Thay đổi khí hậu: Thực tại chính trị vs Thực tại vật lý

Vietsciences-Nguyễn Trường               19/01/2010
 Những bài cùng tác giảSinh hoạt xã hội thường có hai thực tại: chính trị và khoa học. Như Hội Nghị Thượng Đỉnh Copenhagen đã chứng tỏ, thực tại khoa học và thực tại chính trị không luôn hòa nhịp.

Trước khi các phái đoàn đầu tiên đặt chân đến Đan Mạch, thực tế chính trị đã che mờ hy vọng của Copenhagen. Chỉ 36% dân Mỹ tin thay đổi khí hậu là do con người. Giới vận động hành lang đại diện khu vực kỹ nghệ năng lượng hóa thạch đã hầu như hoàn toàn chi phối Quốc Hội Hoa Kỳ, và Thượng Viện Mỹ còn phải thông qua luật mức trần khí thải và mậu dịch, vốn èo ọp đến độ các nhà khoa học lo ngại tác động không còn đáng kể đối với môi trường. Do đó, vì thiếu một nghị trình táo bạo, T T Obama đã đến Đan Mạch không được trang bị sứ mệnh đạt một thỏa hiệp.

Cùng lúc, thực tế chính trị đã đưa đến  một khế ước xã hội ngầm giữa chính quyền và nhân dân Trung Quốc. Theo đó, để đổi lấy ổn định chính trị,  Nhà Nước sẽ bảo đảm một tỉ suất tăng trưởng ổn định qua chương trình đại kỹ nghệ hóa, và vì vậy, cần rất nhiều năng lượng hóa thạch. Trong bối cảnh đó, Thủ Tướng Ôn Gia Bảo cố nhiên không thể chấp nhận mức trần khí thải mang tính ràng buộc, có thể làm chậm nhịp tăng trưởng của TQ.

Thực tế chính trị chi phối Hoa Kỳ và TQ – cả hai quốc gia gộp lại phải chiụ trách nhiệm khoảng 41% số khí thải trên thế giới – áp đặt một thực tế chính trị thứ ba lên phần còn lại của thế giới. Thực tế chính trị thứ ba giờ đây mang tên: The Copenhagen Accord hay Thỏa Ước Copenhagen. Mặc dù Obama đã ca ngợi Thỏa Ước như  bước đột phá vô tiền khoáng hậu, trong thực tế, đây chỉ là một thỏa ước không mang tính ràng buộc bên lề hội nghị giữa Hoa Kỳ và TQ (với Brazil, India và Nam Phi) – thỏa ước không chút thích ứng với tầm cỡ khủng hoảng, đến độ các quốc gia khác chỉ có thể đồng ý “ghi nhận”.

Theo ngôn từ của giới nghiên cứu môi trường, các chính quyền trên thế giới ngày nay đều đã xác quyết “nhận thức khoa học”:  bất cứ một gia tăng nào trên hai độ Celsius trong nhiệt độ toàn cầu đều “nguy hiểm” và  “đồng ý, theo khoa học, những cắt giảm sâu xa trong mức khí thải toàn cầu là khẩn thiết”. Điểm tiến bộ duy nhất trong thỏa ước là sáng lập Quỹ Khí Hậu Liên Hiệp Quốccó thể lên tới 100 tỉ mỗi năm vào năm 2020, mặc dù ngân khoản đó lấy từ đâu và sẽ chi tiêu như thế nào, không thấy nói rõ. Liên Hiệp Âu Châu và Nhật hứa đóng góp ít nhất là 10 tỉ; Hoa Kỳ chỉ 3,6 tỉ.

Ngoài ra, thỏa ước không hứa hẹn gì khác, không ngay cả nhắc đến mục tiêu  hay đặt những giới hạn mức khí thải mang tính ràng buộc. TQ – được xem như  xứ đang phát triển và được đặc miễn trách nhiệm giảm bớt khí thải theo Hiệp Nghị Thư Kyoto – đã phủ quyết một thỏa ước, theo đó, lẽ ra đã bị buộc phải giảm bớt 50% mức khí thải so với 80% đối với các nước phát triển vào năm 2050. Hoa Kỳ – chưa bao giờ phê chuẩn Hiệp Nghị Thư Kyoto – chỉ đồng ý cắt giảm 7% vào năm 2020. So với mức cắt giảm 20% của Liên Hiệp Âu Châu, mức cắt giảm quá nhỏ bé của Mỹ đã gây nghi ngờ Hoa Kỳ khó thể đạt được mức thỏa thuận vào năm 2050.

Theo Thỏa Ước Copenhagen, cắt giảm khí thải là hoàn toàn tự nguyện, và sẽ không có chế tài nếu không thực hiện mục tiêu cam kết. Nói tóm lại, trong thực tế, TQ và Hoa Kỳ đã đồng ý tham dự một môn thi tự mình thiết kế, với điều kiện không có gì khác biệt giữa điểm A hay điểm F.

Một vài người cho rằng thỏa ước đã bộc lộ chút ít tiến bộ – ít ra các nền kinh tế lớn cũng đã đồng ý: thế giới đang có vấn đề. Nếu thỏa ước không dọn đường cho một thỏa hiệp mang tính ràng buộc vào dịp họp thượng đỉnh về thay đổi khí hậu sắp tới ở Mexico City trong năm 2010, hy vọng một thỏa hiệp nào đó sẽ được ký kết vào năm 2012, khi giai đoạn đầu của Hiệp Nghị Thư Kyoto mãn hạn, hay vào năm 2015, khi Thỏa Ước Copenhagen, như đã dự liệu, phải được tái duyệt. Mười bảy năm đã trôi qua kể từ Hội Nghị Thượng Đỉnh Địa Cầu đầu tiên ở Rio de Janeiro và ngày ra đời của Thỏa Ước Khung Liên Hiệp Quốc về Thay Đổi Khí Hậu năm 1992, thế giới chỉ mới biết tập ngồi tập đứng; và có lẽ phải mất thêm mười bảy năm nữa mới mong chập chững tập đi.

Một vấn đề với lối làm việc tiệm tiến (incrementalism) là thiên nhiên không bao giờ tưởng thưởng việc cố gắng chỉ để cố gắng đơn thuần. Thiên nhiên cũng không quá hài lòng với “nhận thức luật thiên nhiên”, và cũng không dễ dàng mềm dẽo với hạn kỳ của thực tế chính trị. Thiên nhiên không mặc cả với những người luôn chối bỏ sự thật và các nhà vận động hành lang cho kỹ nghệ hóa thạch, không quan tâm đến GDP hay các thủ thuật  luật pháp hay thăm dò công luận. Các định luật vật lý chi phối thay đổi khí hậu bao giờ cũng chỉ là định luật vật lý, không biết nhân nhượng, và hậu quả chỉ có thể giảm bớt bằng cách duy nhất: phải cắt giảm khí thải carbon dioxide.

Tri thức khoa học hiện hữu chỉ cho chúng ta 50-50 cơ may: độ ấm toàn cầu chỉ gia tăng dưới mức 2°C khi  tất cả các quốc gia trên địa cầu cắt giảm 40% khí thải vào năm 2020. Phân tích của Liên Hiệp Quốc cũng đi đến kết luận: ngay cả khi tất cả các thỏa thuận ở Copenhagen được thực thi, chúng ta cũng vẫn phải đối diện gần 3°C gia tăng nhiệt độ. Và một phân tích hậu Copenhagen của nhóm nghiên cứu MIT cũng đã ước lượng: Thỏa Ước Copenhagen sẽ giữ mức gia tăng gần 3°C.

Nói một cách khác, nếu chính trị tiệm tiến (incremental politics) cứ tiếp tục, chắc chắn chúng ta sẽ đối diện với môt sự sụp đổ môi sinh nghiêm trọng:  băng tuyết ở Nam, Bắc cực sẽ tan nhanh, rừng núi Amazon và nhiều nơi khác sẽ trơ trụi, các thành phố ven biển như Copenhagen sẽ chìm dưới mực nước biển, và hạn hán sẽ ngự trị ở Phi châu – những nguyên nhân  sẽ đưa đến hàng trăm triệu người tị nạn trong tương lai.

Vì vậy, nhiệm vụ ngày một cấp thiết của phong trào climate justice hay công lý khí hậu là phải thay đổi thực tế chính trị. Ở Hoa Kỳ, phong trào phải nhắm vào các dân biểu nghị sĩ đã bị kỹ nghệ hóa thạch mua chuộc, cùng lúc phải đả kích văn hóa tiêu thụ, sử dụng năng lượng, và xe hơi. Điều nầy có nghĩa: phải cải tạo quá trình chính trị đối phó với thay đổi khí hậu. Quyết định của chính quyền Obama cho phép Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường (Environment Protection Agency – EPA) giám sát và quy định lượng carbon dioxide trong khí quyển là một hứa hẹn.  Nhưng thiếu lãnh đạo từ T T Obama ở Copenhagen là dấu hiệu rõ ràng Tổng Thống cần được thúc đẩy mạnh hơn,  trước khi chịu sử dụng quyền lực để đối phó với các đại công ty gây ô nhiễm.

Trên bình diện toàn cầu, các nhà hoạt động môi trường phải tìm hết cách gây sức ép thay đổi hệ thống đa quốc gia đang làm tê liệt LHQ, đã cho phép Hoa Kỳ và TQ áp đặt Thỏa Ước Tay Đôi lên toàn cầu ở Copenhagen. Phong trào phải phát huy các ý tưởng thay thế: tai họa thay đổi khí hậu, tạm ngưng tìm kiếm năng lượng hóa thạch mới (một vấn đề đã bị chỉ trích ở Copenhagen).  Đây là một nhiệm vụ năng nề trong những năm tháng trước mặt.

PHONG TRÀO CHỐNG ĐỐI TOÀN CẦU

Mary Robinson, nguyên Tổng Thống Ireland,  trò chuyện với  đám đông biểu tình  bên ngoài hội trường Hội Nghị Thượng Đỉnh, đã tuyên bố: “Tương lai của thế giới đang được quyết định tại đây trong vòng vài ngày tới”[1].Biểu tình chống đối ở Đan Mạch cũng chỉ là một trong hàng nghìn vận động quần chúng trên khắp thế giới vào ngày 12-12-2009, nhằm gây sức ép với T T Obama, Thủ Tướng Ôn Gia Bảo, và 115 nguyên thủ quốc gia, đang lần lượt đổ về tham dự những phiên họp cuối của Hội Nghị Thượng Đỉnh do Liên Hiệp Quốc bảo trợ.

Suốt thời gian Hội Nghị, các cơ quan truyền thông luôn đưa nhiều tin tức không mấy tốt đẹp. Tuy vậy, cũng có một số dấu hiệu đầy hy vọng – công luận đã đổi chiều : hội nghị thượng đỉnh đã chứng kiến sự trưởng thành của phong trào quần chúng toàn cầu đòi hỏi phải có hành động. Đa diện, trẻ trung, can đảm đòi hỏi điều-tưởng-như-không-thể, “phong trào khí hậu mới”là lực lượng hùng hậu thách thức chính quyền các quốc gia, các đại công ty, các định chế hùng mạnh khác, trong những năm sắp tới khi cuộc đấu tranh duy trì một hành tinh thích hợp cho sự sống đi vào kỷ nguyên hậu-Copenhagen.

Ngay từ Hội Nghị Thượng Đỉnh Địa Cầu năm 1992, các nhà vận động trên khắp thế giới đã kêu gọi phải có hành động mạnh mẽ để giảm thiểu thay đổi khí hậu, nhưng chưa bao giờ xã hội dân sự, kể cả giới truyền thông, lại hiện diện đông đủ và hùng tráng như ở Copenhagen. Ngay cả các đại biểu đang ẩn mình trong các phòng hội khu Bella Center – nơi các cuộc mà cả đang tiếp diễn – cũng không thể tránh khỏi áp lực đòi hỏi phải có hành động tức khắc.

Hành lang các phòng hội ở khu Bella Center đông nghẽn phóng viên báo chí và các nhà hoạt động thuộc nhiều chủng tộc, ngành nghề, trong khi biểu ngữ, bảng quảng cáo, đèn hiệu, đòi hỏi hành động và thay đổi, tràn ngập các đường phố. Trái với tường thuật của báo chí, 99,9% các nhà hoạt động đều đấu tranh bất bạo động. Động lực thúc đẩy họ là nổi bất bình và bức xúc vì chính quyền các nước đã không làm được những việc cần làm.

Tuy nhiên, phong trào đã ghi được một thành công quan trọng khi đưa ra nghị trình chính thức với yêu cầu then chốt – giảm lượng carbon dioxide trong không khí xuống 350 parts per million (ppm). Cuộc biểu tình ngày 12-12-2009 đã đánh dấu một bước ngoặc khi 39 quốc gia trong Liên Minh các Quốc Gia Tiểu Hải Đảo (Alliance of Small Island States) đã đề xướng một dự thảo thỏa ước công khai chấp nhận mục tiêu 350 ppm. Chỉ trong vòng vài ngày, theo Jamie Henn, thuộc nhóm hoạt động 350.org,  hơn 100 quốc gia – phần lớn là những xứ hải đảo nhỏ bé và nghèo nàn đang bị đe dọa bởi mực nước biển dâng cao, hạn hán, và các tác động khác của hiện tượng thay đổi khí hậu – đã chọn mục tiêu 350 ppm, đòi hỏi phải cắt giảm lượng CO2xuống mức 350 ppm để giới hạn mức gia tăng nhiệt độ toàn cầu ở mức 1,5°C trên mức thời tiền kỹ nghệ.

Mặc dù bị chế diễu ngây ngô về chính trị và tai họa về phương diện kinh tế, mục tiêu 350 ppm đã có cơ sở khoa học vững vàng cũng như đã được Rajendra Pachauri, chủ tịch Tiểu Ban Liên Chính Quyền về Thay Đổi Khí Hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change), và Lord Nicholas Stern, nguyên kinh tế trưởng Ngân Hàng Thế Giới, đã đích thân hậu thuẫn. Mới đây, Bill McKibben[2], trưởng ban tổ chức ngày hành động 12-12-2009, cũng đã ghi nhận trong tạp chí Mother Jones : với CO2 ở mức 387 ppm, các tảng băng ở hai cực địa cầu đã dần dần hóa lỏng, hạn hán đã luôn xẩy ra khắp vùng Tây Nam Hoa Kỳ , và lũ lụt mức kỷ lục ở Ấn Độ, ngày một trầm trọng. Và McKibben đã đặt câu hỏi, “phải chăng quý vị thực sự muốn lượng khí thải tăng lên mức 450 ppm?”[3]

Đã hẳn duy trì CO2 ở mức 350 ppm sẽ đòi hỏi một mức cắt giảm cực lớn lượng khí thải trong tương lai, cũng như một nổ lực phi thường tiết giảm lượng CO2 hiện hữu trong không khí, qua các chương trình trồng cây gây rừng và các hành động giảm thiểu carbon khác. Và thật chẳng quá đáng chút nào khi nói của các xứ lớn gây nhiều ô nhiễm đã rất phật lòng trước những luận đàm kiểu đó. Sự chống đối hay đề kháng chính yếu đến từ Hoa Kỳ và các cường quốc kỹ nghệ giàu có. Khí thải do các xứ nầy thải ra trong hơn 200 năm qua đã là nguyên nhân đưa đến hiện tượng hâm nóng toàn cầu. Trung Quốc, nước gây khí thải lớn nhất  hàng năm hiện nay cũng chống đối mãnh liệt. Thực vậy, số phận Hội Nghị Thượng Đỉnh Copenhagen rõ ràng tùy thuộc hai “siêu cường khí hậu”, Hoa Kỳ và TQ, đang manh tâm áp đặt nghị trình khí thải của họ lên toàn nhân loại. Đại diện các quốc gia đang phát triển và hải đảo nghèo khó đang chịu sức ép nặng nề của hai siêu cường. Chẳng hạn, TQ đã đề nghị xây các bệnh viện và trường học ở Burundi nếu quốc gia Đông Phi nầy chịu đi theo lập trường của họ.

Dị biệt sâu rộng giữa các nước giàu và các nước nghèo cũng đã được phơi bày qua các cuộc thảo luận căng thẳng về việc tài trợ mua bán và trao đổi mức khí thải giữa hai phía. Liên Hiệp Âu Châu đã đề nghị bỏ ra 11 tỉ trong ba năm để giúp các quốc gia đang phát triển chuyển qua các công nghệ xanh và thích ứng với tác động không thể tránh của hiện tượng thay đổi khí hậu. Các nước đang phát triển và các nhóm hoạt động, ngược lại, tố cáo các món tiền nhỏ bé trơ trẻn, đáng hổ thẹn của các đại cường giàu có. Theo họ, ngay cả Ngân Hàng Thế Giới, một định chế do các cường quốc kỹ nghệ khống chế, cũng đã ước tính các quốc gia đang phát triển phải cần tới 75  đến 100 tỉ mỗi năm để đối phó với thay đổi khí hậu. Lumumba Stanislaus Di-Aping, nhà ngoại giao Sudan, chủ tịch nhóm G- 77 gồm các quốc gia đang phát triển, đã than thở: số tiền nhỏ nhoi 10 tỉ “không đủ mua hòm chôn chúng tôi”[4].

NGƯỜI MỸ VÀ HIỆN TƯỢNG THAY ĐỔI KHÍ HẬU

Trước ngày bế mạc Hội Nghị Thượng Đỉnh, mọi phái đoàn đều hướng về T T Obama – rõ ràng còn được cảm tình của thế giới – với  hy vọng. Mọi người đều hiểu Obama đang phải đối mặt với sự chống đối của Quốc Hội Hoa Kỳ. Cuối cùng, Obama cũng chẳng đưa ra một đề nghị quan trọng và công bằng mang tính ràng buộc ở Copenhagen.

Cố nhiên, phong trào chống đối hùng hậu và đã trưởng thành của quần chúng sẽ không chấp nhận “No, WE CAN’T”như câu trả lời. Phản ứng toàn cầu chắc chắn sẽ nhanh chóng, mạnh mẽ, và dài lâu.

Trước khi Barack Obama đến dự hội nghị thượng đỉnh ở Copenhagen, công luận ở Hoa Kỳ đã có nhiều dấu hiệu không mấy thuận lợi.

Kết quả thăm dò công luận gần đây của Washington Post/ABC đã tiết lộ: tỉ số người Mỹ tin – hiện tượng hâm nóng toàn cầu đang thực sự xẩy ra – đã sụt giảm tám điểm trong năm qua. Kết quả thăm dò Pew, vừa công bố trong tháng 10-2009, còn đáng lo ngại hơn: 57% (so với 71% trước đây) tin có bằng chứng thay đổi khí hậu, và chỉ 36% (so với 47%) nghĩ  sinh hoạt của con người là nguyên nhân. Số người tin – đây là một vấn đề rất nghiêm trọng – sụt xuống còn 35%.

Tuy nhiên, điều đáng lạc quan là đa số dân chúng đang ủng hộ luật giới hạn mức khí thải và mậu dịch (cap and trade legislation). Câu hỏi được đặt ra là trong khi Quốc Hội cuối cùng cũng đã bắt đầu lưu ý vấn đề, và thế giới, hơn bao giờ hết, đã sẵn sàng tranh đấu tìm giải pháp cho hiện tượng hâm nóng toàn cầu, người Mỹ hình như vẫn còn giữ thái độ chối bỏ.

Có nhiều nguyên nhân: thời tiết trong mấy năm vừa qua tương đối ôn hòa; khủng hoảng kinh tế đã đẩy các vấn đề không cấp thiết xuống mức ít được quan tâm. Tuy nhiên,  phần lớn những người không tin ở bằng chứng khoa học của hiện tượng thay đổi khí hậu cũng chỉ vì lý do chính trị đảng phái: đối với một số khá đông người Mỹ bảo thủ trong kỷ nguyên mới hiện nay, nếu Barack Obama nói đến thay đổi khí hậu, họ sẽ lập tức nói ngược lại.

Nói chung, nhiều người đang quan tâm cách đề cập vấn đề của các nhà lập pháp đảng Dân Chủ và các nhà hoạt động cấp tiến: hình như không ai nói đến tính tai họa của hiện tượng thay đổi khí hậu. T T Obama, khi đề cập luật mức trần khí thải và mậu dịch đã được Hạ Viện thông qua (chính thức mang tên: American Clean Energy and Security Act – tránh nhắc đến từ ‘khí hậu’), đã nói: “Đồng bào chớ lầm lẫn – đây là luật về việc làm”[5]. Ed Markey, đồng bảo trợ dự luật, còn nói rõ thêm: “đây là luật tạo công ăn việc làm. Luật sẽ tạo hàng triệu công việc mới dùng năng lượng sạch với động lực thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường năng lượng”[6]. Nhiều người khác cũng đã nói tương tự. Chẳng hạn,  một hảng quảng cáo đã phổ biến: “Nước Mỹ phải chấm dứt khủng hoảng kinh tế và lệ thuộc vào dầu nước ngoài”. Bằng cách nào? “một đạo luật tạo việc làm sử dụng năng lượng sạch”.

Thực vậy, một đạo luật như thế sẽ đem lại động lực thúc đẩy canh tân kinh tế theo chiều hướng tạo thêm công ăn việc làm. Với thời gian, nếu được tiếp tục, các chính sách quân sự và ngoại giao Hoa Kỳ có thể sẽ thoát khỏi lệ thuộc dầu khí nước ngoài. Nhưng đây không phải là lý do chính của đạo luật.  Mục tiêu chính là chận đứng hiện tượng hâm nóng hành tinh.

Sở dĩ chính quyền Obama chưa thể trực tiếp nói rõ, lý do là nhiều cuộc thăm dò dư luận gần đây cho thấy quần chúng chưa mấy quan tâm hiện tượng thay đổi khí hậu. Người Mỹ đang quan tâm đến việc làm thay vì lượng khí thải (carbon dioxide) trong không khí. Vì vậy, tỉ số người ủng hộ lập trường – chính con người là nguyên nhân gây ra hiện tượng hâm nóng toàn cầu – đã suy giảm rõ rệt trong khi hậu thuẫn cho giải pháp vẫn không suy giảm, mặc dù đa số chưa hiểu rõ giải pháp đó là gì.

Tuy nhiên,  một khi luật cải cách y tế đã đi vào dĩ vãng, sự giận dữ của phe hữu chắc chắn sẽ chuyển hướng qua luật mức trần khí thải và mậu dịch. hậu thuẫn dành cho giải pháp thay đổi khí hậu, do đó, rất có thể sẽ bị suy giảm. Phe Cộng Hòa sẽ lập luận, có nhiều phương cách để đem lại việc làm và giảm bớt sự lệ thuộc vào dầu lửa nước ngoài. Luận cứ của phe Dân Chủ lúc đó ắt phải là: luật mức trần khí thải và mậu dịch không những giúp đem lại nhiều công ăn việc làm, mà còn giúp giải quyết tai họa thay đổi khí hậu. Nhưng trừ phi lập luận của phe Dân Chủ cùng lúc căn cứ trên tác động tạo công ăn việc làm và ngăn chặn hiện tượng hâm nóng toàn cầu, phe dân chủ sẽ khó  lòng thắng cuộc. Phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc, Robert Gibbs, trong một lần họp báo, đã nói: “Thay đổi khí hậu đang xẩy ra. Thật tình, tôi không nghĩ đó là điều nhiều người còn nghi ngờ”[7].

Trong mọi trường hợp, người Mỹ khó thể thành công trong nổ lực ngăn ngừa hiện tượng hâm nóng toàn cầu mà không nhắc đến cụm từ “thay đổi khí hậu”.Vì vậy, bắt đầu với Copenhagen,  liên minh rộng lớn giữa các quốc gia, quyết tâm không  gây tai họa cho đồng loại trên thế giới, cần nhanh chóng đặt hiện tượng thay đổi khí hậu trở lại vị trí  trung tâm trong các cuộc thương nghị nay mai.

NHÓM G-77 VÀ THAY ĐỔI KHÍ HẬU

Vào ngày thứ chín của Hội Nghị Copenhagen, Phi châu đã bị hy sinh. Lập trường của Nhóm G-77 , kể cả các quốc gia Phi châu, đã rõ ràng: 2 độ C gia tăng trong nhiệt độ trung bình toàn cầu tương đương với từ 3-3,5 độ gia tăng ở Phi châu.

Theo Liên Minh Công Bằng Khí Hậu Xuyên Phi Châu[8], điều nầy có nghĩa “thêm 55 triệu người có thể bị đói và nạn thiếu nước có thể ảnh hưởng đến 350 đến 600 triệu người khác”[9]. Tổng Giám Mục Desmond Tutu đã phát biểu: “Chúng tôi đang đối diện với thảm họa đang chờ đợi trên một tầm mức lớn lao … Một mục tiêu toàn cầu giới hạn mức gia tăng ở khoảng 2 độ C sẽ đặt Phi châu vào lò thiêu và không thể có được tăng trưởng hiện đại”[10].

Tuy nhiên, đó chính là điều Thủ Tướng Ethiopia, Meles Zenawi, đã đề nghị khi dừng chân ở Paris trên đường đến Copenhagen. Đứng cạnh T T Nicolas Sarkozy, và trong tư cách đại diện cho toàn Phi châu (Zenawi cầm đầu nhóm thương thảo về khí hậu của Phi Châu), ông đã tiết lộ kế hoạch – giới hạn mức gia tăng ở 2 độ C đáng ghê sợ nói trên và số trợ cấp cho các nước đang phát triển 10 tỉ mỗi năm, để giúp trang trải mọi  thứ  liên hệ đến khí hậu, từ xây đê ven biển, đến trị sốt rét, cho đến chống phá rừng.  

Ba tháng trước đó, cũng chính Zenawi đã nói: “Chúng tôi sẽ dùng số dân đông đảo  để phủ nhận tính chính đáng của bất cứ thỏa ước nào không phù hợp với lập trường tối thiểu của chúng tôi… Nếu cần, chúng tôi sẵn sàng rời bỏ bất cứ cuộc thương  nghị nào đe dọa thêm một lần hãm hiếp lục địa của chúng tôi. .. Điều chúng tôi không sẵn sàng sống chung là hiện tượng hâm nóng toàn cầu trên mức tối thiểu có thể tránh được. Và chúng tôi sẽ tham dự các cuộc thương thảo sắp tới, không như những kẻ cầu xin biện hộ cho trường hợp của chúng tôi,  mà như những nhà thương thuyết bảo vệ quan điểm và quyền lợi của chính chúng tôi”[11].

Người ta chưa rõ Zenawi đã nhận được gì để thay đổi thái độ hay bằng cách nào Zenawi đã thay đổi lập trường từ 400 tỉ tài trợ mỗi năm (lập trường Nhóm Phi Châu)xuống còn 10 tỉ. Cũng không ai biết điều gì đã xẩy ra sau khi ngoại trưởng Hillary Clinton hội kiến với Gloria Arroyo, tổng thống Phi Luật Tân, chỉ ít tuần trước Hội Nghị Thượng Đỉnh, khi các nhà thương thuyết cứng rắn Phi Luật Tân đột nhiên thay đổi lập trường: Thay vì đòi hỏi các nước giàu cắt giảm khí thải sâu xa, họ lại xếp hàng đi theo các đại cường.

Tuy nhiên, đã có khá nhiều người đã biết, sau khi chứng kiến những sự trở mặt đáng buồn vừa nói, nhóm G-8 đã sẵn sàng làm bất cứ điều gì để đạt cho kỳ được một thỏa ước ở Copenhagen. Tình trạng khẩn trương rõ ràng không do nhiệt tình ước muốn tránh hiện tượng  thay đổi khí hậu đầy tai họa, vì các nhà thương thuyết của các xứ giàu hiểu rất rõ những đề nghị cắt giảm khí thải nhỏ nhoi của họ, theo lời Bill McKibben, là một bảo đảm nhiệt độ toàn cầu sẽ gia tăng 3,9 độ C.

Theo Matthew Stilwell, thuộc Viện Quản Lý và Phát Triển Bền Vững (Institute for Governance and Sustainable Development), một trong những cố vấn uy tín trong các cuộc hội đàm, các cuộc thương nghị thực sự chẳng phải để tránh hiện tượng thay đổi khí hậu, mà là trận chiến giành giựt một tài nguyên quý hiếm: quyền sử dụng bầu trời. Chỉ một số carbon hạn chế có thể thải vào không khí. Nếu các nước giàu không muốn tự họ cắt giảm phần lớn khí thải, lúc đó họ phải chiếm đoạt phần, vốn đã ít ỏi, của các xứ nghèo nàn ở  Nam Bán Cầu. Stilwell lập luận, điều giành giựt không gì khác hơn là “tầm quan trọng của sự chia sẻ bầu trời”[12].

 

Stilwell nói, Âu châu hiểu rất rõ số tiền có thể kiếm được từ việc mua bán carbon, bởi lẽ Âu châu đã sử dụng cơ chế nầy trong nhiều năm qua. Ngược lại, các nước đang phát triển chưa hề làm quen với cơ chế giới hạn lượng carbon , vì vậy, nhiều chính quyền chưa thực sự hiểu rõ những gì họ đang đánh mất. So sánh giá trị của thị trường carbon – theo kinh tế gia người Anh, Nicholas Stern, 1.200 tỉ mỗi năm – với con số nhỏ nhoi 10 tỉ các nước giàu hứa hẹn tài trợ mỗi năm cho các xứ nghèo, Stilwell nói, các nước giàu đang tìm cách lấy “chuổi hột và chăn mền đổi lấy khu Manhattan[13]“. Ông nói thêm: “Đây là thời đại của chủ nghĩa thực dân. Vì vậy, họ phải làm mọi cách để nguyên thủ các quốc gia ký vào thỏa ước loại nầy… Sau đó, không còn đường thối lui. Quý vị đã cắt xẻ tài nguyên không ai làm chủ cuối cùng còn lại và phân phối cho các nước giàu”[14].

Trong nhiều tháng qua, NGOs (các tổ chức phi chính phủ) đã đứng sau thông điệp: mục tiêu ở Copenhagen là ký thỏa ước. Khắp Trung Tâm Bella, không khí thật sự hối hả. Nhưng mọi giao dịch thỏa thuận đều không đủ tốt, nhất là vì giao dịch duy nhất được đưa ra sẽ không giải quyết khủng hoảng khí hậu và có thể tệ hại hơn nhiều, vì sẽ gói ghém và kéo dài vô hạn định những bất bình đẳng hiện hữu giữa các quốc gia giàu có phương Bắc và các quốc gia nghèo khó phương Nam. Augustine Njamnshi, thuộc Liên Minh Công Bằng Khí Hậu Xuyên Phi Châu, đã chỉ trích gay gắt “đề nghị 2 độ C” như sau: “Quý vị không thể nói quý vị đang đề nghị  giải pháp cho hiện tượng thay đổi khí hậu nếu giải pháp của quý vị sẽ đưa đến hàng triệu dân Phi Châu phải thiệt mạng và nếu chỉ người nghèo, thay vì các xứ gây ô nhiễm, tiếp tục gánh chịu mọi tổn hại do thay đổi khí hậu”[15].

Stilwell nói, một thỏa ước sai lầm “sẽ khóa chặt cách tiếp cận sai lầm mãi cho đến năm 2020”[16] –  sau ngày khí thải đã đạt mức đỉnh điểm. Nhưng Stilwell nhấn mạnh, vẫn chưa quá muộn để tránh tình huống tệ hại nầy. “Tôi thà đợi sáu tháng hay một năm để có một thỏa ước đứng đắn, bởi lẽ khoa học liên tục tiến bộ, ý chí chính trị sẽ ngày một gia tăng, tri thức của xã hội dân sự và các cộng đồng bị ảnh hưởng ngày một sâu rộng, và họ sẽ sẵn sàng buộc các nhà lãnh đạo phải tranh thủ một thỏa ước đứng đắn”[17].

Lúc khởi đầu những  cuộc thương nghị, ý tưởng trì hoản, tự nó,  đã là một “tà đạo về môi trường”[18]. Nhưng ngày nay nhiều người đã thấy rõ giá trị của quá trình “thà chậm mà đúng”. Nhưng quan trọng hơn nữa, sau khi mô tả đề nghị 2 độ C sẽ có ý nghĩa như thế nào với Phi Châu, Tổng Giám Mục Tutu đã tuyên bố: “thà không có thỏa ước còn hơn một thỏa ước xấu”[19]. Có lẽ đó là hy vọng tốt nhất ở Copenhagen. Nó có thể là một tai họa chính trị đối với vài nguyên thủ quốc gia – nhưng cũng có thể là cơ may chót để tránh tai họa thực sự cho tất cả thế giới.

THỰC TẠI CHÍNH TRỊ vs THỰC TẠI VẬT LÝ

Phần lớn các luận cứ chính trị không bao giờ hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai: bảo hiểm y tế và thuế vụ, chiến tranh và hòa bình. Tranh luận chính trị, dù hùng hồn hay hăng say đến mấy,  cũng chỉ liên hệ  sở thích của con người. Vì vậy, nghệ thuật làm chính trị là phải biết thỏa hiệp. Giải pháp cho mọi vấn đề chính trị, dù sớm dù muộn, thường đưa đến một hình thức dung hòa nào đó – give and take hay compromise.

Cũng chính vì vậy, chuẩn mực của sinh hoạt chính trị, nhất là  ở Hoa Kỳ,  là từng bước tiến nhỏ, và khó lòng đốt giai đoạn. Cải tổ hệ thống y tế là một ví dụ. Trước sự chống đối cuồng nhiệt của kỹ nghệ bảo hiểm và kỹ nghệ dược phẩm,  “mô hình một người trả” – “a single payer model”,giống như nhiều nước ở Âu châu hay Gia Nã Đại, rất khó được người Mỹ chấp nhận hiện nay. Vì lý do đó, ít ứng viên tổng thống muốn đem vào nghị trình tranh cử, và những ứng viên chọn mô hình nầy, cho đến nay, đều khó thành công.

Đường lối tiệm tiến (incrementalism) thường gây bức xúc, đôi khi tai họa. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chính trị tiệm tiến cũng có thể đem lại ổn định và chuẩn bị hay làm dễ dàng cho những bước kế tiếp.

Nhưng thay đổi khí hậu không phải vấn đề chính trị. Hiện tượng khí thải nhà kính là một vấn đề vật lý. Đối thủ không phải Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ, hay Đảng Xã Hội, khiếm hụt ngân sách, tài chánh thuế vụ, hay kỳ thị giới tính, chủng tộc … những đối thủ có thể thay đổi qua thời gian. Đối thủ ở đây là định luật vật lý.

Định luật vật lý đã đặt một mức sàn bất di bất dịch cho sự sống trên hành tinh. Hơn hai năm nay, chúng ta đã biết được mức sàn đó là gì. Các chuyên gia NASA, do James Hansen cầm đầu, là nhóm cho thông tin đầu tiên. Bất cứ lượng carbon dioxide (CO2) nào trong không khí lớn hơn 350 parts per million đều không thích hợp với sự sống quen thuộc trên địa cầu. Mức trần nầy sẽ không thay đổi: trên 350 ppm, không sớm thì muộn, các băng tuyết ở Bắc cực và Nam cực sẽ tan dần, mực nước biển sẽ dâng cao, chu kỳ mưa nắng sẽ rối loạn, v.v…

Định luật vật lý không những áp đặt một mức trần, vật lý còn áp đặt một giới hạn thời gian. Nếu không quan tâm tìm giải pháp, vấn đề sẽ mỗi năm một tồi tệ, và đến một thời điểm nào đó, vấn đề không còn có thể giải quyết – vì băng tuyết ở hai cực địa cầu sẽ hóa lỏng, sẽ làm gia tăng lượng methane trong khí quyển,  và con người không bao giờ có thể vãn hồi bầu không khí an toàn. Lúc đó, dù Quốc Hội Mỹ và Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc đạt được đồng thuận cấm sử dụng mọi loại xe  và đóng cửa các nhà máy năng lượng, thì cũng đã quá muộn màng.

Lượng CO2trong không khí hiện nay đã lên tới 390 ppm, trong khi lượng methane trong khí quyển cũng đang tăng nhanh. Điều nầy có nghĩa chúng ta không còn có thể ngăn ngừa hiện tượng hâm nóng toàn cầu, mà may lắm, cũng chỉ hy vọng ngăn ngừa sự lan tràn đến tầm cỡ  có thể chấm dứt mọi văn minh trên hành tinh.

Sau khi đến Copenhagen, T T Barack Obama đã xử lý hiện tượng hâm nóng toàn cầu  như một vấn đề chính trị thông thường: hứa sẽ cắt giảm 17% khí thải nhà kính so với mức năm 2005 vào năm 2020. Đề nghị nầy tương đương với 4% cắt giảm từ mức năm 1990, năm dùng làm chuẩn để so sánh đo lường, trong khi các nhà khoa học đã tính toán: các quốc gia kỹ nghệ hóa tiền tiến cần cắt giảm 40% mức khí thải mới có hy vọng vãn hồi môi trường khả sinh.

Tuy vậy, ngay cả mức cắt giảm 17% cũng có thể là một con số quá cao đối với Thượng Viện Mỹ. Thực vậy, Nghị Sĩ Jim West (Dân Chủ, đại diện cho kỹ nghệ than đá) đã viết thư cho T T Obama trong tháng 12-2009:”Tôi muốn tổng thống biết,  tôi rất quan ngại, theo tường thuật báo chí, Chính Quyền của Ngài có thể tin đủ thẩm quyền đơn phương cam kết thay cho Hoa Kỳ một mức cắt giảm khí thải nhất định có thể thỏa thuận ở Copenhagen… Cụm từ ‘ràng buộc chính trị’ đã được sử dụng. Như Ngài đã biết rõ ngay từ thời Ngài còn ở Thượng Viện, chỉ một đạo luật đặc biệt do Quốc Hội chấp thuận, hay một hiệp ước do Thượng Viện phê chuẩn, mới thực sự có thể tạo ra một cam kết như thế thay cho Hoa Kỳ”[20].

Trong mọi trường hợp, Thượng Viện đã quyết định sẽ không thảo luận luật thay đổi khí hậu cho đến “mùa xuân”,sau khi đã hoàn tất luật y tế, và có thể luật cải cách quyền lợi xã hội (entitlement), và có lẽ ngay cả luật giám sát tài chánh. Và lúc đó đã quá gần ngày bầu cử giữa kỳ!

Trong lúc đó, TQ có vẻ đã sẵn sàng đưa ra đề nghị cắt giam 40% ‘cường độ năng lượng’ (energy intensity) trong nền kinh tế vào 2020. Nói một cách khác, họ cho rằng:  họ chỉ cần dùng một số năng lượng, 40% ít hơn vào năm 2020, để sản xuất một sản phẩm hay dịch vụ trị giá một nhân dân tệ. Điều nầy, cố nhiên, tốt hơn là chẳng làm gì hết, nhưng cũng chỉ tương đương với những gì, theo các chuyên viên, sẽ đương nhiên xẩy ra vì lúc đó kinh tế TQ đã được công nghệ hóa cao độ và có năng  suất cao hơn. Như vậy, 40% ít hơn cũng chỉ có nghĩa một thay đổi rất nhỏ trong phương cách làm ăn bình thường (business as usual)của TQ.

Cùng lúc, Ấn Độ xuýt nữa đã truất phế bộ trưởng môi trường của họ chỉ vì báo chí quả quyết  ông đã vi phạm quyền lợi quốc gia khi tham dự đàm phán nghiêm túc về thay đổi khí hậu.

Trong lúc đó,  ở Úc Đại Lợi,  lãnh đạo phe đối lập tháng trước cũng đã bị truất phế chỉ vì đã tỏ ý thỏa hiệp với Chương Trình Mua Bán Khí Thãi, vốn đã được thỏa hiệp trước đó (compromised Emissions Trading Scheme)và lẽ ra đã quy định mức trần khí thãi – có nghĩa:  sẽ chẳng có thỏa hiệp nào.

Theo phân tích mới được phổ biến gần đây của hiệp hội các định chế nghiên cứu (think-tanks) Âu châu, tất cả các đề án khác nhau được đưa ra thương nghị cũng chỉ  dẫn đến một thế giới với  bầu khí quyển có lượng khí thải 650 ppm và nhiệt độ gia tăng 5 độ Fahrenheit.

Tóm lại, như lời của Bill McKibben, ngay cả những chính khách lỗi lạc cũng đang xử lý vấn đề thay đổi khí hậu như một vấn đề chính trị thông thường: tìm một giải pháp trung dung để đạt đồng thuận giữa các quốc gia có quyền lợi đối nghịch, và có thể giúp giảm bớt áp lực chính trị trong vài năm, sau đó các người kế nhiệm sẽ lại phải tìm cách giải quyết.

T T Obama cũng đã hành động tương tự, xử lý vấn đề thay đổi khí hậu như hiện đang xử lý chương trình bảo hiểm y tế. Thật không may, đối thủ ở đây không chút khoan nhượng. Thái độ chính trị thực tiển, cầu hòa, không có chỗ đứng trong thế giới vật lý. Giải pháp ở đây đòi hỏi phải dốc toàn lực, phải cải hoán cơ sở kỹ nghệ của từng nước, phải dành ưu tiên , phải hy sinh.

Trước cảnh báo của phong trào 350.org, của nhóm G-77, của Mohamed Nasheed, tổng thống Maldives – một quốc gia hơn nghìn hải đảo trong Ấn Độ Dương không mấy cao hơn mực nước biển,  nguyên thủ các quốc gia chỉ có thể đặt bút ký vào một văn kiện tượng trưng, mang tính chính trị, ở Đan Mạch. Mặc dù T T Obama và nguyên thủ các quốc gia Âu châu có thể đã gọi đây là một bước đột phá (breakthrough) ngoạn mục, nhân loại vẫn phải tiếp tục thương nghị trong nhiều năm tới. Trong lúc chờ đợi, kim đồng hồ vật lý vẫn lạnh lùng làm việc, băng tuyết ở Nam, Bắc Cực vẫn tiếp tục tan lỏng, hạn hán vẫn lan tràn…

Hiện tượng thay đổi khí hậu: thực tại vật lý hay thực tại chính trị?  Đó mới thực sự  là vấn đề !

© GS Nguyễn Trường
Irvine, CA, USA 16-01-2010 


[1] The future of the world is being decided here over the next few days.

[2] Học giã Bill McKibben, thuộc Middlebury College, tác giã The End of Nature, xuất bản năm 1989, đươc45 xem như tác phẩn đầu tiên viết về hiện tượng hâm nóng toàn cầu. McKibben đồng thời cũng là sáng lập viên tổ chức 350.org, vân động cho phong trào chủ trương cắt giảm lượng carbon dioxide xuống mức 350 ppm trên toàn thế giới.

[3] You really want to go for 450?

[4] [That] is not enough to buy the coffins to bury us.

[5] Make no mistake: this is a jobs bill.

[6] This is a jobs bill. It will create millions of new industries with incentives to drive competition in the energy marketplace.

[7] Climate change is happening. I don’t think that’s anything that is, quite frankly, among most people, in dispute anymore.

[8] Pan African Climate Justice Alliance.

[9] [According to the Pan African Climate Justice Alliance], an additional 55 million people could be at risk from hunger and water stress could affect between 350 and 600 million more people .

[10] We are facing impending disaster on a monstruous scale …A global goal of about 2 degrees C is to condemn Africa to incineration and no modern development.

[11] We will use our numbers to deligitimize any agreement that is not consistent with our minimal position… If need be, we are prepared to walk out of any negotiations that threaten to be another rape of our continent… What we are not prepared to live with is global warming above the minimum avoidable level. And we will participate in the upcoming negotiations not as supplicants pleading for our case but as negotiators defending our views and interests.

[12] …the importance of sharing the sky.

[13] …beads and blankets for Manhattan.

[14] This is a colonial moment. That’s why no stone has been left unturned in getting heads of state here to sign off on this kind of deal…. Then there’s no going back. You’ve carved up the last remaining unowned resource and allocated it to the wealthy.

[15] You cannot say you are proposing a ‘solution’ to climate change if your solution will see millions of Africans die and if the poor not the polluters keep paying for climate change.

[16] …lock in the wrong approach all the way to 2020.

[17] I’d rather wait six months or a year and get it right because the science is growing, the political will is growing, the understanding of civil society and affected communities is growing, and they’ll be ready to hold their leaders to account to the right kind of deal.

[18] …environmental heresy.

[19] …. better to have no deal than to have a bad deal.

[20] I would like to express my concern regarding reports that the Administration may believe it has the unilateral power to commit the government of the United States to certain standards that may be agreed in Copenhagen… The phrase ‘politically binding’ has been used. As you well know from your time in the Senate, only specific legislation agreed upon ti the Congress, or a treaty ratified by the Senate, could actually create such a commitment on behalf of our country.

 

 

            ©  http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org    Nguyễn Trường