Quan hệ Mỹ-Nhật: Một liên minh bất bình thường

Vietsciences-Nguyễn Trường              24/05/2010
 Những bài cùng tác giả
Với một xứ có hiến pháp hòa bình, Nhật Bản đang có quá nhiều vũ khí. Thực vậy, Nhật, quốc gia các hải đảo Á châu, đã được xem như hàng không mẫu hạm và căn cứ hải quân khổng lồ của lực lượng quân sự Mỹ. Hoa Kỳ có lẽ đã không thể theo đuổi hai cuộc chiến Việt Nam và Triều Tiên mà không có trên dưới 90 căn cứ quân sự rải rác quanh các hải đảo của đồng minh Thái Bình Dương quan trọng nầy. Ngay cả hiện nay, Nhật vẫn giữ vai trò một phiên bản những gì còn sót lại từ chính sách ngăn đê trong thời chiến tranh lạnh khi nói đến Trung Quốc (TQ) hay Bắc Hàn. Từ Yokota và căn cứ không quân Kadena, Hoa Kỳ có thể gửi quân đội và oanh tạc cơ đến khắp Á châu, trong khi căn cứ Yokosuka gần Tokyo là căn cứ hải quân Hoa Kỳ lớn nhất ở hải ngoại.

Nhiều người những tưởng với bấy nhiêu căn cứ ở Nhật, Hoa Kỳ sẽ chẳng mấy bận tâm khi phải đóng cửa một trong những căn cứ nầy. Họ đã lầm to. Tranh chấp hiện nay về căn cứ không quân của Thủy Quân Lục Chiến ở Futenma trên đảo Okinawa – một quận đảo lối 1.000 dặm phía Nam Tokyo, với khoảng 36 căn cứ và 75% lực lượng Hoa Kỳ ở Nhật – đang ngày một nghiêm trọng hơn. Trong thực tế, Hoa Thịnh Đốn hình như sẵn sàng cá cược uy danh và quan hệ với chính quyền mới ở Nhật trên số phận của chính căn cứ nầy. Cuộc tranh luận đã phơi bày nỗi âu lo của Hoa Kỳ trong kỷ nguyên Obama.

Thoạt nhìn, Futenma chỉ là một căn cứ lỗi thời.Theo thỏa ước giữa chính quyền Bush và chính phủ Nhật trước đây, Hoa Kỳ đã có kế hoạch di chuyển hầu hết thủy quân lục chiến nay còn ở Futenma qua đảo Guam. Tuy nhiên, mặc dù dân chúng Okinawa và Tokyo chống đối, chính quyền Obama vẫn khăng khăng đòi hỏi người Nhật phải thi hành thỏa ước thiết lập một căn cứ mới thay thế phần lớn căn cứ Futenma trong một khu vực ít cư dân hơn của Okinawa.

Sự tranh chấp hiện nay giữa Tokyo và Hoa Thịnh Đốn không chỉ là một “cơn cuồng phong trên Thái Bình Dương” (Pacific Squall), như tạp chí Newsweek đã mô tả. Sau sáu thập kỷ luôn vâng dạ trước mọi đòi hỏi của Mỹ, cuối cùng Nhật bản hình như sắp trả lời “không” trước một yêu cầu quan trọng đối với Hoa Thịnh Đốn, và mối quan hệ Dwight D. Eisenhower có lần đã gọi một “liên minh bất diệt” (indestructible alliance) đang phơi bày những rạn nứt ngày một rõ nét. Tệ hơn nữa, trong nhãn quan của Ngũ Giác Đài, sự đề kháng của Nhật rất có thể mang tính truyền nhiễm – một lý do quan trọng vì sao Hoa Kỳ đã cá cược cả một liên minh chỉ vì việc đóng cửa một căn cứ lỗi thời và xây dựng một căn cứ khác không mấy có giá trị chiến lược.

Trong thời chiến tranh lạnh, Ngũ Giác Đài e ngại nhiều quốc gia có thể rơi rụng như những dominoes trước đà tiến không ngừng của chủ nghĩa Cộng Sản. Ngày nay, Ngũ Giác Đài lại lo âu một thứ hậu quả domino khác. Ở Âu châu, các quốc gia thành viên NATO đang từ chối ủng hộ vô điều kiện cuộc chiến của người Mỹ ở Afghanistan. Ở Phi châu, không một quốc gia nào sẵn sàng cho phép Bộ Tư Lệnh Phi Châu mới của Ngũ Giác Đài đặt tổng hành dinh. Ở Châu Mỹ La Tinh, Ecuador nhỏ bé đã từ chối gia hạn thỏa ước cho phép Hoa Kỳ sử dụng căn cứ không quân ở Manta.

Tất cả những sự kiện đó đã hẳn là những triệu chứng uy tín toàn cầu của quân lực Hoa Kỳ đang suy giảm. Nhưng sự đề kháng hiện nay ở Nhật là dấu hiệu chắc chắn nhất: số căn cứ quân sự ở hải ngoại mang tính đế quốc của Mỹ đã lên đỉnh cao và sẽ tụt dần trong một tương lai không xa.

KHÔNG CÒN MÃI YES, SIR!

Cho đến một ngày gần đây, Nhật luôn là một nhà nước độc đảng. Điều đó không hề làm Hoa Kỳ phiền lòng. Đảng cầm quyền lâu dài, Liberal Democratic Party – LDP, đã duy trì một quan hệ lưỡng đảng nồng ấm nhất với các nhà làm chính sách Hoa Thịnh Đốn và Câu Lạc Bộ Hoa Cúc (Chrysanthemum Club) của các bình luận gia thân Nhật. Một tiết lộ gần đây – năm 1969, nhượng bộ trước đòi hỏi của T T Richard Nixon, Nhật đã bí mật tiếp đón các tàu chiến trang bị vũ khí hạt nhân của Mỹ, mặc dù trái với nguyên tắc phi nguyên tử của Tokyo – đã vén màn cho thấy một chấm nhỏ trong thái độ đàn em của nhà cầm quyền Nhật.

Kể từ ngày chiến tranh lạnh bắt đầu , các chính phủ kế tiếp ở Nhật đã luôn chiều theo mọi ước muốn của Hoa Thịnh Đốn. Khi chính quyền Nhật hạn chế xuất khẩu quân sự gây trở ngại cho liên minh, Tokyo vẫn luôn dành biệt lệ cho Hoa Kỳ. Khi nhu cầu hợp tác trong vấn đề phòng vệ tên lửa, mâu thuẩn với chính sách ngăn cấm quân sự hóa không gian, Tokyo lại khua đũa thần và sự cấm đoán tan biến.

Mặc dù hiến pháp Nhật từ chối “sự đe dọa hay sử dụng vũ lực như phương tiện giải quyết các tranh chấp quốc tế”, để bù lại, Hoa Thịnh Đốn đã thúc đẩy Tokyo giúp trang trải các chi phí của cuộc phiêu lưu quân sự của Mỹ trong cuộc chiến vùng Vịnh lần đầu chống lại Saddam Hussein năm 1990-91. Và Tokyo đã ngoan ngoản vâng theo. Tiếp đó, từ tháng 11-2001 cho đến gần đây, Hoa Thịnh Đốn đã “thuyết phục” người Nhật tiếp tế nhiên liệu trong vùng Ấn Độ Dương cho các tàu chiến và phi cơ chiến đấu Mỹ ở Afghanistan. Năm 2007, Ngũ Giác Đài ngay cả gây áp lực đòi hỏi Tokyo tăng ngân sách quốc phòng để giúp trang trải nhiều hơn nữa các chi phí của liên minh.

Đã hẳn, đảng LDP đã chiều theo các đòi hỏi nói trên chỉ vì chúng đan xen hài hòa với các kế hoạch riêng của đảng muốn uốn nắn luồn lách hiến pháp hòa bình của Nhật và tăng cường quân lực. Trong thực tế, suốt hai thập kỷ vừa qua, Nhật đã tậu mãi nhiều khí giới tối tân, kể cả phản lực cơ chiến đấu, khả năng tiếp liệu xăng dầu trên không trung, và tàu chiến có chức năng hàng không mẫu hạm. Nhật cũng đã tu chính Luật các Lực Lượng Tự Vệ 1954 (1954 Self-Defense Forces Law) trên 50 lần để ấn định những gì quân lực Nhật có thể và không thể làm, và đem lại khả năng hành động với sức mạnh tấn công. Mặc dù được trang bị một hiến pháp hòa bình, ngày nay Nhật có một quân lực hàng đầu thế giới.

Sau cuộc bầu cử tháng 8-2009, Đảng Dân Chủ Nhật Bản (Democratic Party of Japan – DPJ) lên thay thế LDP sau hơn một nửa thế kỷ cầm quyền, với một sứ mệnh lớn lao: thay đổi. Trong bối cảnh kinh tế quốc gia đang tiếp tục xuống dốc, DPJ phải tập trung giải quyết nhiều vấn đề đối nội và cắt giảm chi tiêu. Vì vậy, không ai ngạc nhiên, khi tìm cách cắt xén ngân sách, DPJ đã rà soát lại liên minh với Hoa Kỳ. Khác với hầu hết các quốc gia chấp nhận sự hiện diện của các căn cứ quân sự Mỹ, Nhật Bản còn phải gánh chịu hầu hết các chi phí duy trì các căn cứ nầy: khoảng trên 4 tỉ USD mỗi năm tiền hỗ trợ hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp.

Trong trạng huống đó, chính phủ mới của Thủ Tướng Yukio Hatoyama đã đưa ra một đề nghị thực sự khiêm tốn: đặt liên minh Mỹ-Nhật, dùng ngôn từ trong hiện tình, trên một căn bản bình đẳng hơn (on a more equal footing). Hatoyama đã khởi đầu cách tiếp cận mới mang tính tượng trưng bằng cách chấm dứt sứ mạng tiếp liệu xăng dầu trên Ấn Độ Dương (mặc dù Tokyo đã tìm cách tiết giảm tác động của quyết định nầy với ngân khoản 5 tỉ USD trong 5 năm viện trợ phát triển dành cho chính phủ Afghanistan).

Quan trọng hơn nữa, chính quyền Hatoyama cũng đã cho biết ý định giảm bớt ngân sách hỗ trợ duy trì các căn cứ. Đường lối thắt lưng buộc bụng Hatoyama đề nghị đã được đưa ra trong thời điểm bất thuận lợi đối với chính quyền Obama, hiện đang gặp nhiều khó khăn trong việc tài trợ hai cuộc chiến tốn kém và mạng lưới quân sự toàn cầu trên 700 căn cứ. Gánh nặng “các chiến dịch không tiên liệu ở hải ngoại” (overseas contingency operations) đang ngày một gia tăng, và ngày một ít quốc gia sẵn lòng chung vai gánh vác.

ĐỘNG VẬT QUÍ HIẾM VÀ DÂN CHỦ

Nguyên do căng thẳng trước mắt trong quan hệ Mỹ-Nhật là chính phủ mới đã tỏ ý muốn tái thương thảo thỏa ước 2006: đóng cữa Futenma, di chuyển 8000 thủy quân lục chiến qua Guam, và xây dựng một căn cứ mới ở Nago, một vùng thưa thớt dân cư thuộc Okinawa. Đây là thỏa ước mang tính bắt nạt, ép buộc một chính quyền đang gặp khó khăn tài chánh phải trả một chi phí quá cao: năm 2006, Tokyo đã hứa sẽ bỏ ra 6 tỉ USD chỉ để giúp di chuyển thủy quân lục chiến qua Guam.

Cái giá chính trị đối với chính phủ mới – nếu phải thực thi thỏa ước khùng điên do đảng LDP tiền nhiệm ký kết- có lẽ còn cao hơn. Xét cho cùng, DPJ đã được hậu thuẩn lớn lao của cử tri Okinawa, đang bất mãn với thỏa ước 2006 và muốn thấy sự chiếm đóng đảo Okinawa của người Mỹ chấm dứt.Trong nhiều thập kỷ vừa qua, với các căn cứ kế cận của Mỹ trong nhiều khu đông dân, người Okinawans đã phải chịu đựng nhiều loại ô nhiễm – không khí, nước uống, ồn ào, các tai nạn như trực thăng rơi ở Đại Học Quốc Tế Okinawa năm 2004, và các tội phạm từ chạy xe quá tốc độ đến 3 thủy quân lục chiến hãm hiếp một em bé 12 tuổi năm 2005… Theo kết quả cuộc thăm dò công luận tháng 6-2009, 68% dân Okinawa chống lại quyết định dời căn cứ Futenma đến một địa điểm khác bên trong Okinawa, và chỉ 18% đồng ý. Trong khi đó, Đảng Dân Chủ Xã Hội (Social Democratic Party – SDP) – đảng thiểu số trong liên minh cầm quyền hiện nay – đã đe dọa sẽ rút khỏi liên minh nếu Hatoyama không giữ lời cam kết, trong quá trình vận động tuyển cử, sẽ không xây dựng một căn cứ mới ở Okinawa.

ĐỘNG VẬT QUÍ HIẾM VÀ NGUY CƠ DIỆT CHỦNG

Ngoài ra, còn vấn đề động vật quí hiếm dugong (bò biển), tương tự với loài manatee, một đông vật sống ở biển, lai chủng giữa walrus và dolphin và là đầu mối của huyền thoại mermaid. Chỉ còn khoảng 50 dugong đang bị đe dọa diệt chủng, sống trong vùng biển gần Nago, nơi được chọn xây căn cứ thay thế mới. Nhiều luật sư Nhật và các nhà bảo vệ môi trường và đa dạng sinh thái Mỹ đã yêu cầu tòa án liên bang ngăn chặn việc xây căn cứ mới ở Nago, để bảo vệ dugong. Trong thực tế, ngay cả khi Ngũ Giác Đài muốn kháng án lên Tối Cao Pháp Viện, các luật sư và giới bảo vệ môi sinh quyết định sẽ theo đuổi vụ kiện đến cùng. Với thủ tục pháp lý kéo dài, căn cứ mới có thể không bao giờ tiến xa hơn bàn vẽ họa đồ căn cứ.

Vì các lý do môi sinh, chính trị, và kinh tế, việc dẹp bỏ thỏa ước 2006 không phải là vấn đề khó khăn rắc rối đối với Tokyo. Tuy nhiên, trước quyết tâm thi hành thỏa ước 2006 xây dựng một căn cứ mới không mấy giá trị chiến lược của Hoa Thịnh Đốn, thách thức đối với DPJ là đã phải tìm một địa điểm khác hơn là Nago. Chính quyền Nhật đã thăm dò khả năng nhập chung căn cứ Futenma vào Kadena, một căn cứ khác của Mỹ trên đảo Okinawa. Nhưng kế hoạch nầy hoặc một địa điểm khả dĩ khác ở Nhật đã gặp phải sự chống đối mạnh mẻ của dân chúng địa phương. Đề nghị mở rộng các căn cứ ở Guam cũng đã bị thống đốc đảo Guam từ chối.

Giải pháp cho nội vụ giờ đây đã khá rõ ràng: đóng cửa căn cứ Futenma mà không đòi hỏi xây căn cứ mới nào khác. Nhưng cho đến nay, Hoa Kỳ vẫn còn từ chối một giải pháp dễ dàng cho Nhật. Trong thực tế, Hoa Thịnh Đốn đang làm mọi việc có thể để dồn chính phủ mới ở Nhật vào góc tường.

TĂNG ÁP LỰC

Sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Okinawa là do quyết tâm ngăn đê đối với cường quốc quân sự duy nhất có thể đe dọa địa vị bá chủ của Hoa Kỳ cũng như tàn tích còn sót lại từ thời chiến tranh lạnh. Trong thập kỷ 1990s, giải pháp cho một Trung Quốc đang lên của chính quyền Clinton là hội nhập, nhưng với rào dậu (integrate, but hedge). Với Clinton, rào dậu chỉ tập trung quanh liên minh Mỹ-Nhật và một lực lượng quân sự Nhật được tăng cường để đủ sức răn đe phòng ngừa.

Điều chính quyền Clinton và những Tổng Thống kế nhiệm đã không tiên liệu là Trung Quốc đã có thể vô hiệu hóa chiến lược rào dậu một cách hiệu quả và hòa bình qua khả năng lãnh đạo thận trọng và một chính sách mậu dịch kiên cường. Một số các quốc gia Đông Nam Á, kể cả Phi Luật Tân và Indonesia, đã sớm nhượng bộ và phục tùng hình thức ngoại giao hầu bao (checkbook diplomacy) của Trung Quốc. Kế đó, trong thập kỷ vừa qua, Nam Hàn, cũng như Nhật hiện nay, cũng bắt đầu nói đến khả năng thiết lập một quan hệ bình đẳng hơn với Hoa Kỳ trong một nổ lực tránh né sự khả dĩ bị lôi kéo vào bất cứ hình thức cọ xát quân sự nào giữa Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh trong tương lai.

Ngày nay, không còn những khuôn mặt bảo thủ nòng cốt trong chính quyền, Nhật Bản rõ ràng đang bị quyến rũ bởi sức hấp dẫn của Trung Quốc. Năm 2007, Trung Quốc đã qua mặt Hoa Kỳ trong vai trò đối tác thương mãi hàng đầu của Nhật. Khi lên nắm quyền thủ tướng, Hatoyama đã khôn khéo đưa ra đề nghị thành lập một Cộng Đồng Đông Á tương lai theo dạng thức Liên Hiệp Âu Châu. Trong viễn kiến của Hatoyama, mô hình nầy có thể là đòn bẩy giúp nâng cao địa vị của Nhật giữa một Trung Quốc đang lên và một Hoa Kỳ đang đi xuống. Tháng 12- 2009, trong khi Hoa Thịnh Đốn và Tokyo đang tranh chấp gay gắt về vấn đề căn cứ Okinawa, lãnh tụ đảng DPJ, Ichiro Ozawa, đã gửi một tín hiệu đến Hoa Thịnh Đốn cũng như Bắc Kinh khi đích thân hướng dẫn môt phái đoàn 143 đoàn viên các nhà lập pháp đảng ông qua thăm Trung Quốc trong 4 ngày.

Không có gì đáng ngạc nhiên, chính sách đầy ấn tượng và choáng ngợp của TQ đã tác động như chuông báo động ở Hoa Thịnh Đốn, nơi Trung Quốc luôn là tâm điểm quan ngại hàng đầu của nhóm hoạch định chiến lược bên trong Ngũ Giác Đài. Trong bối cảnh đó, căn cứ Futenma hay căn cứ thay thế tọa lạc rất đúng chỗ, trong trường hợp Hoa Thịnh Đốn cần quyết định gửi các đơn vị phản ứng nhanh đến eo biển Đài Loan, Nam Hải, hay bán đảo Triều Tiên. Các nhà hoạch định chiến lược Hoa Thịnh Đốn thường nhắc đến “khoảng cách độc tài” (tyranny of distance), đến khó khăn gửi quân đến hiện trường (boots on the ground) từ Guam hay Hawaii trong trường hợp khẩn cấp ở Đông Á.

Tuy nhiên, giá trị chiến lược tối đa của căn cứ Futenma thực sự cũng chẳng đáng quan tâm. Để đối phó với tình trạng khẩn cấp trên bán đảo Triều Tiên, Nam Hàn chắc chắn có nhiều khả năng hơn. Và Hoa Lục thực ra cũng ở trong tầm hoạt động của hỏa lực hùng hậu hàng không (Kadena), hàng hải (Yokosuka) của Hoa Kỳ. Vài nghìn thủy quân lục chiến sẽ chẳng mấy quan trọng. Tuy nhiên, trong môi trường chính trị đòi hỏi Ngũ Giác Đài phải quyết định lựa chọn khó khăn giữa việc tài trợ các cuộc chiến “chống trổi dậy” (counterinsurgency wars) và các hệ thống vũ khí thời chiến tranh lạnh, các lực lượng vận động hành lang “đe dọa Trung Quốc” (“China threat” lobby) không muốn bất cứ nhượng bộ nào dù nhỏ nhoi. Thất bại trong đòi hỏi di dời căn cứ Futenma ngay bên trong hải đảo Okinawa rất có thể chỉ là bước trượt chân đầu trên triền dốc trơn trợt có khả năng gây tốn kém hàng tỉ USD trong các loại vũ khí Chiến Tranh Lạnh vẫn đang nằm trong dây chuyền sản xuất. Thật khó lòng để biện minh việc mua sắm các đồ chơi cao cấp mà chẳng có sân chơi.

Vì lý do đó, chính quyền Obama đã gây áp lực nặng nề buộc Tokyo phải thực thi thỏa ước 2006. Tháng 10-2009, Obama còn gửi cả bộ trưởng quốc phòng Robert Gates tới thủ đô Nhật trước ngày chính thức công du Á châu. Tương tự như người cha nóng lòng cảnh cáo đứa con bướng bỉnh, Gates đã lên giọng thuyết giảng người Nhật phải tuân thủ thỏa ước – gây bất bình cả trong chính quyền mới lẫn công chúng Nhật.

Như có thể dự đoán, giới bình luận gia đã đồng lòng ủng hộ lập trường lưỡng đảng của nhóm đồng thuận Hoa Thịnh Đốn (Washington Consensus): chính quyền mới của Nhật cần phải làm quen với vai trò đàn em như các vị tiền nhiệm và phải chấm dứt thái độ bướng bỉnh đối nghịch. Biên tập viên Tred Hiatt báo Washington Post viết: Chính quyền Obama rất bất xúc với lối “ứng xử tay mơ của Hatoyama trong vấn đề nầy” . Victor Cha, nguyên giám đốc Á Châu Sự Vụ trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, nói thêm: “Hậu quả của sự thiếu vắng một chiến lược rõ ràng hay kế hoạch hành động của Hatoyama là lỗ trống chính trị lớn lao nhất trong hơn 50 năm qua” . Cả hai nhà bình luận đều không công nhận sự “thiếu vắng” hay “hành động tay mơ” duy nhất của Tokyo chỉ là đã dám chống lại Hoa Thịnh Đốn. Tạp chí The Economist đã nhấn mạnh một cách trắng trợn hơn: “Sự tranh chấp có thể đã gây tổn hại cho an ninh ở Đông Á trong dịp kỷ niệm 50 năm của một liên minh đã phục vụ khu vực nầy khá thành công. Dù khá khó khăn cho chính quyền mới ở Nhật, chính phủ Hatoyama cần phải chấp nhận phần lớn, dù không phải tất cả, các nhượng bộ” .

Thực ra, chính quyền Hatoyama không hề cực đoan hay chống Mỹ. Họ cũng không chuẩn bị đòi hỏi tất cả, hay ngay cả phần lớn các căn cứ quân sự, phải đóng cữa. Họ cũng không chuẩn bị ngay cả đóng bất cứ căn cứ nào trong khoảng trên 36 căn cứ ở Okinawa. Đòi hỏi khiêm tốn nhất của họ chỉ hạn chế vào căn cứ Futenma, nơi họ đang bị kẹt giữa công luận Nhật và áp lực của Ngũ Giác Đài.

Những quan chức chủ trương – Hoa Thịnh Đốn nên thương thảo với Tokyo về các mục tiêu phải thành đạt một cách nhẹ nhàng gián tiếp – đã lên tiếng khuyến cáo nên kiên nhẫn. Joseph Nye, kiến trúc sư chính sách Á châu của Hoa Kỳ thời Clinton, viết: “Nếu người Mỹ làm mất thể diện hay uy tín của chính quyền mới ở Nhật, và gây bức xúc hay oán hận trong công chúng Nhật, một chiến thắng về Futenma lúc đó chỉ có thể là một chiến thắng quá đắt giá” . Họ thúc dục Hoa Kỳ nên đợi đến mùa hè – khi DPJ tìm cách giành thêm vài ghế đại biểu trong cuộc bầu cử Quốc Hội sắp tới hầu loại bớt vài đối tác trong liên minh – nếu lúc đó Hoa Kỳ thấy hành động như vậy là cần thiết.

Tuy nhiên, ngay cả khi đảng SDP không còn hiện diện trong chính quyền để nêu vấn đề căn cứ Okinawa, DPJ vẫn phải đối mặt với tinh thần dân chủ của quần chúng. Người dân Okinawa triệt để chống đối một căn cứ mới. Cư dân ở Nago, nơi căn cứ có thể được xây như đã dự định, mới bầu lên một thị trưởng với nghị trình không chấp nhận căn cứ quân sự. Đã hẳn không một ai có thể quan niệm đảng cầm quyền mới đem lại dân chủ cho Tokyo lại bóp chết dân chủ ở Okinawa.

TÁC ĐỘNG DÂY CHUYỀN VÀ NHU CẦU CHIẾN LƯỢC MỚI

Bất cứ quân lực Hoa Kỳ đặt chân đến đâu ở hải ngoại, nơi đó nhiều phong trào sẽ mọc lên chống đối các hậu quả quân sự, xã hội, môi sinh của các căn cứ quân sự. Cho đến nay, các phong trào loại nầy đã ghi nhận được vài thành công, như việc đóng cữa căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ ở Vieques, Puerto Rico, năm 2003. Ở Thái Bình Dương, phong trào cũng đã để lại dấu ấn. Tiếp theo sau núi lửa bùng phát ở Mt. Pinatubo, các nhà hoạt động dân chủ ở Phi Luật Tân đã thành công đóng cữa căn cứ không quân Clark Air Force Base và căn cứ hải quân Subic Bay Naval Station trong hai năm 1991-1992. Về sau, các nhà hoạt động Nam Hàn đã thành công đóng cữa căn cứ khổng lồ Yongsan ở trung tâm thành phố Seoul.

Đã hẳn, trên đây chỉ là những thắng lợi phân bộ. Sau đó không lâu, Hoa Thịnh Đốn đã thương thảo thành công Thỏa Ước Các Lực Lượng Viếng Thăm (Visiting Forces Agreement) với Phi Luật Tân, theo đó quân lực Hoa Kỳ có thể tái giàn trải quân đội và trang bị ở Phi, và thay thế căn cứ Yongsan ở Hàn Quốc với căn cứ mới ở Pyeongtaek gần Seoul. Nhưng những thắng lợi không-ở-sân-sau-của-tôi (not-in-my-back-yard – NIMBY) cũng vẫn còn có đủ ý nghĩa vì đã buộc Ngũ Giác Đài phải chấp nhận một học thuyết quân sự đặt nặng tính di động của các vị trí. Quân đội Mỹ ngày nay dựa trên tính mềm dẻo của chiến lược (strategic flexibility) và phản ứng nhanh (rapid response), cả hai nhằm đối phó với những đe dọa bất thần và sự khả dĩ thay lòng đổi dạ của đồng minh.

Thực vậy, chính quyền Hatoyama có thể phải tập nói “không” với Hoa Thịnh Đốn về vấn đề các căn cứ ở Okinawa. Rõ ràng đang lưu ý đến sự khả dĩ nầy, Richard Armitage, nguyên thứ trưởng ngoại giao và nguyên đại sứ ở Nhật, đã gợi ý: Hoa Kỳ tốt hơn hết nên chuẩn bị “kế hoạch B (plan B)”. Dù sao, thắng lợi của phong trào chống căn cứ quân sự cũng chỉ mang tính phân bộ. Lực lượng Hoa Kỳ vẫn tiếp tục đồn trú ở Nhật, và đặc biệt ở Okinawa, và Tokyo chắc phải tiếp tục trả mọi chi phí duy trì các căn cứ.

Tuy nhiên, lên tinh thần nhờ các thắng lợi phân bộ nầy, các phong trào NIMBY có khuynh hướng lan tràn ở Nhật và trong khu vực, đặc biệt ở các căn cứ Okinawa, lục địa Nhật, và nhiều nơi khác trong Thái Bình Dương, kể cả Guam. Thực vậy, phong trào phản đối đã xuất hiện ở Guam chống lại dự kiến bành trướng Căn Cứ Không Quân Andersen và Căn Cứ Hải Quân Guam để đáp ứng nhu cầu các thủy quân lục chiến sắp chuyển đến từ Okinawa. Và điều nầy đã làm các nhà hoạch định Ngũ Giác Đài âu lo.

Trong Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ đã sử dụng chiến lược nhảy từ đảo nầy qua đảo khác để tiến ngày một gần hơn đến lục địa Nhật. Okinawa là hòn đảo cuối cùng và trận chiến quan trọng cuối cùng của chiến dịch, và thương vong trong trận chiến ở đó nhiều hơn số thương vong của bom hạt nhân sau đó ở Hiroshima và Nagasaki gộp lại: 12.000 quân Mỹ, hơn 100.000 quân Nhật , và có lẽ 100.000 thường dân Okinawa. Kinh nghiệm lịch sử nầy đã tăng cường ý chí hòa bình của người Okinawa.

Xung đột hiện nay về Okinawa một lần nữa đang diễn ra giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản, và một lần nữa, dân Okinawa vẫn là nạn nhân. Nhưng lần nầy có nhiều hy vọng người dân Okinawa sẽ thắng.

Một thắng lợi đóng cữa Futenma và ngăn chặn một căn cứ mới có thể là bước đầu trong quá trình ngược dòng nhảy vọt từ đảo nầy qua đảo khác. Cuối cùng, một ngày nào đó, phong trào NIMBY rất có thể sẽ thành công đẩy quân lực Mỹ ra khỏi Nhật Bản và Okinawa. Tuy nhiên, quá trình khó lòng hoàn toàn êm dịu và cũng khó thể sớm xẩy ra. Nhưng dù sớm dù muộn, như Armitage đã khuyến cáo, người Mỹ tốt nhất cũng cần chuẩn bị trước một kế hoạch B.

Khi bàn đến vấn đề rạn nứt trong lâu đài đế quốc Mỹ, như được đo lường qua khả năng các quốc gia trả lời “không” với Hoa Thịnh Đốn hay chỉ không nhìn cùng hướng khi các quan chức Hoa Kỳ đưa ra một đòi hỏi, Âu châu gần đây đã chiếm hầu hết các tin hàng đầu trên báo chí. Các xứ nầy trước đây cũng là những nước luôn hồ hởi hùa theo người Mỹ.

“Gates: NATO, in crisis…”, “Pull Your Weight, Europe”, “Gates: Europe’s demilitarization has gone too far”, “Dutch Retreat” …Tất cả những hàng tít đó chỉ quy về một nước – Hà Lan. Trước áp lực quần chúng ngày một gia tăng đối với chiến tranh ở Nam Á, Hà Lan quyết định sẽ rút quân khỏi Afghanistan, và nhiều thành viên NATO khác cũng đã tỏ thái độ úp mở trước lời thỉnh cầu của Mỹ cũng như rất dè dặt trong việc gửi quân tăng viện đến Afghanistan.

Sự thực, Âu châu còn lâu mới sẵn sàng nói “không” dứt khoát với Hoa Thịnh Đốn trong nhiều vấn đề. Ở Á châu, từ một nửa thế kỷ nay chưa một khách hàng nòng cốt nào của Mỹ đã trả lời “không”. Tuy nhiên, đôi khi chỉ cần một vết rạn nhỏ trên bề mặt cũng có thể đem lại nhiều đổi thay quan trọng. Trong trường hợp nầy, “một tiềm năng nói ‘không’ khiêm tốn nhất” của chính phủ mới ở Nhật về các căn cứ quân sự của Mỹ hình như đã gần như gây hoảng hốt ở Hoa Thịnh Đốn. Dù sao, ở Âu châu cũng như Á châu, chưa ai bao giờ đã cảm nhận các địa chấn chính trị.

Tuy nhiên, bên dưới bề mặt lắng dịu, các địa tầng chính trị toàn cầu đang cọ xát nhau, và ai có thể nói lúc nào, trong quá trình chuyển dịch quyền lực chậm chạp trên hành tinh, một trong các địa tầng sẽ trượt, và đột nhiên cán cân quyền lực toàn cầu sẽ đổi khác.

Trong một cọ xát về một căn cứ không mấy quan trọng ở Okinawa, thế giới cũng rất có thể sẽ cảm nhận những rung chuyển dọc theo đường rạn nứt Á châu trong kiến trúc quyền lực toàn cầu của Mỹ.

GS Nguyễn Trường
Irvine, California, U.S.A.
14-4-2010
 

            ©  http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org   Nguyễn Trường 
Advertisements