐỔI DẦU”, “LÀM SAO DẦU CỦA MỸ LẠI NẰM DƯỚI CÁT CỦA IRAQ”…, chính quyền Bush chẳng nhắc gì đến khối trữ lượng dầu khổng lồ của Iraq. Trái lại, T T Bush chỉ muốn tỏ ra quan tâm duy trì, không phải “tài nguyên năng lượng”, mà là “gia tài truyền thống” của Iraq. Các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ cũng hùa theo, phủ nhận khối trữ lượng dầu khí của Iraq và Trung Đông là lý do của cuộc chiến. Trên báo chí và truyền hình Mỹ, trong khi Iraq trên bờ bị xâm lăng gây sốc và kinh hoàng, tin tức về trữ lượng dầu khí, họa hoằn nếu có, cũng chỉ thoáng qua, mặc dù kế hoạch bảo vệ Bộ Dầu Khí ở Baghdad và các khu sản xuất dầu quan trọng trước nạn hôi của, cướp phá, hỗn loạn, trong tháng 4-2003, dĩ nhiên, có được tường thuật, nhưng cũng chỉ qua loa.

Trong bối cảnh đó, thật chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi một câu ngắn gọn , trong tập hồi ký dày 500 trang nhan đề The Age of Turbulence (Kỷ Nguyên  Biến Động) của nguyên chủ tịch Cục dự trữ Liên Bang , Alan Greenspan , đã gây sóng gió ở Hoa Thịnh Đốn vào cuối tháng 9-2007. Greenspan viết : “Tôi lấy làm buồn là trên phương diện chính trị thật không tiện chút nào khi xác nhận một điều mọi người đều biết : cuộc chiến Iraq chủ yếu là vì dầu hỏa”[9]. Là viên chức cao cấp đầu tiên nói ra điều đó, Greenspan dồn dập được yêu cầu diễn giải rõ thêm , nhất là sau khi nhiều quan chức khác trong chính quyền lên tiếng phủ bác .Tony Fratto , người phát ngôn của Tòa Bạch Ốc , còn châm biếm gọi đây là “lối phân tích trong các tiệc rượu Georgetown” (Georgetown cocktail party analysis) , hàm ý mỉa mai –“một câu  chuyện đầu môi chót lưỡi trong những lúc trà dư tửu hậu”. Và dưới áp lực của Tòa Bạch Ốc, Greenspan đã vội vã rút lui.

Trong mọi trường hợp, ngày nay ván bài dầu khí Iraq hình như sắp đến hồi kết thúc. Ngày 29-9-2007, chính quyền Iraq loan báo, lần gia hạn Nghị Quyết Hội Đồng Bảo An LHQ hằng năm sắp tới về sự hiện diện của lực lượng đồng minh – căn bản pháp lý duy nhất cho phép Mỹ tiếp tục chiếm đóng – sẽ là lần cuối. Kế tiếp có thể đến lượt loan báo chấm dứt Nghị Quyết Hội Đồng Bảo An, ít được lưu ý hơn, về việc quản lý số tiền thu nhập từ việc bán dầu.Theo Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoshyar Zebari, ngày 31-12-2008, chính quyền Iraq dự định thay thế Nghị Quyết hiện nay về lực lượng an ninh đa quốc gia bằng một thỏa ước an ninh song phương với Hoa Kỳ, tương tự các thỏa ước giữa Hoa Kỳ và Kuwait, Saudi Arabia, và vài xứ Trung Đông khác. HĐBA LHQ luôn kết hợp việc gia hạn Nghị Quyết về lực lượng an ninh đa quốc gia với Nghị Quyết thứ hai liên quan việc điều hành số thu nhập từ tiền bán dầu. Việc nầy được thực hiện qua Quỹ Phát Triển Iraq, một tài khoản do một định chế thứ ba quản trị (escrow account), một định chế do nhà cầm quyền chiếm đóng thiết lập sau khi lật đổ chế độ Saddam Hussein và được HĐBA-LHQ phê chuẩn với  Nghị Quyết 1483. Hồi kết của ván bài dầu khí sẽ đến khi Iraq loan báo Nghị Quyết nầy cũng sẽ chấm dứt trong một kỳ hạn chắc chắn, nhường chỗ cho những thỏa ước phát triển tài nguyên (dự liệu bởi thỏa ước an ninh), tương tự với những thỏa ước của các xứ Trung Đông khác.

Hồi kết sắp đến như Antonia Juhasz đã nói rõ trong bài bình luận “Whose oil is It, Anyway?”đăng ở báo The New York Times:

“Các xứ láng diềng của Iraq như Iran, Kuwait, và Saudi Arabia, đều không cho phép các nước ngoài được quyền kiểm soát quá trình khai thác dầu khí. Họ chỉ  mướn các công ty ngoại quốc như những nhà thầu cung cấp các dịch vụ đặc biệt khi cần, trong một thời gian hạn định, và không dành cho các công ty nước ngoài được có bất cứ quyền lợi trực tiếp nào trong số dầu sản xuất”[10].

Ngược lại, pháp chế về dầu khí đang được bàn thảo trước quốc hội Iraq dự liệu cho phép các công ty nước ngoài ký kết những  hợp đồng dài hạn 20-35 năm, loại hợp đồng các xứ sản xuất dầu khí láng diềng luôn cấm đoán từ nhiều thập kỷ nay, cũng như đặt kỹ nghệ dầu khí dưới quyền kiểm soát của một ủy ban với thành viên được chỉ định gồm đại diện của các công ty dầu quốc tế có đầy đủ quyền bỏ phiếu.

Theo tin tức báo chí lúc đó (2007), chính phủ được bầu chọn ở Iraq – đang sử dụng chủ quyền, mặc dù bị hạn chế, để ấn định ngày chấm dứt sự chiếm đóng của Hoa Kỳ – đã đảo lộn chiều hướng thảo luận tại quốc hội về thời điểm chấm dứt sự chiếm đóng của Hoa Kỳ một cách an toàn. Trong mọi trường hợp, nếu Iraq phục hồi toàn bộ quyền kiểm soát độc lập số dự trữ dầu lớn thứ ba trên thế giới – từ 200 đến 300 tỉ thùng với trị giá khoảng 30.000 tỉ USD hiện nay, các cơ quan truyền thông chính thống quốc tế một lần nữa có  thể chính thức đặt lại câu hỏi: Cuộc chiến Iraq phải chăng là một cuộc chiến vì dầu khí ngay từ đầu?

Như đã nói ngay từ đầu bài viết, Alan Greenspan đã tin là đúng như vậy. Khi được hỏi, tướng John Abizaid, nguyên tư lệnh CENTCOM, người đã  lãnh đạo trong ba năm rưởi guồng máy chiếm đóng Iraq của Mỹ, cũng đồng ý. “Đã hẳn đó là cuộc chiến vì dầu, chúng tôi thực sự không thể chối cãi điều đó”, ông đã phát biểu trong cuộc hội luận bàn tròn ở Đại Học Stanford. Những lời thú nhận nầy đã xác quyết những nghi ngờ của giới quan sát. Nhà phân tích kỳ cựu về các vấn đề an ninh, Thomas Powers, đã nhận định trên tạp chí New York Review of Books:

“Điều người ta chỉ e ngại người Nga có thể làm [khi xâm lăng Afghanistan trong thập kỷ 1980s],  người Mỹ trong thực tế đã làm – họ đã tự đặt mình vào chính giữa hồ chứa dầu lớn nhất thế giới, trong vị trí có tiềm năng kiểm soát sự vận chuyển dầu và cưỡng chế chính quyền các nước khác đang phải lệ thuộc vào số dầu liên hệ. Người Mỹ, dĩ nhiên, không nghi ngờ gì động lực của chính họ, nhưng người nước ngoài thì khác. Phản ứng của người Nga , người Đức, và người Pháp, trong những ngày tháng trước cuộc chiến, cho thấy không ai muốn trao cho người Mỹ quyền mà [nguyên cố vấn an ninh quốc gia Zbigniew] Brzezinski trước kia đã e ngại là mục tiêu người Nga theo đuổi”[11].

Cố nhiên, người Mỹ lấy cớ Hoa Kỳ chỉ nhập khẩu rất ít dầu từ Iraq, nhưng điều quan trọng rõ ràng không phải số dầu Iraq xuất khẩu hiện nay, mà là toàn bộ khối dự trữ dầu của Iraq.

Trước ngày tiến chiếm Iraq tháng 3-2003, tỉ phú truyền thông, Rupert Murdoch,  nói, “điều tốt nhất biến cố nầy đem lại cho kinh tế thế giới, nếu có thể nói như vậy, là dầu khí 20 USD một thùng”[12]. Trò chơi đế quốc lớn nhất của chính quyền Bush trong thế kỷ 21 là Iraq có thể trở thành một thứ Tây Đức hay Nam Hàn trong vùng Vịnh Ba Tư – một cộng hòa liên bang với một nền kinh tế xuất khẩu dầu giàu mạnh, một mực sống đi lên, và một số căn cứ Hoa Kỳ bảo đảm sự thống trị dài lâu của Mỹ trong một vùng chiến lược giàu tài nguyên nhất của hành tinh. Người Mỹ đã đánh mất nửa chính trị của trò chơi, nhưng vẫn nhất thiết không chịu chấp nhận sự mất mát nửa kinh tế hay dầu khí còn lại mà không chiến đấu cho đến cùng. Có lẽ năm căn cứ  khổng lồ có thể chứa 20.000 binh sĩ mỗi căn cứ, và Ṭòa Đại Sứ lớn nhất thế giới trong khu Green Zone, có thể đủ sức duy trì sự kiểm soát trữ lượng dầu , ngay cả khi chà đạp lên luật pháp quốc tế và ước muốn chính thức của nhân dân Iraq – nhưng có lẽ là không.

 BLACKWATER VÀ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA IRAQ

Chúng ta còn nhớ sau vụ nhân viên Blackwater thảm sát 17 thường dân Iraq ở quảng trường Baghdad, Thủ Tướng al-Maliki đòi hỏi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phải bải nhiệm và chế tài công ty an ninh tư, Blackwater USA, công ty có trách nhiệm bảo vệ nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ ở Iraq. Maliki còn đòi hỏi phải hủy bỏ mọi miễn trừ tài phán do Toàn Quyền L. Paul Bremer III dành cho tất cả các công ty an ninh tư từ năm 2004. Quá bất ngờ và ngạc nhiên, lúc đầu chính quyền Bush ra lệnh Blackwater tạm ngưng hoạt động, nhưng rồi lại ngang nhiên cho phép tái hoạt động và dịch vụ bảo vệ an ninh vẫn do Blackwater cung cấp. Mấy ngày sau, Bush gặp al-Maliki ở New York để thảo luận vấn đề được cố vấn an ninh quốc gia Stephen Hadley gọi là Chủ Quyền Iraq. Ai là người sẽ phải xuống nước?

Chúng ta phải chờ xem. Nhưng ngay sau khi người Iraq kết thúc điều tra với đòi hỏi bồi thường 8 triệu USD cho mỗi nạn nhân bị sát hại, báo chí loan tin Blackwater đang trên đường rời khỏi nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho nhân viên ngoại giao Mỹ ở Iraq, chậm nhất trong vòng 6 tháng như al- Maliki đòi hỏi. Tuy nhiên, sau đó Blackwater vẫn tiếp tục được Bộ Ngoại Giao Mỹ ký nhiều hợp đồng an ninh béo bở khác. Chuyên viên Blackwater, Jeremy Scahill, đã cho Bill Moyer biết, mất hợp đồng ở Iraq không mấy thiệt hại cho Blackwater nhưng đã gây nhiều phền toái cho hoạt động ngoại giao ở Iraq. Khi cố tình thách thức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trong cuộc khủng hoảng, chính quyền al-Maliki, vốn yếu đuối và thiếu chủ quyền, đột nhiên tỏ ra khá táo bạo.

Nhưng, đối với Hoa Thịnh Đốn , dầu – chứ không phải Blackwater – mới thật sự quan trọng. Tháng 9- 2007, sau khi dự luật dầu khí do Mỹ thúc đẩy, một mốc quan trọng đối với cả Bạch Ốc và Quốc Hội Hoa Kỳ, bị các nhà lập pháp Iraq chận đứng, biến cố quyết định – coup de grâce – lại tiếp đến với thỏa ước vô trách nhiệm giữa KRG và công ty Hunt Oil of Dallas, Texas, dưới sự lãnh đạo của Ray L. Hunt, đồng minh lâu năm và thành viên Hội Đồng Tình Báo Hải Ngoại của Tổng Thống Bush. Thỏa Ước, trái với đường lối của chính quyền trung ương Iraq, cho phép Kurdistan khai thác riêng rẻ tài nguyên dầu khí trong khu vực dưới quyền. Người Kurds, do đó, đã vi phạm trắng trợn luật dầu khí đang được quốc hội Iraq thảo luận. Trong thực tế, thỏa ước đã khiến luật dầu khí khó có triển vọng được thông qua trước khi Nghị Quyết Quỹ Phát Triễn mãn hạn.

HỒI CUỐI CỦA VÁN BÀI DẦU KHÍ IRAQ

Nếu luật dầu khí không được thông qua kịp thời, các phe phái bên trong Iraq sẽ theo gương người Kurds thương thảo với bất cứ đối tác nào những thỏa ước tương tự. Chính quyền trung ương Iraq, ngay cả khi mất quyền kiểm soát người Kurds ở phía Bắc và người Sunni ở phía Tây, vẫn có thể chuẩn uy chính-sách-tài-nguyên- riêng-rẻ (resource-separatism), qua việc ký các hợp đồng khai thác dầu trong phạm vi lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của mình. Như vậy, một Iraq gồm chín tỉnh với người Shiite chiếm đa số, giàu năng lượng, thân Iran, có thể thương thảo một thỏa ước riêng, có lẽ ngay cả với Trung Quốc luôn sẵn sàng chờ đón. Lúc đó, liệu một áp lực phối hợp quân sự với ngoại giao của Mỹ có đủ sức chận đứng một hậu quả bất lợi có thể xảy ra?

Nhiều người ở Hoa Thịnh Đốn cũng cùng ý nghĩ. Ngay trước khi dự luật dầu khí Iraq sụp đổ, Bộ Thương Mãi Hoa Kỳ lặng lẽ tuyển dụng một cố vấn pháp lý, biết tiếng Á Rập, giữ nhiệm vụ cố vấn kỹ thuật giúp chính quyền Iraq tạo dựng một môi trường pháp lý và thuế vụ thuận lợi cho hoạt động của giới đầu tư bản xứ và ngoại quốc trong các khu vực kinh tế then chốt của Iraq, bắt đầu với khu vực tài nguyên khoáng sản (đúng ra là khu vực dầu khí). Kết quả: môi trường mới – phần lớn trùng hợp với Quỹ Phát Triển Iraq và Hội Đồng Tư Vấn và Giám Sát  Quốc Tế -có nhiệm vụ, theo Quyết Nghị 1483 của HĐBA-LHQ, giám sát mọi tác vụ xuất khẩu dầu khí, sản phẩm dầu khí, và hơi đốt thiên nhiên, từ Iraq… đúng với các tập tục mãi dịch quốc tế tốt nhất hiện nay. Phải chăng Bộ Thương Mãi Hoa Kỳ đang lên kế hoạch khai tử Hội Đồng Tư Vấn và Giám Sát Quốc Tế? Cũng giống như Tòa Đại Sứ và năm căn cứ quân sự khổng lồ, việc làm của nhân viên Bộ Thương Mãi Hoa Kỳ phản ảnh nhu cầu hiện diện liên tục của Hoa Kỳ ở Iraq, kể cả trong khu vực dầu khí, sau ngày 31-12-2008.

Trong mọi trường hợp, ngày nào sự chiếm đóng chấm dứt một cách hợp pháp, ngày nào quyền kiểm soát dầu khí được trả lại – ít nhất một cách hợp pháp – cho người Iraq, chuyên viên Bộ Thương Mãi Hoa Kỳ sẽ không thể giữ một vai trò đáng kể. Thay vào đó, một vai trò mới sẽ mở ra cho tập thể các chuyên viên người Iraq cho đến lúc đó bị gạt ra ngoài lề. Công Ty Dầu Khí Quốc Gia Iraq – INOC – bắt đầu hoạt động từ năm 1961. Di sản của INOC bao gồm một lực lượng công nhân dầu khí lành nghề. Trong thực tế, đáng kể nhất trong số người chống lại dự luật dầu khí, do người Mỹ bảo trợ và đã mai một, là Liên Hiệp Nghiệp Đoàn Dầu Khí Iraq -IFOU. Đoàn viên của IFOU chống lại các điều khoản luật dự liệu cho phép tuyển dụng các công nhân dầu nước ngoài thay vì người Iraq và loại bỏ sự tham gia của các nghiệp đoàn trong việc thương thảo các hợp đồng lao động. Các cuộc phản đối của IFOU đã nhận được thư hỗ trợ mang chữ ký của sáu nhân vật được giải thưởng Nobel Hòa Bình.

Tuy nhiên, khai thác dầu khí là lãnh vực cực kỳ phức tạp. Ngoài tập thể chuyên gia bản xứ, kỹ năng và tư bản nước ngoài vẫn còn thiết yếu. Đối với chính quyền trung ương, hiện ở trong tay người Shiite, nguồn cung cấp đáng tin cậy kỹ năng chuyên môn, công nhân lành nghề, và ngay cả tư bản bổ túc, hình như vẫn là Iran. Hiện nay, Hoa Kỳ đang trang trải phần lớn lương bổng ở Baghdad. Tuy nhiên, Tổng Thống Iran, tiên liệu ngày người Mỹ triệt thoái, đã tuyên bố sẵn sàng “điền vào chỗ trống, với sự hỗ trợ của các nước láng diềng và thân hữu trong vùng như Saudi Arabia, và nhân dân Iraq”. Lời mời gọi Saudi Arabia cộng tác – một xứ  với một dân số ít ỏi và yếu kém về quân sự – xem ra không mấy thành khẩn, nhưng Iran không thể không lên tiếng. Như nguyên đại sứ Peter Galbraith giải thích: “Từ năm 2005, chính quyền Iraq do phái Shiite lãnh đạo đã ký kết nhiều thỏa ước kinh tế, chính trị, quân sự với Iran. Hiệp định quan trọng nhất đã kết hợp trữ lượng dầu khí chiến lược giữa hai quốc gia qua việc xây dựng tuyến đường ống dẫn dầu từ Nam Iraq đến Iran, trong khi một hiệp định khác đã dự liệu: Iran cam kết cung cấp viện trợ quân sự rộng rãi cho chính quyền Iraq”[13]. Ngày 17-10-2007, chính quyền al-Maliki một lần nữa đã phô trương tiềm lực qua việc ký kết các hợp đồng trị giá 1,1 tỉ USD với  Iran và Trung Quốc xây cất các nhà máy điện khổng lồ trong khu phố Shiite Sadr ở Baghdad và giữa hai thành phố Shiite thiêng liêng – Najaf và Karbala.

Triễn vọng trong hồi kết ván bài dầu khí Iraq – phe thắng có thể là Iran Shiite (và gián tiếp, Trung Quốc) – có thể giúp giải thích vì sao gần đây phía Mỹ đã lên tiếng kêu gọi thay thế Thủ Tướng al-Miliki, một tín đồ Shiite ngoan đạo. Tuy nhiên, ngay cả khi áp lực của người Mỹ đưa đến sự ra đi của al-Maliki, quốc hội Iraq cũng không thể cùng lúc bị loại. Lời loan báo của Thủ Tướng al-Maliki  – lần gia hạn sứ mệnh quân sự đa quốc gia sắp tới sẽ là lần cuối – trong thực tế, là để đáp lại quyết nghị mang tính ràng buộc của quốc hội: lần gia hạn tới, khác với những lần gia hạn trước đây, có thể không chỉ do Thủ Tướng yêu cầu, mà còn phải do khuyến cáo và đồng thuận của quốc hội. Quốc hội đã một lần biểu quyết, trong một quyết nghị không mang tính bắt buộc, đòi hỏi Hoa Kỳ phải ấn định một thời biểu triệt thoái.

Mặc dù chưa vững chải, chính quyền Iraq đã được quốc tế công nhận tính hợp pháp, và al-Maliki, dù bị đánh giá thấp, rõ ràng không phải không có thực lực khi cần khẳng định chủ quyền đối với sự tự trị của người Mỹ bên trong biên giới Iraq. Trong vụ “Blackwatergate”, al-Maliki đã tìm được điểm gây sức ép đáng kể: tuyên bố không một luật mới nào sẽ được biểu quyết chấp thuận ở Iraq cho đến khi vấn đề Blackwater được giải quyết thỏa đáng theo đúng đòi hỏi của chính ông. Và al-Miliki cũng không phải chỉ nói bâng quơ khi cảnh cáo các người Mỹ chỉ trích ông: “chúng tôi có thể tìm được bạn nơi khác”[14]

Thời điểm mãn hạn sứ mệnh của lực lượng đa quốc gia do Iraq ấn định đã trùng hợp với thời điểm cuối nhiệm kỳ của chính quyền Bush. Câu hỏi hồi kết giờ đây có thể trở thành: Chính quyền Hoa Kỳ có thể đi bao xa trong việc từ bỏ nghị trình trước đây và trả Iraq lại trạng thái tiền chiến – vai trò lãnh đạo của phái Sunni, được Mỹ yểm trợ, trong chính trị nội bộ Iraq. Đã hẳn điều nầy sẽ đưa đến hậu quả  một Iraq được vỏ trang thù nghịch với kẻ thù của Mỹ trong khu vực – Iran, và chịu cộng tác trở lại với OPEC, do Saudi giữ địa vị áp đảo, trong việc điều hành và quản lý thị trường dầu khí quốc tế, tất cả dưới sự che chở quân sự của Hoa Kỳ.

Liệu giấc mơ trừ bị hiện nay – vẫn là giấc mơ Tổng Thống Bush cha đã ấp ủ sau cuộc chiến Vùng Vịnh I – tạo dựng ở Baghdad một Saddam Hussein tốt hơn, dịu hiền hơn, và dễ dàng thuyết phục và điều khiển bởi Mỹ?

Thời gian sẽ đem lại câu trả lời. Nhưng dân Mỹ không còn nhiều kiên nhẫn. Lấy máu đổi dầu không bao giờ là một trao đổi hấp dẫn. Nhưng đổ máu quá nhiều mà chẳng được tí dầu nào lại là một cách làm ăn quá tệ hại.

Trước những trào lưu đó, ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với chính quyền Iraq, mặc dù  vẫn còn rất lớn, đang trên đà xuống dốc. Chính quyền Bush trước đây và chính quyền Obama hiện nay, có thể phải đương đầu với một tình thế lưỡng nan: hoặc chấp nhận một hình thức triệt thoái nào đó do chính quyền Iraq đòi hỏi hoặc leo thang chiến tranh lần nữa để áp đặt một chính quyền chịu đi theo quyền lợi của Hoa Kỳ.

Lời tuyên bố gần đây của Ngũ Giác Đài – trên phương diện quân sự,  chỉ một sự giảm bớt quân số rất khiêm tốn mới có thể thực hiện được trong một tương lai gần – có thể là một dấu hiệu của tình trạng lưỡng nan vừa nói. Không có một sự bổ sung quân số lớn lao, xét cho cùng, người Mỹ khó lòng thuyết phục được chế độ al-Miliki chịu đi theo chính sách của Hoa Thịnh Đốn.

Vấn đề vẫn nguyên vẹn: Điều gì có thể giúp đảo ngược các lực ly tâm đẩy Iraq ra khỏi quỹ đạo Hoa Thịnh Đốn? Phải chăng chiến lược leo thang cuối cùng (surge strategy) của Bush đã chấm dứt tham vọng bá chủ của Hoa Kỳ ở Trung Đông?

Nếu trường hợp nầy xảy ra, một câu hỏi mới chắc sẽ được nêu lên nay mai trong chính trường quốc nội Hoa Kỳ: Ai đã để mất Iraq?

© GS Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

31-8-2009


[1] Imagine what the region would look like without Saddam and with a regime that’s aligned with U.S. interests. It would change everything in the region and beyond. Michael Schwartz: Why Did We Invade Iraq Anyway ? The Nation Institute , 30-10-2007.
[2] American-led overthrow of Saddam Hussein , and the replacement of the radical Baathist dictatorship with a government more closely aligned with the United States , would put America more wholly in charge of the region than any power since the Ottomans, or even the Romans. Michael Schwartz, đd.

[3] No foreign soldier remains in Iraq after a specific deadline, not an open time frame.

[4] The last American soldiers must leave Iraq by the end of 2011, regardless of conditions at the time.

[5] When I got here…I was quite optimistic it was only a month or two [before the petroleum bill would be passed, but the] more I understood what the real issues were… it was clear this was going to be a major political challenge.

[6] [Global] oil supplies meet and might slightly exceed current world demand.

[7] By 2010 we will need on the order of an additional fifty million barrels a day. So where is the oil going to come from? While many regions of the world offer great oil opportunities, the Middle East, with two-thirds of the world’s oil and the lowest cost, is still where the prize ultimately lies.

[8] Iran has emerged as the country’s top trading partner. Its firms are present in the Kurdish north and southern Iraq carrying out projects worth billions of dollars. Iranian goods are the most conspicuous merchandise in Iraqi shops. Iraq, though occupied and administered by America, has grown to be so dependent on Iran that some analysts see it as a satellite state of Tehran.

[9]   …I am saddened that it is politically inconvenient to acknowledge what everyone knows: the Iraq war is largely about oil, Michael Schwartz, Why Did We Invade Iraq Anyway ? The Nation Institute , 30-10-2007.

[10] Iraq’s neighbors Iran, Kuwait and Saudi Arabia… have outlawed foreign control over oil development. They all hire international oil companies as contractors to provide specific services as needed, for a limited duration, and without giving the foreign company any direct interest in the oil produced.

[11] What it was only feared the Russians might do [by invading Afghanistan in the 1980s] the Americans have actually done – they have planted themselves squarely astride the world’s largest pool of oil, in a position potentially to control its movement and to coerce all the governments who depend on that oil. Americans naturally do not suspect their own motives but others do. The reaction of the Russians, the Germans, and the French in the months leading up to the war suggests that none of them wished to give Americans the power which [former national Securuty Adviser Zbigniew] Brzezinsky had feared was the goal of the Soviets.

[12] The greatest thing to come out of this for the world economy, if you could put it that way, would be $20 a barrel for oil.

[13] Since 2005, Iraq’s Shiite -led government has concluded numerous economic, political, and military agreements with Iran. THe most important would link the two cuntries’ strategic oil reserves by building a pipeline from southern Iraq to Iran, whili anoter commits Iran to providing extensive military assistance to the Iraq government.

[14] We can find friends elsewhere.

 

©  http://vietsciences.orghttp://vietsciences.free.fr Nguyễn Trường

Advertisements