ẢNH HƯỞNG VÀ QUYỀN LỰC CỦA SIÊU CƯỜNG HOA KỲ

Sau nhiều năm tuột dốc tự tạo và có ý thức, những mất mát bên ngoài của Hoa Kỳ vẫn tiếp tục ngày một gia tăng.

THU HẸP VÀ LUNG LAY

Trong thập kỷ vừa qua, lần đầu tiên trong 500 năm, Nam Mỹ đã có những bước thành công tự giải phóng khỏi ách thống trị của Tây Phương, thêm một thất bại nghiêm trọng của Hoa Kỳ.

Khu vực phía Nam Tây Bán Cầu đang trong quá trình hội nhập, và đã khởi đầu giải quyết một số vấn đề nội bộ khó khăn của những xã hội phần lớn ngự trị bởi tầng lớp thượng lưu Âu châu, những ốc đảo nhỏ bé cực kỳ giàu có trong một đại dương nghèo khó.

Các quốc gia Nam Mỹ cũng đã cởi bỏ những căn cứ quân sự của Mỹ và sự kiểm soát của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế.

Một tổ chức mới được sáng lập, CELAC, bao gồm tất cả các xứ Tây Bán Cầu ngoại trừ Canada và Hoa Kỳ. Một khi thực sự hoạt động, CELAC cũng là một bước mới trong quá trình tuột dốc của Mỹ, trong trường hợp nầy ngay trong khu vực luôn được xem như “sân sau” của Hoa Kỳ.

Một mất mát nghiêm trọng hơn là các xứ MENA -Trung Đông/ Bắc Phi – khu vực các nhà hoạch định ngay từ thập kỷ 1940 đã xem như “nguồn quyền lực chiến lược to lớn kỳ diệu, và là một trong những phần thưởng vật chất lớn nhất trong lịch sử thế giới.”[1]

Theo lời của cố vấn đầy quyền lực của T T Roosevelt, A.A. Berle, kiểm soát được trữ lượng dầu khí của MENA có thể đem lại quyền kiểm soát đáng kể trên thế giới. Đã hẳn, nếu những dự báo một thế kỷ độc lập về năng lượng của Hoa Kỳ dựa trên các tài nguyên năng lượng Bắc Mỹ đúng với thực tế, ý nghĩa của quyền kiểm soát MENA có thể giảm bớt đôi chút, mặc dù có lẽ không nhiều: quan tâm chính luôn là kiểm soát nhiều hơn là tiếp cận.

Tuy nhiên, hậu quả khả dĩ đối với thế quân bình của hành tinh là điềm xấu đến độ sự thảo luận phần lớn chỉ có thể mang tính hàn lâm.

Mùa Xuân Á Rập, một biến cố có tầm quan trọng lịch sử khác, có thể báo hiệu ít  ra một mất mát phân bộ trong vùng MENA. Hoa Kỳ và các đồng minh đã tận lực ngăn chặn hậu quả đó – cho đến nay, khá thành công. Chính sách của các xứ nầy đối với các phong trào trỗi dậy của quần chúng là luôn bám sát những nguyên tắc hướng dẫn chuẩn: ủng hộ những lực lượng có nhiều khả năng chấp nhận ảnh hưởng và sự kiểm soát của người Mỹ.

Các nhà độc tài tay chân sẽ được yểm trợ trong chừng mức họ có thể duy trì quyền kiểm soát (như trong các xứ nhiều dầu lửa). Khi điều nầy không còn có thể, lúc đó phải loại bỏ họ và tìm cách vãn hồi chế độ cũ càng nhiều càng tốt (như trường hợp Tunisia và Ai Cập). Mẫu mực chung rất quen thuộc: Somoza, Marcos, Duvalier, Mobutu, Suharto, và nhiều lãnh tụ khác.

Trong trường hợp Libya, ba đế quốc truyền thống đã can thiệp bằng vũ lực qua việc công khai yểm trợ các phe nhóm phiến loạn lật đổ nhà độc tài đồng bóng khó tin cậy, mở đường cho khả năng kiểm soát các tài nguyên quan trọng hữu hiệu hơn (dầu lửa, cả nước sạch đối với người Pháp), một căn cứ quân sự cho Bộ Tư lệnh Phi châu của Hoa Kỳ (cho đến nay, chỉ hạn chế cho Đức), và đảo ngược sự xâm nhập ngày một gia tăng của TQ.

Trên phương diện chính sách, chẳng có nhiều ngạc nhiên.

Điều quan trọng hơn cả là giảm thiểu sự đe dọa của “các chế độ dân chủ đang vận hành hay mới manh nha, trong đó ý kiến quần chúng sẽ ảnh hưởng đáng kể đến chính sách”.

Một lần nữa, đó là lệ thường và dễ hiểu.

Một cái nhìn về các nghiên cứu công luận của các cơ quan thăm dò Hoa Kỳ trong các xứ MENA giúp giải thích dễ dàng sự e ngại của nhà cầm quyền Mỹ trước “mối đe dọa dân chủ chân chính với công luận luôn ảnh hưởng đến chính sách”.

DO THÁI VÀ ĐẢNG CỘNG HÒA

Quan tâm hàng đầu thứ hai được đề cập trong Foreign Affairs: quan hệ Do Thái-Palestine.

Trong trường hợp nầy, nỗi e ngại dân chủ quả thật đã quá rõ ràng. Tháng giêng 2006, một cuộc bầu cử đã được tổ chức ở Palestine và đã được các quan sát viên quốc tế xác nhận là tự do và công bình. Phản ứng tức khắc của Hoa Kỳ (và cố nhiên, của cả Do Thái), với Âu châu ngoan ngoãn theo sau, là áp đặt những trừng phạt khắt khe lên dân chúng Palestine, vì đã bỏ phiếu trái với ý muốn của người Mỹ.

Đây cũng không phải một điều gì mới mẽ. Phản ứng hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc chung và không có gì đáng ngạc nhiên đối với các học giả dòng chính: Hoa Kỳ chỉ ủng hộ dân chủ nếu kết quả bầu cử phù hợp với các mục tiêu chiến lược và kinh tế của Mỹ.

Nói chung, trong 35 năm, Hoa Kỳ đã dẫn đầu “phe bác bỏ”[2] trong vấn đề Do Thái-Palestine, chặn đứng mọi đồng thuận quốc tế kêu gọi một giải pháp quá quen thuộc để phải lặp lại.

Phương châm của các xứ Tây phương là Do Thái luôn tìm kiếm các cuộc thương thảo không có “điều kiện tiên quyết”, và người Palestine luôn “bác bỏ”. Trong thực tế, sự thật hoàn toàn trái ngược. Hoa Kỳ và Do Thái luôn “đòi hỏi các điều kiện tiên quyết phi lý”, được thiết kế nhằm bảo đảm các cuộc thương nghị sẽ đưa đến hoặc một sự đầu hàng của Palestine trong các vấn đề then chốt, hoặc không đi đến đâu.

Điều kiện tiên quyết thứ nhất là các cuộc thương nghị “phải được Hoa Kỳ giám sát”, một đòi hỏi vô nghĩa và thiếu duy lý, chẳng khác gì Iran đòi hỏi được quyền giám sát mọi thương nghị trong cuộc xung đột Sunni-Shia ở Iraq. Đàm phán nghiêm chỉnh cần được tổ chức dưới sự bảo trợ của một quốc gia trung lập, và có uy tín quốc tế – có lẽ Brazil. Và đây là các cuộc đàm phán nhằm tìm cách giải quyết các xung đột giữa hai phe đối nghịch: một bên là Hoa Kỳ-Do Thái, bên kia là phần lớn thế giới còn lại.

Điều kiện tiên quyết thứ hai là Do Thái “phải được tự do bành trướng các khu định cư phi pháp ở Bờ Tây”.

Trên lý thuyết, người Mỹ chống đối những hành động nầy, nhưng chỉ với cử chỉ gỏ nhẹ vào cổ tay, trong khi vẫn tiếp tục cung cấp các hổ trợ kinh tế , ngoại giao, và quân sự cho Do Thái. Khi người Mỹ có vài phản đối nhỏ, họ rất dễ dàng ngăn chặn, như trong trường hợp dự án E-1 nối liền Greater Jerusalem với thành phố Ma’aleh Adumim hầu như cắt đôi Bờ Tây, một ưu tiên hàng đầu đối với các nhà hoạch định Do Thái, nhưng cũng chỉ nêu lên một vài chống đối qua loa ở Hoa Thịnh Đốn, để rồi Do Thái chỉ phải sử dụng vài biện pháp ranh ma bào đẽo dự án.

Giả vờ chống đối đã đạt tới mức hài hước trong tháng 2-2011, khi Obama phủ quyết nghị quyết của Hội Đồng Bảo An LHQ kêu gọi thực thi chính sách chính thức của Hoa Kỳ (cũng kèm thêm nhận xét thông thường các khu định cư  là bất hợp pháp – chẳng dính dáng gì đến kế hoạch bành trướng). Từ đó, ít có ai nhắc tới biện pháp chấm dứt bành trướng các khu định cư, tuy vẫn được tiếp tục như một việc làm với chủ đích khiêu khích.

Vì vậy, khi đại diện của Do Thái và Palestine chuẩn bị gặp nhau vào tháng 1-2011, Do Thái đã loan báo những công trình xây dựng mới ở Pisgat Ze’ev và Har Homa, những khu trong Bờ Tây đã được công bố thuộc phạm vi Jerusalem nới rộng, được sát nhập, và xây dựng như thủ đô của Do Thái, tất cả đều vi phạm các mệnh lệnh trực tiếp của Hội Đồng Bảo An LHQ.

Nhiều động thái khác nhằm xúc tiến các thiết kế lớn lao hơn trong chiến lược cô lập hóa những gì còn lại từ các khu biệt lập trong Bờ Tây, như trung tâm văn hóa, thương mãi, chính trị của Palestine trong Jerusalem trước đây.

Điều khá dễ hiểu là quyền lợi của Palestine đã được đẩy ra ngoại vi chính sách và công luận Hoa Kỳ. Người Palestine hình như chẳng có tài sản hay quyền lực gì đủ quan trọng để trao đổi với Hoa Kỳ trong quá trình định hình chính sách. Trong thực tế, họ chỉ có một giá trị tiêu cực –  một phiền toái khuấy rối “đường phố Á Rập.”

Ngược lại, Do Thái là một đồng minh quý giá. Đó là một xứ giàu có, với công nghệ cao và phần lớn đã được quân sự hóa. Trong nhiều thập kỷ, Do Thái đã là đồng minh chiến lược và quân sự thiết yếu, nhất là từ năm 1967, khi đã thành công trong việc giúp Hoa Kỳ và đồng minh Saudi Arabia hủy diệt vi khuẩn Nasser, thiết lập một quan hệ đặc biệt với Hoa Thịnh Đốn trong một hình thức lâu bền kéo dài mãi cho đến ngày nay. Do Thái cũng là một trung tâm ngày một quan trọng thu hút đầu tư công nghệ cao của Hoa Kỳ. Hơn thế nữa, kỹ nghệ tân tiến và đặc biệt là kỹ nghệ quân sự trong hai xứ cũng đã nối kết chặt chẽ với nhau.

Bên cạnh các lý do chính trị nước lớn sơ đẳng, chúng ta cũng không nên quên các yếu tố văn hóa. Chủ nghĩa phục quốc ở Anh và Hoa Kỳ từ lâu đã đi trước chủ nghĩa  phục quốc Do Thái, và đã là hiện tượng thượng lưu đầy ý nghĩa với những hệ lụy chính sách rõ rệt (kể cả Tuyên Ngôn Balfour rút tỉa từ những hệ lụy nầy). Khi Tướng  Allenby chinh phục Jerusalem trong Đệ Nhất Thế Chiến, ông ta đã được báo chí Hoa Kỳ hoan nghênh như Richard the Lion-Hearted, người cuối cùng đã thắng Thập Tự Chinh và đuổi các tín đồ tà giáo ra khỏi Holy Land.

Bước kế tiếp là giúp Dân Tộc Được Lựa Chọn – the Chosen People – trở về vùng Đất Hứa Chúa đã dành cho họ. Phát biểu cách nhìn của giới thượng lưu, Bộ trưởng Nội Vụ của Franklin Roosevelt,  Harold Ickes, đã mô tả chiếm đóng Palestine làm khu định cư của Do Thái là một thành tựu “vô song trong lịch sử nhân loại.” [3]

Những thái độ như thế thường dễ tìm được chỗ đứng bên trong các chủ thuyết  Providentialist, một yếu tố mạnh mẽ trong văn hóa dân gian và thượng lưu từ nguồn gốc của Do Thái: đức tin Chúa có một kế hoạch cho thế giới và Hoa Kỳ đang thực thi kế hoạch dưới sự hướng dẫn của Chúa, như đã được phát biểu bởi một danh sách dài các gương mặt lãnh đạo.

Hơn nữa, Cơ Đốc Phúc Âm là một lực lượng bình dân lớn ở Hoa Kỳ. Đi xa hơn về phía cực đoan, Cơ Đốc Phúc Âm End Times, cũng có tầm với bình dân sâu rộng, tăng cường bởi sự thành lập nước Do Thái năm 1948, tiếp đến bởi việc chiếm đoạt phần còn lại của Palesine năm 1967 – mọi dấu hiệu End Times và Second Coming đang đến gần.

Những lực lượng vừa nói đã trở nên cực thịnh từ thời Reagan, khi Phe Cộng Hòa đã từ bỏ lớp võ ngoài của một chính đảng theo nghĩa truyền thống, thay vào đó đã  đồng lòng tích cực  phụng sự một tối thiểu số cực giàu và khu vực các đại công ty đa quốc gia. Tuy nhiên,  vì số cử tri hậu thuẩn quá nhỏ bé, phần lớn được đảng vừa tái thiết phụng sự, không thể đem lại đủ số phiếu, vì vậy, phải quay qua nơi khác tìm hậu thuẩn.

Lựa chọn duy nhất là động viên các khuynh hướng luôn hiện diện, mặc dù hiếm khi như một lực lượng chính trị có tổ chức: phần lớn là thổ dân bản địa run sợ và căm thù, và những thành phần tôn giáo cực đoan. Một kết quả là sùng bái những lời tiên tri trong Kinh Thánh,  không những ủng hộ Do Thái và chính sách chiếm đoạt và  bành trướng, mà còn si mê Do Thái đến cuồng điên, một bộ phận nòng cốt của  giáo lý catechism – ngợi ca bởi các ứng cử viên Cộng Hòa – với đảng viên Dân Chủ lẻo đẻo theo sau.

Do đó, những nhóm nầy luôn có thiện cảm  – trực giác  hay cảm tính – đối với con em Do Thái. Nhưng trên căn bản, các quyền lợi kinh tế và địa chiến lược luôn giữ địa vị ưu thắng, và chính sách không phải không thay đổi.

ĐE DỌA IRAN VÀ ĐỀ TÀI NGUYÊN TỬ

Đây là đề tài hàng đầu thứ ba được đề cập trong Foreign Affairs: “đe dọa Iran.”

Trong giới thượng lưu và tầng lớp chính trị, đây là đe dọa chính đối với trật tự thế giới – mặc dù không phải trong quần chúng. Ở Âu châu, các cuộc thăm dò cho thấy Do Thái được xem như đe dọa hòa bình hàng đầu.

Trong các xứ MENA, tình trạng cũng tương tự như Hoa Kỳ. Chẳng hạn, ở Ai Cập, trước ngày biến động ở Quảng Trường Tahrir, 80% dân Ai Cập cảm nhận khu vực Trung Đông có thể an toàn hơn nếu Iran có vũ khí nguyên tử. Cùng những thăm dò đã đi đến kết luận: chỉ 10% xem Iran như một đe dọa – không giống những nhà độc tài đang ngự trị, những người có những quan tâm riêng.

Ở Hoa Kỳ, trước các chiến dịch tuyên truyền rầm rộ trong vài năm gần đây, đa số quần chúng đồng ý với hầu hết thế giới: như một quốc gia đã ký Thỏa Ước Cấm Phổ Biến Nguyên Tử, Iran có quyền làm giàu uranium. Và ngay cả hiện nay, một đa số lớn vẫn ủng hộ các biện pháp hòa bình trong quan hệ với Iran. Đa số dân Mỹ chống đối can dự quân sự nếu có chiến tranh giữa Iran và Do Thái. Chỉ 1/4 xem Iran như mối quan tâm lớn đối với Hoa Kỳ.

Đã hẳn, chẳng có gì bất thường nếu có một khoảng cách hay hố sâu, chia cách công luận và chính sách.

Như vậy, vì sao Iran lại bị xem như một đe dọa lớn lao đến thế?

Vấn đề rất hiếm khi được thảo luận, nhưng vẫn không khó tìm một câu trả lời nghiêm chỉnh – dĩ nhiên không phải trong những lời tuyên bố nẩy lửa của các ứng viên Cộng Hòa.

Câu trả lời có thẩm quyền nhất được cung cấp bởi Ngũ Giác Đài và các cơ quan tình báo, trong các báo cáo định kỳ cho Quốc Hội, về an ninh toàn cầu: Iran không là một đe dọa quân sự; chi tiêu quân sự của Iran rất thấp ngay cả theo chuẩn mực trong khu vực, đã hẵn bé tí teo so với Hoa Kỳ.

Iran có rất ít khả năng giàn trải lực lượng. Các học thuyết chiến lược của Iran mang tính tự vệ, được thiết kế nhằm ngăn ngừa xâm lăng đủ lâu để tìm một giải pháp ngoại giao. Nếu Iran khai triển khả năng vũ khí hạt nhân, điều đó cũng chỉ là một phân bộ của chiến lược ngăn ngừa. Không một nhà phân tích nghiêm chỉnh nào tin hàng giáo phẩm lãnh đạo Iran lại nóng lòng muốn thấy xứ sở và kinh tế của họ bị tiêu tan,  hậu quả trực tiếp của việc họ tiến gần đến nguy cơ khởi động một cuộc chiến nguyên tử. Và tưởng cũng chẳng cần phải nêu rõ những lý do tại sao cấp lãnh đạo Iran phải quan tâm đến các biện pháp ngăn chặn, trong hoàn cảnh hiện nay.

Chế độ đã hẳn là một đe dọa ngay đối với một số dân chúng Iran – và đáng tiếc, họ cũng không hề duy nhất hay đơn độc trong địa hạt nầy.

Nhưng đe dọa chính đối với Hoa Kỳ và Do Thái là Iran có thể ngăn chặn hai nước thù địch Hoa Kỳ-Do Thái tự do hành xử bạo lực. Một đe dọa khác là người Iran rõ ràng đang tìm cách bành trướng ảnh hưởng đến Iraq và Afghanistan, và xa hơn nữa.

Những hành động không chính đáng đó được gọi là gây bất ổn hay tệ hơn nữa. Trái lại, sự áp đặt, mang tính cưởng ép, ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở những vùng xa xôi trên thế giới lại được xem như góp phần vào “ổn định và trật tự,” phù hợp với học thuyết truyền thống: Ai đang làm chủ thế giới.

Đã hẳn, chúng ta có thể hiểu lý do vì sao cần ngăn ngừa Iran gia nhập hàng ngũ những quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân, kể cả ba xứ đã từ chối ký vào Thỏa Ước Cấm Phổ Biến Nguyên Tử — Do Thái, Ấn Độ, và Pakistan, cả ba đều đã được Hoa Kỳ giúp phát triển vũ khí nguyên tử và vẫn còn được các xứ nầy ủng hộ trở lại.

Nhưng cũng không phải không thể tiến tới mục tiêu ngăn ngừa Iran bằng các biện pháp ngoại giao hòa bình. Một cách tiếp cận, được sự hổ trợ quốc tế mạnh mẽ, là cần có những bước tiến có ý nghĩa: nhằm thiết lập một khu vực phi nguyên tử ở Trung Đông, kể cả Iran và Do Thái (và cũng áp dụng cho các lực lượng Hoa Kỳ hoạt động trong khu vực), và còn tốt hơn nữa bao gồm cả Nam Á.

Hậu thuẩn cho cách tiếp cận vừa nói mạnh đến nổi chính quyền Obama cũng đã bị  buộc phải chính thức đồng ý, mặc dù với dè dặt: quan trọng nhất là chương trình nguyên tử của Do Thái phải được đặt dưới quyền bảo trợ của Hiệp Hội Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế, International Atomic Energy Association – IAEA; không quốc gia nào (ám chỉ chính Hoa Kỳ) bị đòi hỏi phải tiết lộ thông tin về “các cơ sở và hoạt động nguyên tử của Do Thái, kể cả thông tin liên quan đến các chuyển giao nguyên tử cho Do Thái trước đây.”[4]Obama cũng chấp nhận lập trường của Do Thái: bất cứ một đề nghị nào tương tự cũng phải tùy thuộc một giải pháp hòa bình toàn bộ – một giải pháp Hoa Kỳ và Do THái có thể tiếp tục trì hoãn vô thời hạn.

Khỏi cần phải nói, lối nhìn tổng quát nầy còn xa mới đầy đủ.

Trong số những đề tài quan trọng không được xét đến là việc chuyển dịch chiến lược quân sự của Hoa Kỳ qua vùng Á Châu-Thái Bình Dương, với sự thiết lập hệ thống căn cứ quân sự  đang diễn tiến hiện nay ở  Jeju Island ngoài khơi Nam Hàn và Bắc Úc Đại Lợi. Tất cả đều là thành tố của chính sách “ngăn chặn Trung Quốc.”[5]

Một đề tài liên hệ chặt chẽ khác là các căn cứ của Hoa Kỳ ở Okinawa, bị kịch liệt chống đối bởi dân địa phương trong nhiều năm qua, và gây khủng hoảng liên tục trong quan hệ Hoa Kỳ-Tokyo-Okinawa.

Theo Paul Godwin, Viện Nghiên Cứu Chính Sách Đối Ngoại, với rất ít thay đổi các giả thiết căn bản đã được tiết lộ, các nhà phân tích chiến lược Hoa Kỳ mô tả kết quả các chương trình quân sự của TQ như một “vấn nạn ‘an ninh cổ điển’, theo đó các chương trình quân sự và chiến lược quốc gia được đánh giá bởi các nhà hoạch định là ‘tự vệ’ đang được đối phương xem như mang tính đe dọa.”[6]

Vấn nạn an ninh bắt nguồn từ quyền kiểm soát những vùng biển ngoài khơi bờ biển Trung Quốc: Người Mỹ xem chính sách kiểm soát các vùng biển nầy của mình là để “tự vệ,” trong khi TQ xem đó là một “đe dọa”; ngược lại, TQ xem các hành động của mình trong các vùng kế cận là “tự vệ” trong khi người Mỹ xem đó là một “đe dọa.”

 Không một tranh luận tương tự nào như thế có thể tưởng tượng được nếu liên quan đến các vùng  lãnh hải của Hoa Kỳ. Vấn nạn an ninh cổ điển nầy cũng rất dễ hiểu –   Hoa Kỳ luôn tự nhận: có quyền kiểm soát hầu hết thế giới, và an ninh Hoa Kỳ đòi hỏi một điều gần như quyền kiểm soát toàn cầu tuyệt đối.

Trong khi các nguyên tắc về quyền bá chủ mang tính đế quốc của Hoa Kỳ đã thay đổi rất ít, khả năng của Hoa Kỳ để thực thi những quyền nầy lại đã suy giảm khá rõ ràng khi quyền lực đã được phân phối rộng rãi hơn trong một thế giới không còn  đơn cực. Hậu quả thật sự khá nhiều.

Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là không một đại cường nào chịu giúp  gở bỏ hai đám mây dày đặc đang vần vũ bên trên mọi toan tính trật tự toàn cầu: hiểm họa chiến tranh nguyên tử và tai họa môi trường. Cả hai rõ ràng đang đe dọa sự thượng tồn của nhân loại.

Hoàn toàn ngược lại. Sự đe dọa của cả hai đại họa đã rất rõ rệt và ngày một gia tăng.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

Ngày 05-3-2012

Chú Thích:

(1) Hầu hết các dữ liệu sử dụng trong bài viết đều dựa vào các tác phẩm của Noam Chomsky, Giáo sư hưu trí, MIT Department of Languistics and Philosophy.

(2) Những tác phẩm mới nhất của Noam Chomsky: Making the Future: Occupations, Intervention, Empire, and Resistance; Gaza in Crisis; Hopes and Prospects.


[1] …a stupendous source of strategic power, and one of the greatest material prizes in world history.

[2] ..the rejectionist camp…

[3] …Jewish colonization of Palestine as an achievement “without comparison in the history of the human race.”

[4] …no state (meaning the U.S.) should be required to release information about”Israeli nuclear facilities and activities, including information pertaining to previous nuclar transfer to Israel.”

[5] …”containment of China.”

[6] …the result of China’s military programs as “a classic security dilemma, whereby military prgrams and national strategies deemed defensive by their planners are viewed as threatening by the other side.”

Advertisements