CUỘC CHIẾN TOÀN CẦU CHỐNG KHỦNG BỐ: TỪ GIẢI PHÓNG ĐẾN ÁM SÁT

Đã khá lâu Hoa Kỳ đã bước vào thập kỷ thứ hai, thời kỳ Ngũ Giác Đài đã mệnh danh “kỷ nguyên xung đột triền miên.”[1]  Cuộc chiến trước đây đã được biết dưới tên gọi “Cuộc Chiến Toàn Cầu Chống Khủng Bố’,”[2] ngày một có vẻ “manh mún” “khuếch tán.”[3] Không ghi được chiến thắng, nhưng vẫn không sẵn sàng nhận thất bại, lực lượng quân sự của Hoa Kỳ đã rút khỏi Iraq. Người Mỹ cũng đang tìm cách rời bỏ Afghanistan, nơi họ hình như không có triễn vọng kết thúc tốt đẹp như hằng mong muốn.

Trong nhiều xứ khác — Pakistan, Libya, Yemen, và Somalia — lực lượng Hoa Kỳ hiện đang bận rộn mở nhiều mặt trận mới. Theo tường trình báo chí, Hoa Kỳ còn đang thiết lập nhiều căn cứ phi cơ không người lái bí mật bên trong hoặc gần Horn of Africa và Bán đảo Á Rập. Chiến tranh, do đó, chắc sẽ mở rộng nhiều hơn nữa.

Trong một bài đăng trên trang đầu, báo The New York Times đã mô tả các kế hoạch tăng cường sự hiện diện dày đặc hơn của lực lượng hành quân biệt kích Hoa Kỳ trên toàn cầu. Quân đội Mỹ cũng đang gấp rút cải biến các tàu đổ bộ hải quân thành  những căn cứ nổi di động đến gần tiền tuyến – một căn cứ xuất phát lưu động dành cho các cuộc hành quân còm-măng-đô hay rà quét bom mìn trong vùng Vịnh Ba Tư – thêm một dấu hiệu tăng cường và mở rộng cuộc chiến.

Trong khi một vài căn cứ được đóng cữa, một số mới lại xuất hiện, câu chuyện chiến tranh, do đó,  ngày một thêm phức tạp khó lường.

Nhìn gần và nhìn kỷ, cuộc “chiến” hình như đã đánh mất vóc dáng, hình thù. Tuy nhiên, nếu lùi lại vài bước, mẫu mực quan trọng ũng đã bắt đầu ló dạng. Những gì sau đây chỉ là một nổ lực sơ bộ để thẩm định Cuộc Chiến Toàn Cầu Chống Khủng Bố.

Cuộc chiến tạm thời được xem như trận đấu với ba hiệp. Mặc dù rất có thể sẽ còn nhiều hiệp phụ, ở đây chỉ cần lưu ý ba hiệp chúng ta đã và đang trải nghiệm cho đến nay.

KỶ NGUYÊN RUMSFELD

Hiệp 1: Giải Phóng.

Hơn bất cứ ai, bất cứ tướng lãnh nào, và ngay cả chính tổng thống, Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld đã giữ vai trò áp đảo trong thời kỳ đầu của cuộc chiến. Được tâng bấc quá đáng, uy tín được thổi phồng, và được hâm mộ, ít ra trong mắt câu lạc bộ tân bảo thủ, như một Bộ Trưởng Chiến Tranh tài ba, Rumsfeld cực kỳ tin tưởng, trong chiến tranh, tốc độ là chìa khóa quyết định thành công. Ông đã dốc toàn lực hậu thuẩn hình thái chiến tranh chớp nhoáng cơ sở trên công nghệ cao của Mỹ. Rumsfeld thường nhấn mạnh,  lực lượng Hoa Kỳ thông minh và nhanh nhẹn hơn bất cứ đối thủ nào. Sử dụng quân lực trong những phương cách tối đa hóa các đặc tính vừa nói là bảo đảm thắng lợi. Từ được báo chí lựa chọn để mô tả ý niệm nầy là “sốc và kinh hoàng.”[4]

Không ai tin tưởng ở “sốc và kinh hoàng” hơn Rumsfeld. Thiết kế cuộc hành quân Operation Enduring Freedom, phát động trong tháng 10-2001, và Operation Iraqi Freedom, bắt đầu vào tháng 3-2003, đã phản ảnh lòng tin ấy. Trong mỗi trường hợp, chiến dịch khởi động đầy hứa hẹn, với quân Mỹ đã giáng những cú đấm thần tốc và đầy ấn tượng. Tuy nhiên, trong cả hai cuộc hành quân, họ đều không thể thắng hẳn đối phương, hay trong thực tế, ngay cả không nhận diện được ai là kẻ thù của họ.

Không may cho Rumsfeld, các thành phần  “khủng bố” đã từ chối luật chơi của ông, và lực lượng Mỹ đã chứng tỏ ít thông minh và nhanh nhẹn hơn là lợi thế kỷ thuật sẵn có — và guồng máy “quan hệ quần chúng”, hay đúng hơn “đổi trắng thay đen” của họ đã chứng minh điều đó. Thực vậy, khi bị quấy rối bởi các nhóm trỗi dậy và các nhóm thánh chiến đó đây, quân đội Mỹ đã tỏ ra chậm chạp đáng ngạc nhiên trong cách ứng phó.

Ở Afghanistan, Rumsfeld đã để chiến thắng vuột khỏi tầm tay. Ở Iraq, phương cách quản lý cuộc chiến sai lầm của ông đã buộc Hoa Kỳ phải trực diện với thất bại hoàn toàn. Cấp lãnh đạo Hoa Kỳ trước đó đã nuôi hy vọng “giải phóng” (và cố nhiên khống chế) thế giới Hồi giáo sau một chuổi tấn công gọn ghẽ chóng vánh. Nhưng những gì Bush nhận được là hai cuộc tranh hùng khó khăn và dài lâu. Vào cuối năm 2006, chiến lược “sốc và kinh hoàng” đã hoàn toàn thất bại. Bị dân Mỹ và quân lực bỏ lại phía sau quá xa, Tổng Thống Bush rút cuộc đã mất hết tin tưởng ở chiến lược của vị Bộ Trưởng Quốc Phòng của mình. Kết quả cuối cùng, Rumsfeld đã bị thay thế.

Hiệp 1 đã chấm dứt, và người Mỹ đã phải bối rối và chịu thua điểm.

KỶ NGUYÊN PETRAEUS

Hiệp 2: Bình Định.

Đến phiên Tướng David Petraeus. Hơn bất cứ ai, dù quân sự hay dân sự, Petraeus đã giữ vai trò áp đảo trong Hiệp 2 cuộc Chiến Chống Khủng Bố.

Hiệp hai bắt đầu với ít kỳ vọng hơn. Giấc mơ giải phóng hay khống chế không còn nữa. Các tiên đoán thắng lợi chớp nhoáng cũng không còn. Giờ đây, Hoa Kỳ phải bằng lòng với các mục tiêu khiêm tốn hơn nhiều trong khi vẫn rêu rao đang thắng lợi.

Thực ra, chiến lược của Petraeus giờ đây chỉ nhằm vãn hồi một bề ngoài trật tự trong các xứ đã rơi vào hỗn độn, hậu quả của Hiệp 1. Trật tự có thể cho phép Hoa Kỳ tự tháo gỡ trong khi vẫn làm ra vẻ đã đạt được các mục tiêu chính sách. Đó chỉ là định nghĩa thực tế của thắng lợi trong chiến lược mới.

Tên gọi chính thức Petraeus dành cho chiến lược là “chống nổi loạn”counterinsurgency, hay COIN. Thay vì tìm cách đánh bại kẻ địch, COIN đã cố gắng đem lại một thứ quốc gia-nhà nước (nation-state), có thể tồn tại vất vưởng và ổn định tạm bợ. Đây là mục tiệu ấn định của đợt dấy lên hay tăng cường (surge), ở Iraq, theo lệnh của T T George W. Bush vào cuối năm 2006.

Dưới sự lèo lái của Petraeus, bạo lực trong xứ đã nhanh chóng giảm bớt. Liên hệ của  hai sự kiện mang tính nhân quả hay chỉ trùng hợp ngẫu nhiên vẫn còn là một đề tài tranh luận.

Tuy vậy, sự thành công biểu kiến của Petraeus đã thuyết phục vài quan sát viên chiến lược chống nổi loạn tầm cỡ toàn cầu, dưới tên gọi GCOIN, lúc đó, chọn làm cơ bản cho chiến lược an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Họ lập luận, đây là cách tiếp cận hay chính sách chắc chắn có thể giải cứu Hoa Kỳ ra khỏi cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, cùng lúc đem lại một thứ chiến thắng.

Thay vì dùng chiến lược “sốc và kinh hoàng” để giải phóng thế giới Hồi giáo, các lực lượng Hoa Kỳ có thể áp dụng học thuyết chống nổi loạn để bình định, dù chỉ tạm thời.

Nhiệm vụ chứng minh hiệu lực hay giá trị của COIN bên ngoài Iraq được giao phó cho Tướng Stanley McChrystal, được bổ nhiệm một cách trang trọng năm 2009 vào chức vụ Tư Lệnh các lực lượng Hoa Kỳ và NATO ở Afghanistan. Báo chí ca tụng McChrystal như một Petraeus thứ hai, một ứng viên lý tưởng để lặp lại các thành tựu đã đem lại uy tín vẻ vang cho “King David.”

Sự thăng tiến của McChrystal đã đến vào một thời điểm khi sự tôn sùng các tướng lãnh đang thẩm thấu Hoa Thịnh Đốn. Thay vì vũ khí công nghệ cao là yếu tố quyết định thành công như Rumsfeld đã từng tin tưởng, chìa khóa thành công lúc đó là “đặt người đúng chỗ” với “trọn quyền tự do điều hành quản lý”. Các chính trị gia lưỡng đảng đã không tiếc lời tâng bấc McChrystal là tướng tư lệnh lý tưởng cho Afghanistan. Các bình luận gia mọi sắc màu cũng tham dự  hợp xướng tán dương.

Vừa an vị ở Kabul, và sau khi đã quan sát tình hình, không mấy ai ngạc nhiên khi McChrystal trang trọng tuyên bố: “thành công đòi hỏi một chiến dịch chống trỗi dậy toàn diện.”[5]

Chiến dịch phát động một đợt “tăng cường tấn công” hay “surge” ở Afghanistan, tương tự những gì đã từng giúp đảo ngược thế cờ ở Iraq. Tháng 12-2009, mặc dù không mấy hồ hởi tin tưởng, T T Obama đã chấp nhận yêu cầu hay tối hậu thư của tướng tư lệnh. Và quân đội Hoa Kỳ ở Afghanistan đã được tăng cường nhanh chóng.

Nhưng rồi tình hình lại lúc một tệ dần. Tiến độ giảm thiểu làn sóng trỗi dậy hay cải thiện khả năng của các lực lượng an ninh Afghanistan, dù đã được đánh giá một cách rộng lượng nhất, vẫn không đáng kể. McChrystal đã đưa ra nhiều hứa hẹn, như thỏa mãn các nhu cầu căn bản của chính quyền Afghanistan, tướng tư lệnh sau đó đã không đủ khả năng thực thi. Quan hệ với T T Hamid Karzai vẫn gượng ép, căng thẳng. Quan hệ với nước láng giềng Pakistan, không mấy tốt đẹp ngay từ đầu, giờ cũng chỉ tồi tệ thêm. Cả hai chính quyền đều tỏ ra phẩn uất sâu xa trước lối ứng xử kẻ cả của người Mỹ và trước thực tế thường dân thương vong ngày một nhiều.

Điều làm cho tình hình tồi tệ hơn, mặc dù những hứng khởi cuồng nhiệt ban đầu, McChrystal đã tỏ ra không thích ứng — rõ ràng không phải “đúng người đúng chỗ”. Điều đáng chú ý, ông ta đã tỏ ra không nắm vững nhu cầu phải biết tôn trọng, ít ra bề ngoài, nguyên tắc kiểm soát và lãnh đạo dân sự ở Hoa Thịnh Đốn. Và mùa hè 2010, McChrystal đã bị thay thế. Petraeus, một lần nữa, trở lại  nắm quyền tư lệnh Afghanistan.

Ở Hoa Thịnh Đốn, nếu không phải ở Kabul, uy tín thổi phồng quá đáng dành cho  Petraeus đã giúp dập tắt ý tưởng, với ngọn nến leo lét McChrystal, chiến dịch Afghanistan rất có thể đã tuyệt vọng. Chắc chắn, người lính được ca ngợi nhất của thế hệ ông rất có thể sẽ tái diễn xảo thuật Iraq của chính ông, tái xác nhận tài ba riêng và sức sống liên tục của COIN.

Nhưng thực tế không hề đơn giản. Điều kiện ở Afghanistan trong suốt thời gian  trách nhiệm của Petraeus đã được cải tiến — nếu đó là từ chính xác — cũng chỉ hết sức khiêm tốn. Cuộc chiến đã tiếp diễn đúng theo “định nghĩa sa lầy của bất cứ ai.”  Với giọng điệu nhẹ nhàng nhất,  Thẩm định Tình báo Quốc gia 2011 đã gọi tình hình thực tế ở Afghanistan đang lâm vào “thế bí” hay “bế tắc”;  “stalemate” là từ chính thức được sử dụng. Chẳng bao lâu sau, câu chuyện “chống trỗi dậy toàn diện”comprehensive counterinsurgency — đã thực sự phai mờ.

Với định nghĩa chuẩn mực của thành công tuột xuống mức thấp hơn bao giờ hết, đề cao quyết định trao trách nhiệm chiến đấu lại cho lực lượng an ninh Afghanistan và  quân đội Mỹ cuốn gói hồi hương, đã trở thành mục tiêu chiến tranh được chính thức công bố. Thêm một bài hoc và một tín hiệu mạt vận của chủ nghĩa đế quốc!

Được triệu hồi về Mỹ, Petraeus đã rời quân ngũ để trở thành giám đốc CIA, trong khi chưa, hay đúng hơn, không thể hoàn thành trách nhiệm được giao phó ở Afghanistan. Mặc dù vẫn còn được tín nhiệm, sự từ bỏ quy chế hiện dịch đã để lại phía sau hình ảnh tơi tả thảm thương của hàng ngũ tướng lãnh, một thời đã được hết lòng tôn sùng bởi Hoa Thịnh Đốn.

Vào đúng lúc Tướng John Allen kế nhiệm Petraeus  — trở thành Tướng Mỹ thứ tám được bổ nhiệm vào chức vụ chủ trì cuộc chiến Afghanistan đang tiếp diễn — không còn ai tin: chỉ cần đơn thuần đặt đúng người vào vị trí tư lệnh là đủ để đem lại ma thuật thần diệu.

Với nhận định đó, Hiệp 2 Cuộc Chiến Toàn Cầu Chống Trổi Dậy, hay GCOIN, đã chấm dứt.

KỶ NGUYÊN VICKERS

Hiệp 3: Ám Sát.

Khác với Donald Rumsfeld hay David Petraeus, Michael Vickers chưa bao giờ được xếp vào hàng lỗi lạc. Tuy nhiên, hơn bất cứ ai trong hay ngoài quân ngũ, Vickers, đang giữ chức vụ Thứ Trưởng Quốc Phòng phụ trách Tình Báo, xứng đáng được công nhận như gương mặt biểu tượng cho  Hiệp 3 Cuộc Chiến Toàn Cầu Chống Khủng Bố. Với phong cách khiêm tốn, ôn hòa của một người được ưa chuộng, Vickers có nhân cách hoàn toàn thích hợp với giai đoạn mới nhất trong cuộc chiến. Rất ít người bên ngoài Hoa Thịnh Đốn biết ông là ai, điều nầy thực sự thích hợp, vì lẽ ông đang chủ trì một cuộc chiến rất ít người bên ngoài Hoa Thịnh Đốn còn lưu ý.

Với quyết định hưu trí của nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates, Vickers là nhân vật cao cấp duy nhất còn sót lại từ Ngũ Giác Đài thời George W. Bush. Thành tích quá khứ chẳng có gì lổi lạc đặc biệt, nếu không nói là chiết trung. Trước đó, ông đã phục vụ trong Lực Lượng Đặc Biệt của Bộ Binh Hoa Kỳ và là một nhân viên tình báo. Trong tư cách đó, Vickers đã giữ vai trò hàng đầu trong việc hổ trợ các dân quân thánh chiến Afghanistan chống lại quân chiếm đóng Xô Viết trong thập kỷ 1980. Sau đó, ông đã làm việc trong một cơ quan nghiên cứu, think tank, Hoa Thịnh Đốn và lấy được văn bằng tiến sĩ khoa nghiên cứu chiến lược tại Đại Học Johns Hopkins với luận án : “Cơ Cấu của Các Cuộc Cách Mạng Quân Sự” — The Structure of Military Revolutions.

Trong suốt kỷ nguyên George W. Bush, Vickers chưa bao giờ theo đuổi mục đích: Hoa Kỳ có thể “giải phóng” hay “bình định” thế giới Hồi Giáo. Cách tiếp cận Cuộc Chiến Toàn Cầu Chống Khủng Bố ông ưa thích luôn rất đơn giản. Ông từng phát biểu, “Tôi chỉ muốn giết những tên đó,” ông muốn nói đến các thành viên al-Qaeda. Giết mọi người muốn giết người Mỹ và không ngừng giết cho đến khi tất cả bọn chúng đều chết: đó là  định nghĩa chiến lược của Vickers, một chiến lược dưới thời T T Obama đã thay thế COIN như hình thái chiến lược mới nhất của Hoa Kỳ.

Cách tiếp cận của Vickers có nghĩa: tích cực tấn công để loại bỏ những tên giết người tiềm năng — would-be killers, tìm thấy bất cứ ở đâu, sử dụng bất cứ phương tiện cần thiết nào. Như một người hâm mộ đã bình luận, Vickers có “khuynh hướng tư duy như một kẻ cướp. Ông có thể hiểu các khuynh hướng và rồi thay đổi luật chơi để có lợi cho phe mình.”[6]

Hiệp 3 của Cuộc Chiến Toàn Cầu Chống Khủng Bố là uốn nắn, bẻ gảy, và tái sáng chế những quy luật theo nhiều phương cách được tin là có lợi cho Hoa Kỳ. Rất giống với COIN đã thay thế “sốc và kinh hoàng,” một chương trình lượng định thông thoáng và rộng rãi các mục tiêu cần ám sát, nay đã thay thế COIN như hình thức diễn đạt thịnh hành chiến lược mới của người Mỹ.

Hoa Kỳ nay không còn gửi nhiều bộ binh đến xâm lăng và chiếm đóng các xứ trong lục địa Âu-Á. Robert Gates, khi còn giữ chức vụ Bộ Trưởng Quốc Phòng, đã có tuyên bố dứt khoát về đề tài nầy. Hoa Kỳ hiện chỉ sử dụng các phi cơ không người lái và các lực lượng hành quân đặc biệt nhằm thanh toán bất cứ ai, kể cả công dân Mỹ, tổng thống Hoa Kỳ quyết định đã trở thành một phiền nhiễu không thể tha thứ. Dưới thời T T Obama, các cuộc tấn công như vậy đã tăng nhanh.

Đây là chính sách mới của Hoa Kỳ. Nhại theo một cảnh cáo của Bộ Trưởng Ngoại Giao Hillary Clinton, báo Washington Post đã tóm tắt một cách ngắn gọn những gì muốn nói: “Hoa Kỳ tự dành quyền tấn công bất cứ ai được xem như một đe dọa trực tiếp cho an ninh quốc gia Hoa Kỳ , bất cứ ở đâu trên thế giới.”[7]

Hơn nữa, hành động thay mặt cho Hoa Kỳ, tổng thống hành xử quyền trên không cần cảnh cáo, không cần quan tâm đến sự đòi hỏi của chủ quyền quốc gia tối thượng, không cần sự cho phép của Quốc Hội, không cần tham khảo ý kiến của bất cứ ai ngoài Michael  Vickers và một số ít các thành viên khác trong guồng máy an ninh quốc gia. Vai trò dành cho nhân dân Hoa Kỳ là hoan hô, nếu và khi được thông báo một hành vi ám sát đã thành công. Và hoan hô: dân chúng đã từng thể hiện! Chẳng hạn, khi cuộc bố ráp táo bạo và trắng trợn bởi các thành viên trong SEAL – Đội 6,  bí mật xâm nhập không phận Pakistan để thanh toán Osama bin Laden với hai phát súng gọn ghẻ. Thù hận lâu ngày đã thay thế mọi suy xét những hệ lụy chính trị thứ yếu có thể gây ra.

Hiệp 3 sẽ chấm dứt ra sao là một điều khá khó tiên đoán. Điều có thể nói chỉ là Hiệp 3 khó lòng sớm chấm dứt, nhất là chấm dứt tốt đẹp. Như Do Thái đã khám phá, một khi “ám sát các mục tiêu có sẵn” đã trở thành chính sách, danh sách các mục tiêu luôn có cách ngày một lớn và dài thêm.

Như vậy, những phán đoán tạm thời chúng ta có thể đưa ra liên quan đến Cuộc Chiến Toàn Cầu chống Khủng Bố là gì?

Về phương diện điều hành, một cuộc chiến được phát động bởi những đầu óc ước lệ đã dần dà rơi vào phạm vi của những ai đang cư trú, như Dick Cheney có lần đã gọi, “bên phía tối tăm,” với hệ lụy rất ít ai  muốn dò tìm.

Về phương diện chiến lược, một cuộc chiến ngay từ đầu được quan niệm với nhiều chờ đợi không tưởng, được tiếp tục cho đến nay, với không một chờ đợi được trình bày cụ thể, đà đi tới của các biến cố sẽ thay thế những lý do chính đáng của mục tiêu .

Về phương diện chính trị, một cuộc chiến một lúc nào đó đã chiếm vị trí trung tâm trong chính trị quốc gia, giờ đang tuột dần ra phía ngoại vi, dân Mỹ tiếp tục hướng về

các quan tâm và giải trí khác, với những vấn đề luật pháp và đạo đức cuộc chiến đã nêu lên hiện đang lơ lửng trong không trung.

Phải chăng đó là tiến bộ và văn minh?

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

11-3-2012


[1] …era of persistent conflict…

[2] …the war formerly known as the global war on terrorism (unofficial acronym WFKATGWOT).

[3] …fragmented and diffuse.

[4] …shock and awe…

[5] ..success demands a comprehensive counterinsurgency campaign.

[6] Vickers tends to think like a gangster. He can understand trends then change the rules of the game so they are advantageous for your side.

[7] The United States reserved the right to attack anyone who it determined posed a direct  threat to U.S. national security, anywhere in the world.

Advertisements