HOA KỲ-IRAN VÀ EO BIỂN HORMUZ

Sau ngày 27-12-2011,  mây mù chiến tranh ngày một bao phủ Eo Biển Hormuz nối liền Vịnh Ba Tư với Ấn Độ Dương, và xa hơn nữa, với Thái Bình Dương. Ngay hôm đó, Phó TổngThống Mohammad Reza Rahimi đã cảnh cáo: Tehran có thể ngăn chặn lưu thông hàng hải qua eo biển và gây xáo trộn trên các thị trường năng lượng quốc tế, nếu Tây Phương áp đặt các chế tài kinh tế mới lên Iran.

Rahimi tuyên bố: “Nếu họ áp đặt các chế tài lên dầu xuất khẩu của Iran, lúc đó ngay cả một giọt dầu cũng không thể chảy qua Eo Biển Hormuz.”[1] Xác quyết một động thái như thế sẽ được xem như  tấn công vào quyền lợi sinh tử của Hoa Kỳ, T T Obama, theo tường trình của báo chí, đã thông tri cho lãnh tụ tối cao  Iran Ayatollah Ali Khamenei,  Hoa Thịnh Đốn sẽ dùng vũ lực để duy trì tự do lưu thông qua eo biển. Để hậu thuẩn cho lời đe dọa, cả hai bên đã tăng cường lực lượng trong khu vực và tổ chức các đợt thao diễn quân sự mang tính răn đe.

Bổng chốc, Eo Biển Hormuz đã trở thành điểm nóng bỏng nhất hành tinh, một địa điểm rất dễ chứng kiến một cuộc xung đột lớn giữa các đối thủ trang bị vũ khí hiện đại.

Tại sao tình hình lại đã trở nên sôi sục đến thế? 

Đã hẳn, dầu là yếu tố quan trọng của câu trả lời, nhưng cũng chỉ một phần — một nhận thức có thể gây ngạc nhiên.

Dầu lửa vẫn luôn là nguồn năng lượng chính yếu của thế giới, và vào khoảng 1/5 số cung dầu của hành tinh được chuyển tải bằng tàu dầu đi qua eo biển. Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ vào hồi cuối năm 2011 đã ghi nhận: “Hormuz là điểm tắc nghẽn dầu lửa quan trọng nhất thế giới vì dòng chảy qua eo biển đã lên gần 17 triệu thùng mỗi  ngày trong năm 2011.”[2]

Vì không một khu vực nào khác có khả năng thay thế 17 triệu thùng dầu mỗi ngày, bất cứ một sự đóng cửa kéo dài nào cũng có thể gây ra nạn khan hiếm toàn cầu và tăng giá dầu, với xáo trộn và hoảng sợ chắc chắn theo sau.

Trong tình huống đó,  không ai có thể biết chắc giá dầu sẽ lên cao bao nhiêu, nhưng nhiều nhà phân tích năng lượng tin, gía dầu mỗi thùng  sẽ lập tức tăng vọt, thêm khoảng 50 USD hay cao hơn nữa. Theo Lawrence J. Goldstein, một quản trị viên trong Cơ Quan Nghiên Cứu Chính sách Năng Lượng, “bạn sẽ thấy một phản ứng quốc tế không những cao, mà còn cao một cách thiếu duy lý.”[3]

Mặc dù các chuyên gia quân sự tin, Hoa Kỳ sẽ sử dụng sức mạnh áp đảo của mình để quét sạch mọi bom mìn và chướng ngại trong vài ngày hay vài tuần, tình trạng hổn độn trong khu vực có thể khó kết thúc nhanh chóng. Vì vậy, giá dầu sẽ ở một mức cao khá lâu dài. Thực vậy, vài nhà phân tích e ngại giá dầu , hiện đang ở khoảng 100 USD mỗi thùng, có thể nhanh chóng tăng gấp đôi lên trên 200 USD, xóa nhòa mọi viễn ảnh phục hồi kinh tế ở Hoa Kỳ và Tây Âu, và có thể xô đẩy hành tinh trở vào đại suy thoái.

Người Iran hiểu rất rõ điều nầy. Và với kịch bản ác mộng đó, họ đang tìm cách làm nản lòng giới lãnh đạo Tây Phương trong mưu toan áp đặt các chế tài kinh tế mới cũng như các hành động che dấu khác khi họ đe dọa đóng cửa eo biển. Nhằm đánh tan mọi âu lo, các quan chức Hoa Kỳ cũng đã tỏ ra không kém cứng rắn khi nhấn mạnh quyết tâm duy trì tự do lưu thông trong eo biển.

Trong tình huống cực kỳ căng thẳng đó, bất cứ một bước sai lầm bởi bất cứ bên nào cũng có thể kéo theo những tai họa khôn lường và cũng có thể biến đổi thái độ hay ngôn từ hiếu chiến thành xung đột thực sự.

CHÚA TỂ VÙNG VỊNH BA TƯ

Nói một cách khác, dầu lửa, thiết yếu cho sự vận hành kinh tế toàn cầu, là yếu tố rõ ràng nhất trong các câu chuyện về chiến tranh, nếu không phải chiến tranh thực sự. Cũng có ý nghĩa không kém quan trọng là các yếu tố chính trị liên hệ, những yếu tố có gốc rễ trong địa-chính-trị dầu lửa, nhưng tự thân cũng đã có một đời sống riêng.

Bởi lẽ phần lớn trữ lượng dầu dễ khai thác nhất trên thế giới đều tập trung trong Vịnh Ba Tư, và vì một dòng chảy năng lượng đều đặn là yếu tố tuyệt đối thiết yếu cho sự  thịnh vượng của Hoa Kỳ và kinh tế toàn cầu, từ lâu chính sách của Hoa Kỳ là ngăn ngừa các cường quốc đối nghịch có tiềm năng thủ đắc khả năng thống trị Vùng Vịnh hay ngăn chặn Eo Biển Hormuz.

T T Jimmy Carter  là người đầu tiên minh họa lập trường nầy trong tháng 1-1980, tiếp theo sau cuộc cách mạng Hồi Giáo ở Iran và cuộc xâm lăng Afghanistan của Liên Bang Xô Viết. Carter đã tuyên bố trước Lưỡng Viện Quốc Hội: “Bất cứ một nổ lực nào của một lực lượng bên ngoài tìm cách kiểm soát vùng Vịnh Ba Tư cũng sẽ bị xem như một cuộc tấn công vào quyền lợi sinh tử của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, và một cuộc tấn công như thế sẽ bị chống đối bằng mọi phương tiện cần thiết, kể cả lực lượng quân sự.”[4]

Với nhận thức nầy, Hoa Thịnh Đốn đã tự nhận là chúa tể vùng Vịnh, và được trang bị với đầy đủ sức mạnh quân sự để áp đảo bất cứ quốc gia thách thức tiềm năng nào.

Tuy nhiên, vào thời đó, quân lực Hoa Kỳ chưa được tổ chức hoàn bị để thực thi sáng kiến của tổng thống, từ đó đã được biết dưới tên gọi Chủ Thuyết Carter. Vì vậy, Ngũ Giác Đài đã phải tạo lập một tổ chức mới — Bộ Tư Lệnh Trung Ương Hoa Kỳ, The U.S. Central Command (CENTCOM), và nhanh chóng trang bị CENTCOM với đầy đủ những gì cần thiết để nghiền nát bất cứ hay tất cả các cường quốc cạnh tranh nào trong khu vực và duy trì quyền kiểm soát các tuyến đường biển liên hệ.

CENTCOM khởi đầu hoạt động vào những năm 1987-88, khi lực lượng Iran tấn công các tàu dầu Kuwait và Saudi Arabia trong cuộc chiến Iran-Iraq, đe dọa dòng chảy năng lượng qua eo biển. Để bảo vệ các tàu dầu, T T Reagan đã ra lệnh cho các tàu dầu phải treo cờ  Mỹ và được các tàu chiến Mỹ hộ tống, và lần đầu tiên đặt hải quân Mỹ trong tình trạng có tiềm năng xung đột với Iran.

Trong bối cảnh đó, Chuyến Bay 655 của hảng Iran Air — một phi cơ dân sự chở 290 hành khách và phi hành đoàn, đã bị bắn rơi và tử vong, bởi một hỏa tiển của chiến hạm USS Vincennes, tưởng lầm như một chiến đấu cơ thù nghịch.  Một thảm kịch từ lâu người Mỹ đã dễ dàng quên, nhưng người Iran vẫn luôn mang hận.

Iraq là đồng minh trong thực tế  của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Iran-Iraq, nhưng khi Iraq xâm lăng Kuwait năm 1990 — đe dọa trực tiếp quyền thống trị Vùng Vịnh của Hoa Thịnh Đốn — T T Bush thứ nhất đã ra lệnh cho CENTCOM bảo vệ Saudi Arabia và đánh bật Iraq ra khỏi Kuwait.

Và khi Saddam tái xây dựng lại quân lực và ngay sự hiện diện của Saddam cũng đã được xem một đe dọa tiềm tàng đối với quyền thống trị của Hoa Kỳ trong khu vực, T T Bush thứ hai đã ra lệnh cho CENTCOM xâm chiếm Iraq và loại trừ toàn bộ chế độ Saddam Hussein, một quyết định đã đưa đến một chuổi tai họa sau đó và hiện chưa ai có thể quên.

Nếu năng lượng là gốc rễ của vai trò khống chế Vùng Vịnh của Hoa Thịnh Đốn, qua thời gian, vai trò nầy cũng đã chuyển hóa thành một cái gì khác: một biểu dương hùng mạnh vị thế siêu cường toàn cầu của Hoa Kỳ.

Trong vai trò chúa tể Vùng Vịnh và siêu cường bảo vệ dòng chảy năng lượng qua Eo Biển Hormuz, Hoa Thịnh Đốn đã tuyên cáo với thế giới: “Chúng tôi, và chỉ chúng tôi, là quốc gia có thể bảo đảm an toàn nguồn cung cấp năng lượng hàng ngày của quý vị và qua đó ngăn ngừa sự sụp đổ của kinh tế toàn cầu.”[5]

Thực vậy, khi chiến tranh lạnh chấm dứt — và cùng lúc với ý thức kiêu hãnh và thể diện của Hoa Kỳ như thành trì chống lại chủ nghĩa bành trướng của khối Xô Viết ở Âu châu và Á châu — việc bảo vệ dòng chảy dầu khí Vùng Vịnh Ba Tư đã trở thành một biểu tượng rõ ràng nhất vị trí  siêu cường toàn cầu, và duy trì vị trí đó cho đến ngày nay.

MỌI LỰA CHỌN ĐỀU RỘNG MỞ

Với sự loại bỏ Saddam Hussein trong năm 2003, đã hẳn đe dọa tiềm năng còn lại đối với quyền thống trị vùng Vịnh Ba tư của Hoa Kỳ là chính Iran.

Ngay từ dưới thời Shah of Iran do Hoa Kỳ yểm trợ và tay chân lâu ngày của Hoa Thịnh Đốn trong vùng Vịnh, người Iran cũng đã tìm kiếm địa vị cường quốc hàng đầu trong khu vực. Ngày nay, dưới chế độ Hồi Giáo Shiite đấu tranh, họ càng quyết tâm hơn, và éo le thay chính nhờ sự lật đổ Saddam và trổi dậy của một chính quyền do Shiite khống chế ở Baghdad,  họ đã thành công mở rộng tầm với chính trị trong khu vực.

Với số phận Saddam in đậm trong ký ức, họ cũng đã xây dựng khả năng quân sự để tự vệ, và theo nhiều nhà phân tích Tây Phương, đã khởi đầu chương trình làm giàu uranium với tiềm năng cung cấp các vật liệu có thể tách biệt (fissile material) cho một vũ khí hạt nhân, nếu một ngày nào đó cấp lãnh đạo Iran lựa chọn bước tiến định mệnh đó.

Do đó, Iran đang nắm trong tay một thử thách kép đối với quy chế tự tạo của Hoa Thịnh Đốn trong Vùng Vịnh. Thực vậy, Iran không những là một xứ tương đối vũ trang đầy đủ, với ảnh hưởng đáng kể ở Iraq và nhiều nơi khác trong khu vực, mà qua cách phát huy chương trình nguyên tử, còn đe dọa làm phức tạp thêm rất nhiều khả năng tấn công trừng phạt tương lai của Hoa Kỳ, tương tự những gì đã xẩy ra đối với các lực lượng Iraq trong các năm 1991 và 2003.

Trong khi ngân sách quân sự của Iran nhiều lắm cũng chỉ thuộc cỡ khiêm tốn và khả năng quân sự quy ước sẽ không bao giờ sánh kịp lực lượng hùng hậu của CENTCOM trong một cuộc chạm trán trực tiếp, tiềm năng theo đuổi khả năng vũ khí hạt nhân sẽ làm phức tạp thêm rất nhiều mọi tính toán chiến lược trong khu vực.

Ngay cả khi không đi tiếp những bước cuối – chế biến các bộ phận một vũ khí hạt nhân, và hiện nay vẫn chưa thấy bằng chứng Iran đã tiến tới giai đoạn quyết định đó,  nổ lực nguyên tử của Iran cũng đã gây âu lo lớn cho các quốc gia trong vùng Trung Đông và đã đặt thành vấn đề sự hiện diện liên tục và khống chế của ảnh hưởng Hoa Kỳ trong toàn khu vực.

Trong viễn kiến của Hoa Thịnh Đốn, bom hạt nhân của Iran, dù đích thực hay mới manh nha, sẽ là một đe dọa hiện sinh đối với vị trí siêu cường duy nhất của Hoa Kỳ.

Trong những năm gần đây, vấn đề ngăn ngừa Iran không những trở thành một quốc gia nguyên tử, mà ngay cả chỉ một đe dọa có thể trở thành nguyên tử, đã là mục tiêu ám ảnh chính sách ngoại giao và quân sự Hoa Kỳ.

Các lãnh đạo Mỹ luôn xem xét liên tục các kế hoạch sử dụng quân lực làm tê liệt chương trình của  Iran, qua các cuộc không tạc hoặc dùng tên lửa tấn công các căn cứ hạt nhân hay nghi ngờ.

Cả Bush lẫn Obama đều đã chính thức từ chối loại bỏ biện pháp sử dụng vũ lực, như T T Obama đã nói rõ trong diễn văn Tình trạng Liên Bang gần đây. Do Thái cũng đã nhiều lần tỏ ý muốn hành động tương tự, rất có thể chỉ như một kích động để Hoa Thịnh Đốn hoàn tất dự kiến.

Phần đông các nhà phân tích nghiêm chỉnh đều đã kết luận hành động quân sự có thể cực kỳ nguy hiểm, có lẽ sẽ gây nhiều thương vong dân sự và mời gọi các biện pháp trả đũa ác liệt từ phía chính quyền Iran. Hành động cũng rất có thể không thành đạt được mục tiêu: chận đứng chương trình hạt nhân Iran, phần lớn hiện  đang được thực hiện sâu dưới lòng đất.

Do đó, quan điểm đồng thuận trong giới lãnh đạo Hoa Kỳ và Âu châu đã là áp đặt các biện pháp chế tài kinh tế, buộc người Iran phải đến bàn hội nghị, nơi họ có thể được dẫn dụ hay thuyết phục từ bỏ các tham vọng hạt nhân, để đổi lại các lợi lộc kinh tế.

Nhưng leo thang các chế tài, hình như chỉ có tác dụng gia tăng các nổi đau kinh tế của thường dân Iran, đã bị các lãnh đạo Iran minh họa như một “hành động  chiến tranh”, biện minh cho những đe dọa đóng cửa Eo Biển Hormuz.

Căng thẳng càng gia tăng, lãnh đạo cả hai phía càng bị áp lực nặng nề phải đề kháng mạnh mẽ hơn các đe dọa của đối phương.

T T Obama, đang đối mặt với nhu cầu tái cử, còn phải đương đầu với các ứng viên Cộng Hòa đối thủ đang rêu rao chính quyền Obama đã thất bại trong nổ lực chận đứng chương trình hạt nhân Iran, mặc dù không một ứng cử viên Cộng Hòa nào có được một kế hoạch khả tín. Về phía mình, T T Obama cũng đã giữ một lập trường lúc một cứng rắn hơn về đề tài nầy. 

Trong khi đó, giới lãnh đạo Iran — đã tỏ rõ âu lo không những điều kiện kinh tế trong nước ngày một xấu đi, mà còn cả hiểm họa biến động quần chúng kiểu Mùa Xuân Á Rập — lúc một trở nên hiếu chiến hơn trong ngôn từ.

Tóm lại, uy tín thống lĩnh toàn cầu, tham vọng một cường quốc cấp khu vực của Iran, và các yếu tố chính trị nội bộ, tất cả đã hội tụ và trở thành một hỗn hợp nóng bỏng làm sôi sục Eo Biển Hormuz như địa điểm nguy hiểm nhất hành tinh.

Đối với Tehran cũng như Hoa Thịnh Đốn, các biến cố hình như đang dồn dập — một tình huống trong đó các tính toán sai lầm có thể trở thành khó tránh. Không bên nào có thể tỏ ra nhượng bộ mà không mất uy tín, có khi mất ngay cả việc làm.

Nói một cách khác, một trắc nghiệm ý chí hiện sinh trước áp lực địa-chính-trị trong một khu vực quan yếu của địa cầu, đối với cả hai phía, hình như đang khép dần các  Cửa Thoát Nguy ngày một ít .

Và  Eo Biển Hormuz chắc chắn sẽ còn là một ground zero tiềm năng xung đột toàn cầu trong những tháng trước mặt.

CHẾ TÀI KINH TẾ:  LỢI VÀ HẠI

Bàn về chính sách Hoa Kỳ đối với Iran, “éo le” là tên gọi của trò chơi địa-chính-trị. Một mặt, các chế tài ngày một khắt khe chính quyền Obama đang tìm cách áp đặt lên kỹ nghệ năng lượng Iran, cố nhiên, sẽ gây nhiều khó khăn kinh tế và khổ đau cho thường dân Iran. Một mặt khác, các biện pháp chế tài cùng lúc cũng là điều đáng mừng đối với một số quốc gia Hoa Thịnh Đốn không mấy ưa thích.

Chẳng hạn, TQ hiện đang mua khoảng 22% dầu xuất khẩu của Iran. Với nền kinh tế đói dầu, TQ trong trường kỳ chắc sẽ phải nhập khẩu năng lượng từ Iran ngày một nhiều hơn. Với các chế tài của Mỹ, giá mua căn bản đang thương thảo có thể thấp vì Iran lệ thuộc vào thị trường TQ ngày một nhiều hơn.

Thử tưởng tượng Liên Bang Nga khi đối diện với một Eurozone thiếu dầu xuất khẩu của Iran. Chắc hẳn quốc gia sản xuất năng lượng khổng lồ phải hồ hởi trước một thị phần năng lượng Âu châu lớn hơn, với giá cao hơn.

Ngay cả Saudi Arabia, mặc dù là đồng minh ý hợp tâm đầu của Mỹ, chắc cũng thỏa thích khi thấy giá dầu tăng cao trong khi rất cần nhiều tiền để chủng ngừa quần chúng trước căn bệnh truyền nhiễm tiềm năng –  Mùa Xuân Á Rập.

Và Iraq, với một biên giới bỏ ngõ, nạn chợ đen dầu Iran lan tràn, và một chính quyền Shiite ở Baghdad, dĩ nhiên sẽ vui lòng trợ giúp Iran, một láng giềng gần.

Tất cả các quốc gia kể trên cần phải tri ân Hoa Kỳ!

Nhưng ai là người phải trả giá?

Trước tiên, cố nhiên là thường dân Iran – nạn nhân!

Về lâu về dài, các nền kinh tế khập khiểng của Ý, Hy Lạp, Tây Ban Nha, từ lâu lệ thuộc vào dầu Iran, đã hẳn sẽ gây thêm nhiều khó khăn cho Eurozone đang hờn dỗi.

Và cũng không nên quên kinh tế Hoa Kỳ khi giá dầu tăng vọt, hay T T Obama, khi hy vọng ở kết quả cấm vận/chế tài biến thành tai họa kinh tế trong năm bầu cử.

Ngay cả dự án, gửi tàu đổ bộ làm căn cứ nổi cho các cuộc hành quân đặc biệt và ngụy trang của Navy SEAL vào tháng 7-2012 sắp tới, cũng chỉ có thể làm tình hình thêm căng thẳng trong vùng Vịnh Ba Tư, một địa điểm vốn đã sôi sục và dễ bùng nổ nhất hành tinh.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

04-02-2012

 


[1] If they impose santions on Iran’s oil exports, then even one drop of oil cannot flow from the Strait of Hormuz.

[2] Hormuz is the world’s most important oil chokepoint due to its daily oil flow of almost 17 million barrels in 2011.

[3] You would get an international reaction that would not only be high, but irrationally high.

[4] Any attempt by an outside force to gain control of the Persian Gulf region ll begardd as an assault on the vital interests of the UnitSates of America, and such an assault will be repelled by by any means necessary, including military force.

[5] We, and we alone, are the ones who can ensure the safety of your daily oil supply and thereby prevent global economic collapse.

Advertisements