CHÍNH TRỊ THOÁI HÓA VÀ ĐẾ QUỐC SUY TÀN

Hàng năm, các ngày có nhiều ý nghĩa thường được tưởng niệm một cách trang nghiêm. Nhật Bản tấn công căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ ở Trân Châu Cảng là một ví dụ. Nhiều biến cố quan trọng khác lại bị lãng quên. Trong mọi trường hợp, nhiều bài học quý giá có thể được rút tỉa khả dĩ giúp tiên đoán những gì đang chờ đợi phía trước.

Ngày nay, nhân loại hình như đã bỏ quên ngày tưởng niệm lần thứ 50 quyết định của T T John F. Kennedy phát động cuộc chiến gây thương vong và đổ nát lớn nhất kể từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Đó là cuộc chiến xâm lăng Nam Việt Nam, và sau đó là toàn bộ Đông Dương, giết hại nhiều triệu sinh linh, tàn phá bốn quốc gia. Điều nhân loại không có quyền quên là chính sách tắm gội Nam Việt Nam với những hóa chất độc hại nhất, nhằm tàn phá núi rừng che chở cho dân quân kháng chiến, mùa màng cây cỏ, cùng lúc đã đem lại nhiều hậu quả dài hạn như các tác nhân gây khuyết tật và ung thư.

Mục tiêu chính là Nam Việt Nam. Cuộc tấn công về sau lan ra Bắc Việt, kế đến là nông thôn Bắc Ai Lao và Cambodia, qua các chiến dịch dội bom với tầm cỡ ác liệt, vượt xa toàn bộ các cuộc oanh tạc của phe đồng minh trong khu vực Thái Bình Dương trong Đệ Nhị Thế Chiến, kể cả hai bom hạt nhân tàn phá Hiroshima và Nagasaki.

Mệnh lệnh của Henry Kissinger đã được triệt để thi hành — một lời kêu gọi diệt chủng rất ít thấy trong lịch sử nhân loại. Đã hẳn thực tế nầy đã không được lịch sử ghi lại đầy đủ và không còn được nhớ rõ. Hầu hết đều ít được biết đến bên ngoài một thiểu số chứng nhân thời cuộc.

Khi cuộc xâm lăng được phát động 50 năm trước đây, rất ít ai quan tâm, đến nổi nhà cầm quyền Hoa Kỳ đã không phải nhọc công biện minh, ngoài những lời kêu gọi hăng say của Kennedy: “chúng ta đang bị chống đối khắp thế giới bởi một âm mưu đơn điệu và  tàn nhẫn, cơ sở trên các phương tiện bí mật, nhằm bành trướng phạm vi ảnh hưởng,” và nếu âm mưu đạt được mục đích ở Ai Lao và Việt Nam,”các cánh cửa sẽ được rộng mở.”[1]

T T còn cảnh cáo: “Các xã hội tự mãn, thụ hưởng, ủy mị, sẽ bị quét sạch cùng với những đổ nát của lịch sử, và chỉ những xứ hùng cường mới có thể thượng tồn.”[2] Lời cảnh cáo đã gián tiếp phản ảnh sự thất bại trong các chiến dịch tấn công và khủng bố của Hoa Kỳ nhằm nghiền nát nền độc lập của Cuba.

Khi làn sóng phản kháng bắt đầu trỗi dậy năm bảy năm sau đó, nhà sử học quân sự và chuyên gia Việt Nam đáng kính, Bernard Fall, không thuộc hàng ngũ bồ câu, đã tiên đoán: “Việt Nam, như một chủ thể văn hóa và lịch sử, … đang bị đe dọa diệt chũng…[vì] toàn bộ vùng quê đang thực sự dẫy chết dưới những cuộc tấn công vũ bão của guồng máy quân sự lớn nhất trên một mảnh đất nhỏ bé như thế.”[3] Bernard Fall đang nói đến Nam Việt Nam.

Khi cuộc chiến chấm dứt sau 8 năm kinh hoàng, dư luận dòng chính bị chia rẽ giữa phe minh họa cuộc chiến như một chính nghĩa cao thượng, lẽ ra đã có thể thắng nếu kiên định hơn, và phe có quan điểm đối lập xem đây là một đường lối sai lầm quá tốn kém.

Vào năm 1977, T T Carter đã không thu hút được nhiều đồng tình khi giải thích: Người Mỹ “không nợ nần” gì Việt Nam bởi lẽ “sự tàn phá đổ vỡ mang tính hổ tương”.

Ngay cả đến ngày nay, nhiều bài học hữu ích vẫn còn có thể rút tỉa từ cuộc chiến, không những như một nhắc nhở chỉ có kẻ yếu và thất bại mới phải chịu trách nhiệm về “tội phạm” của mình.

Bài học đầu tiên:  Để hiểu những gì đang xẩy ra, chúng ta cần quan tâm không những đến các biến cố quyết định trong thế giới thực, thường bị lịch sử bỏ quên, mà còn đến những gì các nhà lãnh đạo và dư luận của giới thượng lưu tin tưởng, dù nhuốm mầu kỳ quặc hay mang tính tưởng tượng.

Bài học Thứ hai:  Cùng với một loạt các tưởng tượng được phối trí nhằm gieo kinh hoàng và động viên quần chúng (và có lẽ còn được các người chìm đắm trong những chiêu bài lừa bịp của chính mình tin tưởng), còn có sự hoạch định địa chiến lược cơ sở trên các nguyên tắc duy lý và bền vững qua nhiều giai đoạn dài lâu và đã bám rễ trong những định chế vững bền và quan tâm của chính họ.

Điều nầy cũng rất đúng trong trường hợp Việt Nam. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề nầy sau, ở đây chỉ cần nhấn mạnh các yếu tố dai dẳng trong các hành động của nhà cầm quyền thường được che dấu kỷ.

Cuộc chiến Iraq cũng là một trường hợp có thể đem lại nhiều bài học. Qua các phương tiện tuyên truyền gieo rắc hoảng sợ trong quần chúng, cuộc chiến đã được quảng bá dựa trên luận cứ: tự vệ thông thường trước một đe dọa khả năng thượng tồn của người Mỹ. George Bush và Tony Blair đã tuyên bố, “câu hỏi duy nhất” là liệu Saddam Husein có chịu chấm dứt các chương trình khai triển các vũ khí tiêu diệt hàng loạt hay không? Khi câu trả lời trái với ý muốn, chính quyền dễ dàng chuyển qua  luận điệu “ước vọng dân chủ”[4] của người Mỹ, và dư luận đã được uốn nắn và hướng dẫn dễ dàng đi theo. Tất cả chỉ là lệ thường.

Về sau, khi kích cỡ thất bại của Hoa Kỳ ở Iraq đã trở nên khó lòng che đậy, chính quyền lặng lẽ thú nhận những gì từ lâu đã quá rõ ràng. Trong các năm 2007-2008, chính quyền chính thức loan báo giải pháp cuối cùng bao gồm những thỏa hiệp về sự có mặt của các căn cứ quân sự và quyền hành quân của Mỹ, cũng như đặc quyền của giới đầu tư Hoa Kỳ trong hệ thống năng lượng dồi dào của Iraq — những đòi hỏi về sau bất đắc dĩ cũng đã phải từ bỏ trước sức đề kháng của Iraq. Và mọi việc đều được giữ kín và quần chúng Mỹ không hề được tham khảo.

ĐÁNH GIÁ TẦM CỠ SUY SỤP CỦA HOA KỲ

Với những bài học trên đây, tưởng cũng nên nhìn lại những nét chính được báo chí ghi nhận về chính sách và công luận hiện nay, nhất là tờ báo uy tín nhất —  Foreign Affairs. Tiêu đề quan trọng hàng đầu trên trang bìa số tháng 12-2011: “Hoa Kỳ đã hết thời?”[5]

Bài viết chính kêu gọi cắt xén các sứ mệnh nhân đạo tốn kém tài nguyên quốc gia ở nước ngoài,  ngõ hầu chận đứng đà tuột dốc của Mỹ. Đây là đề tài quan trọng trên diễn đàn quốc tế, thường đi kèm với hệ quả quyền lực đang chuyển dịch về  Đông Phương, TQ, và có thể cả Ấn Độ.

Quan trọng hàng đầu là những bài viết về quan hệ Israel-Palestine.

Bài đầu, do hai quan chức Do Thái, có nhan đề “Vấn Đề là sự Từ Chối của Palestine[6]. Sự xung đột không thể giải quyết,  vì lẽ người Palestine từ chối không chịu công nhận Do Thái như một nhà nước – do đó, theo đúng chuẩn mực ngoại giao: nhà nước được công nhận, nhưng các khu vực đặc quyền bên trong mỗi nước thì không. Sự đòi hỏi chẳng khác gì một phương cách mới nhằm ngăn chặn mối đe dọa của một giải pháp chính trị có thể phương hại đến các mục tiêu bành trướng của Do Thái.

Quan điểm đối lập, được một giáo sư Hoa Kỳ bảo vệ, với nhan đề “Vấn đề là Sự Chiếm Đóng,”[7]  với phụ đề: “Bằng Cách Nào sự Chiếm Đóng Đang Phá Hoại Quốc Gia.”[8] Quốc gia nào? Dĩ nhiên, Do Thái.

Cả hai đều xuất hiện dưới tiêu đề “Do Thái bị Vây Hãm.”[9]

Số tháng 1-2012 đã đăng một bài đặc biệt, kêu gọi phải oanh kích Iran ngay bây giờ trước khi quá muộn. Cảnh cáo về “các nguy cơ của biện pháp ngăn chặn,” tác giả đã gợi ý: “Những người nghi ngờ hành động quân sự đều không thẩm định đứng đắn nguy cơ thực sự của một Iran với vũ khí hạt nhân đối với quyền lợi của Hoa Kỳ ở Trung Đông và xa hơn nữa. Và các dự đoán bi quan giả thiết phương thuốc cứu chữa có thể tệ hại hơn chính căn bệnh — có nghĩa hậu quả một cuộc tấn công Iran của Hoa Kỳ có thể có hại không kém hay tệ hại hơn hậu quả của việc Iran thành đạt được các tham vọng hạt nhân của mình. Nhưng đây là một giả thiết sai lầm. Sự thật là một cuộc tấn công quân sự nhằm  hũy hoại chương trình hạt nhân của Iran, nếu được xử lý thận trọng, có thể giúp khu vực và thế giới tránh được một đe dọa rất thật và cải thiện rất nhiều an ninh quốc gia dài hạn của Hoa Kỳ.”[10]

Vài người khác đưa ra luận cứ:  phí tổn có thể quá cao. Thậm chí vài người cực đoan hơn còn nói rõ một cuộc tấn công có thể vi phạm luật quốc tế  — cũng như  lập trường của giới ôn hòa, luôn đưa ra các đe dọa bạo động, trái với Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

Chúng ta thử lần lượt đánh giá các âu lo chính yếu trên đây.

Sự tuột dốc của Hoa Kỳ là thực, mặc dù viễn kiến mang tính mặc khải, phản ảnh một nhận thức quen thuộc của giới thống trị: bất cứ điều gì không được kiểm soát trọn vẹn cũng chẳng mấy khác một tai họa hoàn toàn. Mặc dù các ta thán não nuột, Hoa Kỳ vẫn luôn là cường quốc áp đảo thế giới, hơn xa bất cứ quốc gia nào khác, và không một xứ nào đủ sức cạnh tranh không chỉ trên bình diện quân sự, một địa hạt hoàn toàn dưới quyền áp đảo tột cùng của Hoa Kỳ.

TQ và Ấn Độ đã ghi nhận một tỉ suất tăng trưởng cao (mặc dù phân phối bất bình đẳng), nhưng vẫn còn là những quốc gia nghèo khó, với rất nhiều vấn đề nội bộ lớn lao các xứ Tây phương không phải đối diện.

TQ là trung tâm kỹ nghệ biến chế lớn của thế giới, nhưng phần lớn như một nhà máy lắp ráp phục vụ các cường quốc kỹ nghệ tiền tiến bên ngoài và các công ty đa quốc gia Tây phương. Đã hẳn, tình trạng nầy rất có thể thay đổi qua thời gian. Biến chế thường đem lại cơ sở cho canh tân, lắm lúc tiến bộ bất thần, như nay đôi khi đang xẩy ra ở TQ. Một ví dụ đã gây ấn tượng đối với các chuyên gia Tây Phương là TQ đã thành công trong vai trò khống chế thị trường toàn cầu các pa-nô năng lượng  mặt trời, không phải nhờ phí lao động thấp, nhưng qua khả năng hoạch định, phối trí, và ngày một có nhiều canh tân.

Tuy nhiên, TQ hiện đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng. Chẳng hạn, các vấn đề nhân khẩu được thẩm định trong tạp chí Khoa Học hàng tuần — Science, một ngành Hoa Kỳ đang dẫn đầu. Nghiên cứu cho thấy tử suất ở TQ đã sụt giảm nhanh chóng dưới thời Mao Trạch Đông, “phần lớn là nhờ kết quả của phát triển kinh tế, cải cách giáo dục,  và dịch vụ y tế, đặc biệt là phong trào vệ sinh công cộng đã đưa đến một sụt giảm nhanh chóng trong tử suất từ những bệnh truyền nhiễm.” Những tiến bộ nầy đã chấm dứt với sự du nhập các cải cách theo hướng tư bản chủ nghĩa cách đây 30 năm, và tử suất từ đó lại gia tăng.

Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế gần đây của TQ phần lớn đã dựa trên “động cơ nhân khẩu,” thành phần tới tuổi đi làm đông đảo. “Nhưng cánh cửa gặt hái động cơ nầy có thể sớm đóng lại,” với một “tác động sâu rộng trên phát triển”: “Số cung nhân công thặng dư rẽ tiền, một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy phép lạ kinh tế của TQ, sẽ không còn hiện diện.”

Nhân khẩu sẽ chỉ còn là một trong những vấn đề nghiêm trọng trong những năm sắp tới.

Với Ấn Độ, các vấn đề còn nghiêm trọng hơn rất nhiều.

Không phải tất cả những tiếng nói có thẩm quyền đều tiên đoán sự tuột dốc của Hoa Kỳ. Trong số các cơ quan truyền thông quốc tế, không một cơ quan nào đứng đắn và có trách nhiệm hơn Financial Times. Gần đây, tờ báo đã dành trọn một trang cho các tin tức lạc quan về kỹ thuật  mới để khai thác nhiên liệu hóa thạch, rất có thể sẽ giúp Hoa Kỳ độc lập về năng lượng, và nhờ đó, duy trì được địa vị bá chủ toàn cầu thêm một thế kỷ.

Tuy vậy, tờ báo vẫn không nói gì đến thế giới do Hoa Kỳ ngự trị trong bối cảnh tốt đẹp nầy sẽ ra sao, nhưng không phải vì thiếu tín hiệu.

Trong thực tế, vào cùng thời điểm, Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế IEA đã báo cáo: với lượng khí thải carbon tăng nhanh do việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, giới hạn an toàn sẽ đến vào năm 2017 nếu thế giới cứ tiếp tục con đường hiện nay. “Cánh cửa sẽ khép lại”, và theo kinh tế trưởng của IEA, chẳng bao lâu, “sẽ khép chặt mãi mãi.”[11]

Ngay trước khi Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ báo cáo lượng khí thải carbon dioxide mới nhất, một con số gia tăng kỷ lục, tới mức cao hơn cả kịch bản xấu nhất tiên liệu bởi Hội Đồng Quốc Tế về Thay Đổi Khí Hậu (International Panel on Climate Change – IPCC). Tình trạng nầy không có gì đáng ngạc nhiên đối với các khoa học gia,  kể cả chương trình MIT về thay đổi khí hậu — một chương trình trong nhiều năm đã cảnh cáo các tiên đoán của IPCC là quá bảo thủ.

Những nhà phê bình các tiên đoán của IPCC hầu như không được công luận lưu ý, không như  số người phủ nhận, đã được các đại công ty yểm trợ, cùng với các chiến dịch tuyên truyền khổng lồ, đã đẩy người Mỹ vào hàng ngũ phe phủ nhận các nguy cơ ô nhiễm và thay đổi khí hậu. Sự hổ trợ của giới doanh thương đại công ty cũng trực tiếp chuyển biến thành quyền lực chính trị. Đường lối phủ nhận là một bộ phận trong giáo lý vấn đáp được các ứng cử viên Cộng Hòa lặp đi lặp lại trong chiến dịch vận động bầu cử trò hề hiện đang diễn tiến. Và trong Quốc Hội, họ cũng đủ hùng mạnh để ngăn chặn mọi nổ lực nhằm điều tra  hậu quả của hiện tượng thay đổi khí hậu, nói gì đến làm bất cứ điều gì nghiêm chỉnh nhằm giảm thiểu hiện tượng nầy.

Tóm lại, đà tuột dốc của Hoa Kỳ có lẽ có thể được chận đứng nếu người Mỹ từ bỏ mọi hy vọng về một phương cách thượng tồn phải chăng,[12] những triễn vọng quá thực với cán cân lực lượng trên thế giới hiện nay.

ĐÁNH MẤT TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

Tạm thời gác qua một bên những ý tưởng không mấy thuận tai vừa nói, một cái nhìn kỷ đà tuột dốc của Mỹ cho thấy: TQ quả thật đang giữ một vai trò lớn, cũng như trong suốt 60 năm vừa qua.

Sự tuột dốc nay đang đem lại âu lo cho giới lãnhđạo không phải là một hiện tượng mới mẻ, mà đã khởi đầu từ cuối Đệ Nhị Thế Chiến, khi Hoa Kỳ đang nắm giữ phân nửa tài sản thế giới, và tình hình an ninh cũng như tầm với toàn cầu không quốc gia nào sánh kịp. Các nhà hoạch định Hoa Kỳ lúc đó dĩ nhiên đã nhận thức rõ ràng sự chênh lệch lớn lao trong cán cân quyền lực, và quyết tâm duy trì tình trạng đó.

Quan điểm căn bản đã được mô phỏng với sự ngay thẳng đáng khen trong một tài liệu chính thức năm 1948  — a major state paper of 1948 hay PPS 23: Tác giả là một trong số kiến trúc sư Trật Tự Thế Giới Mới lúc đó, người đứng đầu Bộ Tham Mưu Hoạch Định Chính Sách của Bộ Ngoại Giao – State Department Policy Planning Staff, chính khách và học giả George Kennan, một bồ câu ôn hòa bên trong quang phổ hoạch định.

Kennan đã nhận định: mục tiêu của chính sách trọng tâm là duy trì “vị trí bất cân xứng” – position of disparity, ngăn cách tài sản khổng lồ của Mỹ với sự nghèo nàn của các dân tộc khác. Để đạt mục tiêu, ông khuyến cáo: “Chúng ta nên chấm dứt nhắc đến những đối tượng mơ hồ và… không tưởng như nhân quyền, nâng cao mực sống, và dân chủ hóa,” và phải “thương thảo trong tư thế các nhận thức quyền lực thẳng thắn,” không bị “trói buộc bởi các khẩu hiệu lý tưởng” về “lòng vị tha và làm việc nghĩa quốc tế.”[13]

Kennan đặc biệt lưu ý đến Á châu, nhưng các nhận xét, với vài ngoại lệ, được tổng quát hóa nhằm các quốc gia tham gia vào hệ thống toàn cầu do Mỹ lãnh đạo. Ông hiểu rất rõ “các khẩu hiệu lý tưởng” cần được trình bày rõ rệt khi đề cập các quốc gia nầy, kể cả các tầng lớp trí thức được chờ đợi phổ biến các thông điệp của Mỹ.

Các kế hoạch do Kennan giúp soạn thảo và thực thi đã xem như một sự thật hiễn nhiên: Hoa Kỳ sẽ kiểm soát Tây Bán Cầu, Viễn Đông, các xứ thuộc đế quốc Anh trước đây (bao gồm các tài nguyên năng lượng vô song của Trung Đông), và càng nhiều nước càng tốt thuộc khu vực Âu-Á (Eurasia), nhất là các trung tâm thương mãi và kỹ nghệ.  

Đây không phải là những mục tiêu không thực tế, nếu chúng ta lưu ý đến cán cân quyền lực vào thời điểm đó.

Tuy nhiên, khuynh hướng tuột dốc bẩm sinh cũng đã lập tức manh nha.

Năm 1949, TQ tuyên bố độc lập, một biến cố được chính giới  Tây Phương biết đến như sự kiện “đánh mất Trung Quốc”[14] – ở Hoa Kỳ, với những buộc tội và xung đột lẫn nhau giữa các phe phái về đề tài: Ai là người phải chịu trách nhiệm về “sự kiện đánh mất”. Từ ngữ sử dụng đã nói lên tất cả. Người ta chỉ có thể đánh mất một cái gì mình đang sở hữu. Giả thiết ngầm là Hoa Kỳ đã sở hữu Trung Quốc, vì có quyền, cũng như hầu hết phần còn lại của thế giới, rất giống với quan niệm của các nhà hoạch định hậu chiến.

Sự kiện “đánh mất Trung Quốc” là bước đầu rất quan trọng trong thực trạng “tuột dốc của Hoa Kỳ,”[15] một sự kiện có những hậu quả chính sách quan yếu. Một hậu quả tức thì là quyết định ủng hộ nổ lực tái chiếm thuộc địa Đông Dương của Pháp, với mục tiêu không “để mất Đông Dương.”

Tự thân Đông Dương lúc đó không phải là mối lo quan trọng, mặc dù T T Eisenhower và nhiều người khác cũng đã nhắc đến các tài nguyên của Đông Dương. Âu lo chính là “chủ thuyết domino,” một âu lo đã bị diễu cợt khi các domino đã không sụp đổ, nhưng vẫn là nguyên tắc chính sách hàng đầu vì lẽ khá duy lý. Nói theo giọng Henry Kissinger, một vùng khi rơi ra ngoài vòng kiểm soát sẽ trở thành một “vi khuẩn”,  nguyên nhân làm căn bệnh lây lan và thúc đẩy nhiều xứ khác đi theo lối mòn.

Trong trường hợp Việt Nam, mối âu lo là vi khuẩn “phát triển độc lập” có thể lan qua Indonesia, thực sự giàu tài nguyên. Và rồi có thể lan đến Nhật Bản — một superdomino, như nhà sử học khá nổi danh về Á châu, John Dower, đã từng gọi — tự thích ứng vào một Á châu độc lập như trung tâm kỹ thuật và kỹ nghệ trong một hệ thống có thể thoát khỏi tầm với của quyền lực Hoa Kỳ. Thực vậy, điều nầy có nghĩa: nếu trước đây Hoa Kỳ đã đánh mất đợt Thái Bình Dương trong Thế Chiến thứ hai, Hoa Kỳ cũng đã phải tiếp tục cuộc chiến để ngăn ngừa nổ lực của Nhật thiết lập một Trật Tự Mới ở Á châu.

Phương thức đối phó với vấn đề, như vậy, đã khá rõ ràng: tiêu diệt vi khuẩn và chủng ngừa những xứ có thể bị lây nhiễm.

Trong trường hợp Việt Nam, lựa chọn duy lý là triệt tiêu mọi hy vọng phát triển độc lập thành công và áp đặt các chế độ độc tài tàn bạo trong những xứ lân bang. Công tác đó đã được thực thi thành công — mặc dù lịch sử cũng thường có những trò xảo thuật  của nó, và một điều gì đó tương tự những gì người Mỹ đang âu lo, đã thực sự khai triển ở Đông Á,  làm người Mỹ phải điên đầu vì kinh hoàng.

Chiến thắng quan trọng nhất trong cuộc chiến Đông Dương là năm 1965, khi cuộc đảo chính quân sự được Mỹ ủng hộ ở Indonesia, do Tướng Suharto lãnh đạo, đã phạm hàng loạt tội ác – CIA đã so sánh với tội ác của Hitler, Stalin … Việc tàn sát hàng loạt, như báo New York Times đã mô tả, đã được các cơ quan truyền thông dòng chính tường trình khá trung thực, một cách hả hê thích thú.

Đó là “một tia sáng hy vọng ở Á châu”[16], như một nhà bình luận có khuynh hướng tự do, James Reston, đã viết trong The Times. Cuộc đảo chính đã chấm dứt đe dọa dân chủ, qua việc đạp đổ chính đảng của giới nghèo cơ sở trên quần chúng, thay vào đó, thiết lập một thể chế độc tài vun đắp một kỷ lục nhân quyền tồi tệ nhất thế giới, mở toang cánh cửa tài nguyên quốc gia nghênh đón các nhà đầu tư Tây phương. Chẳng trách sau nhiều điều ghê tởm, kể cả cuộc xâm lăng ĐôngTimor, gần như diệt chủng,  Suharto đã được chính quyền Clinton tiếp đón năm 1995 như ” người của phe ta.”[17]

Nhiều năm sau các biến cố lớn 1965, McGeorge Bundy, Cố Vấn An Ninh của chính quyền Kennedy-Johnson, đã suy ngẫm: có lẽ chấm dứt cuộc chiến Việt Nam vào lúc đó là một việc làm khôn ngoan, với vi khuẩn hầu như bị triệt tiêu và domino nòng cốt đã an vị vững chắc, được tăng cường bởi các chế độ độc tài được Mỹ yểm trợ khắp khu vực.

Những chính sách tương tự  cũng  đã được theo đuổi ở nhiều nơi khác. Kissinger đã đặc biệt lưu tâm đến mối đe dọa của chế độ dân chủ xã hội Chí Lợi. Mối đe dọa nầy cũng đã được giải quyết vào một nhật kỳ đã bị lãng quên, một việc người Mỹ La Tinh gọi là ” biến cố 11/9 đầu tiên,”[18] một sự kiện, về bạo động và hậu quả đau thương, đã vượt xa sự kiện 11/9 được kỷ niệm bởi các xứ Tây phương. Một chế độ độc tài đã được áp đặt ở Chí Lợi, một phần của dịch bệnh đàn áp dã man lan khắp Mỹ La Tinh đến Trung Mỹ dưới thời Reagan. Nhiều vi khuẩn cũng đã khơi dậy những âu lo sâu xa ở nhiều nơi khác, kể cả Trung Đông, nơi mối đe dọa của chủ nghĩa quốc gia thế tục đã khiến các nhà hoạch định Anh và Mỹ âu lo, thúc đẩy họ hậu thuẩn chủ nghĩa Hồi giáo chính thống cực đoan để chống lại.

TẬP TRUNG TÀI SẢN VÀ TUỘT DỐC CỦA MỸ

Mặc dù những thắng lợi vừa nói, sự tuột dốc của Mỹ vẫn tiếp tục. Đến năm 1970, phần tài sản riêng của Hoa Kỳ trên thế giới đã tụt xuống mức 25% và đã dừng lại ở  đó, tuy vẫn còn khổng lồ nhưng cũng đã  ở dưới mức cuối Thế Chiến thứ hai khá xa.

Vào thời điểm đó, thế giới đang ở trong tình trạng tam cực: Bắc Mỹ cơ sở trên Hoa Kỳ, Âu châu trên Đức quốc, và Đông Á, đã là vùng kỹ nghệ năng động nhất, đang cơ sở trên Nhật Bản, nhưng đến nay bao gồm cả các cựu thuộc địa của Nhật như Đài Loan, Nam Hàn, và gần đây hơn, Trung Quốc.

Cũng vào thời điểm đó, đà tuột dốc của Hoa Kỳ đã bước vào một giai đoạn mới: tuột dốc tự tạo có ý thức.[19]

Kể từ thập kỷ 1970, kinh tế Hoa Kỳ đã có một thay đổi quan trọng khi các nhà hoạch định, trong khu vực công cũng như tư, đã theo hướng tài chánh hóa và chuyển dịch khu vực kỹ nghệ chế biến ra các nước ngoài gần thị trường tiêu thụ và phí lao động thấp, một phần cũng vì tỉ suất doanh lợi trong kỹ nghệ biến chế quốc nội ngày một thấp.

Những quyết định nầy đã khởi đầu một vòng lẫn quẫn: tài sản tập trung cao độ vào 0,1% dân số, đem lại một sự tập trung quyền lực chính trị, nhờ đó, ngành lập pháp đã tiếp tay đẩy mạnh chu kỳ xa hơn: chính sách thuế khóa và tài chánh, gở bỏ cơ chế giám sát, thay đổi quy luật quản trị các công ty dành cho tầng lớp quản lý nhiều quyền lợi kếch sù, và cứ thế tiếp tục.

Cùng lúc, đối với đa số quần chúng, lương hiện vật phần lớn ngưng trệ, giới lao động chỉ có thể sống lây lất qua ngày bằng cách  làm việc nhiều giờ hơn (so với Âu châu), nợ nần chồng chất, và nhiều bong bóng liên tục kể từ thời Reagan, với tài sản bằng giấy lộn, không tránh được tiêu tan khi bong bóng xìu xẹp, và giới trách nhiệm thay vì bị trừng phạt lại được cứu trợ với tiền thuế của cử tri.

Cùng bước song hành, hệ thống chính  trị ngày một rách nát, trong khi cả hai đảng  — Cộng Hòa như những tên hề và Dân Chủ phần lớn là đảng viên Cộng Hòa ôn hòa trước đây lẻo đẻo theo sau — ngày một lọt sâu hơn vào túi các đại công ty tự do thao túng qua các cuộc bầu cử ngày một tốn kém.

Một nghiên cứu gần đây của Viện Chính Sách Kinh Tế – Economic Policy Institute, là nguồn dữ liệu quan trọng về những biến chuyển trong nhiều năm nói trên, dưới nhan đề Thất Bại Do Thiết Kế[20] – Failure by Design. Cụm từ “do thiết kế” rất chính xác. Đã hẳn, cũng có thể có nhiều lựa chọn khác. Và như cuộc nghiên cứu đã nêu rõ: sự thất bại cơ sở trên giai cấp. Các nhà thiết kế không thất bại. Thật ra, đó là chính sách đã thất bại đối với tuyệt đại đa số, tầng lớp 99% trong hình ảnh các Phong Trào Chiếm Đóng hay Occupy Movements, và đối với Hoa Kỳ, từ lâu đã tuột dốc và sẽ tiếp tục tuột dốc với các chính sách hiện hữu.

Một yếu tố khác là làn sóng xuất khẩu khu vực biến chế – offshoring of manufacturing. Như ví dụ các pa-nô năng lượng mặt trời đã đề cập trên đây đã phản ảnh, khả năng biến chế luôn cung cấp căn bản và khích lệ canh tân, dẫn đến những giai tầng tinh xảo cao hơn trong guồng máy sản xuất, thiết kế, và phát minh hay sáng chế. Tất cả đều được đưa ra nước ngoài, không là một vấn đề đối với các “quan chức giàu tiền của,” những vị tiếp tục thiết kế chính sách, nhưng là một vấn đề nghiêm trọng đối với giai cấp lao động và các giai cấp trung lưu, và là một tai họa thực sự đối với những người Mỹ gốc Phi châu và bị áp bức, chưa bao giờ thoát khỏi di sản nô lệ và các hậu quả xấu xa của nó, với tài sản nhỏ nhoi hầu như đã triệt tiêu sau sự xìu xẹp của bong bóng bất động sản năm 2008, khởi đầu cuộc khủng hoảng tài chánh 2008, một cuộc khủng hoảng tệ hại nhất cho đến nay.

CƠ HỘI ĐÃ ĐÁNH MẤT

Năm 1945, một toán nhỏ các nhân viên quân sự và tình báo Hoa Kỳ thuộc Sở Dịch Vụ Chiến Lược, Office of Strategic Services – OSS, tiền thân của CIA, nhảy dù xuống Việt Nam, lúc đó nằm dưới quyền chiếm đóng của Nhật.

Sứ mệnh là nhằm tiếp xúc với lãnh tụ Việt Minh, Hồ Chí Minh, và cung cấp huấn luyện và viện trợ cần thiết cho lực lượng kháng chiến chống lại Nhật duy nhất của ông ở Đông Dương.

Tuyên Ngôn Độc Lập, do Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc ở Hà nội ngày 2-9-1945, đã biểu hiện rõ ràng  ảnh hưởng của Hoa Kỳ (qua Thiếu Tá Archimedes Patti thuộc OSS) như sau:

“Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng, và quyền tự do.”

Phong Trào Độc Lập

Chỉ sau mấy tháng, Hoa Kỳ lại hậu thuẩn cho thực dân Pháp đang tìm cách tiêu diệt phong trào độc lập của người Việt. Một thập kỷ sau, người Mỹ đã lựa chọn Ngô Đình Diệm thay mặt phá hoại Hiệp Định Hòa Bình Genève – về sau lại ném thi hài ông ta vào đống rác lịch sử — một bài học cho tất cả các cộng sự viên của Hoa Kỳ.

Kết quả, người Mỹ cũng đã bị lôi cuốn vào một cuộc chiến chỉ chấm dứt sau một thất bại lớn lao nhất trong lịch sử Hoa Kỳ — với trên dưới 60.000 người Mỹ và ba triệu người Việt tử vong.

Điều đã gây ra sự kiện — một cơ hội cho Hoa Kỳ và Việt Nam cộng sinh trong hòa bình đã bị bỏ lỡ — chính là cái chết của Franklin D. Roosevelt – có lẽ là vị Tổng Thống thành công nhất sau T T Lincoln. Người kế nhiệm, Harry Truman, đã bị tập đoàn đầu sỏ chính trị lèo lái bỏ mất giấc mơ một thế giới không còn chủ nghĩa thực dân, thay vào đó, đã theo đuổi mục tiêu một Đế Quốc Hoa Kỳ.

Sau tai họa Việt Nam, T T Jimmy Carter đã nổ lực xây đắp một hình ảnh mới cho Hoa Kỳ, nhất là qua chiến lược phát huy nhân quyền không chỉ cho đồng minh mà ngay cả các quốc gia thù nghịch. Nhưng rồi cũng bị tập đoàn đầu sỏ chính trị phá hỏng.

Các Quốc Gia Đầy Đủ Chủ Quyền

Lịch sử của ba thập kỷ vừa qua đã là lịch sử xâm lược và phá hoại của Hoa Kỳ: từ Granada và Nicaragua đến Iraq và Afghanistan. Quyền của các quốc gia tối thượng đã luôn bị chà đạp bởi nanh vuốt một Hoa Kỳ bám víu vào mọi cơ hội để duy trì quyền bá chủ ngày một phai mờ. Tất cả những gì sót lại từ thành tích quán quân nhân quyền của Carter chỉ vỏn vẹn còn thái độ kiêu ngạo ngông cuồng của Hoa Kỳ.  Chương trình Phụng Hoàng sát nhân của CIA ở Việt Nam đã được lặp lại trên khắp thế giới khi giới quân sự trong nhiều xứ được huấn luyện bởi Hoa Kỳ nhằm thực thi các chương trình bắt cóc, giam giữ phi pháp, tra tấn dã man, ám sát, những programmes of disappearances.  Ngay chính Hoa Kỳ cũng đã là quốc gia vi phạm nhân quyền nhiều hơn cả.

Những kinh cầu vi phạm nhân quyền của Mỹ trong những năm gần đây cũng đã được bổ túc với các tội ác mọi người đều biết trong những nhà giam Camp X-Ray ở Guantanamo, Abu Ghraib, bắt cóc, ám sát các nhà báo như phóng viên nhiếp ảnh Reuters – Namir Noor-Eldeen… Tất cả cũng mới là chóp mũi của một núi băng.

CIA còn duy trì một danh sách những mục tiêu cần giết –Kill List, chẳng hề quan tâm đến thủ tục tố tụng hay xét xử luật định, sử dụng các phi cơ không người lái ở Pakistan, và nhiều nơi khác; có lẽ cả nguyên lãnh tụ Libya Muammar Gadaffi bị phi cơ không người lái và các đội Biệt Kích của Hoa Kỳ và NATO tấn công gây thương tích ở chân, trước khi hướng dẫn phe dân quân nổi loạn đến giết ngay tại hiện trường.

Kill List cũng là một vi phạm luật quốc tế: cố ý giết, không quan tâm đến thủ tục tố tụng hay xét xử luật định,  luôn  bị cấm đoán, ngoại trừ trường hợp đối tượng liên hệ đang đe dọa gây thương tích hay chết chóc; và ngay trong trường hợp nầy, quyết định cố ý giết chết cũng chỉ là giải pháp cuối cùng.

Và bỏ lỡ cơ hội, lạm dụng giải pháp cuối cùng … cũng là những yếu tố góp phần tăng tốc đà thoái hóa trong sinh hoạt chính trị và suy tàn của đế quốc.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

01-3-2012

Chú Thích: 

(1) Độc giả có thể đọc thêm các tác phẩm mới nhất của Noam Chomsky, giáo sư hưu trí thuộc MIT Department of Linguistics and Philosophy: Making the Future: Occupations, Intervention, Empire, and Resistance; Gaza in Crisis; và Hopes and Prospects.                                                                                                     

(2) John Maynard Keynes và Khủng Hoảng Kinh Tế, Nguyễn Trường,  “nguyentruong92606.wordpress.com.”


[1] We are opposed around the world by a monolithic and ruthless conspiracy that relies primarily on covert means for expanding its sphere of influence and if the conspiracy achieves  its ends in Laos and Vietnam, the gates will be opened wide.

[2]  … The complacent, the self-indulgent, the soft societies are about to be swept away with the debris of history and only the strong… can posssibly survive…

[3] Vietnam as a cultural and historic entity … is threatened with extinction … [as] … the countryside literally dies under the blows of the largest military machine ever unleashed on an area of this size….

[4] yearning for democracy.

[5] Is America Over?

[6] The Problem is Palestinian Rejection.

[7] The Problem Is the Occupation.

[8] How the Occupation is Destroying the Nation.

[9] Israel under Siege.

[10] …Skeptics of military action fail to appreciate the true danger that a nuclear-armed Iran would pose to U.S. interests in the Middle East and beyond. And their grim forecasts assume that the cure would be worse than the disease — that is, that the consequences of a U.S assault on Iran would be as bad as or worse than those of Iran achieving its nuclear ambitions. But that is a faulty assumption. The truth is that a military strike intended to destroy Iran’s nuclear program, if managed carefully, could spare the region and the world a very real threat and dramatically improve the long-term natioal security of the United States.

[11] The door is closing, and very soon it will be closed forever.

[12] American decline can perhaps be stemmed if we [Americans] abandon hope for decent survival…

[13] We should cease to talk about vague and … unreal objectives such as human rights, the raising of the living standards, and democratization,” and must “deal in straight power concepts,” not “hampered by idealistic slogans about altruism and world-benefaction.”

[14] …the loss of China…

[15] …America’s decline…

[16] …a gleam of light in Asia…

[17] …our kind of guy…

[18] …the first 9/11…

[19] …conscious self-inflicted decline…

[20]  Failure by Design.