QUỐC DOANH VÀ CẤP TIẾN TRONG MỘT HOA KỲ BẢO THỦ

Với Đại Suy Thoái 2008 đang tiếp tục kéo dài, đề tài cấm kỵ “Quốc Doanh” đã đến lúc cần được tái du nhập vào nghi trình cấp tiến ở Hoa Kỳ. Đó là phương cách duy nhất để giải quyết một số vấn đề quan trọng nhất hiện người Mỹ đang phải đối  diện. Nhiều tác giả đã đưa ra nhận xét không những có thể thảo luận về đề tài một thời được xem như cấm kỵ, mà còn có thể bắt đầu xây dựng một luận thuyết chính trị nghiêm chỉnh để làm những gì cần làm trong các khu vực kinh tế then chốt.

                            CHỦ NGHĨA TƯ BẢN VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Đã hẳn, các đề nghị liên quan đến quyền công hữu[1]sẽ bị tấn công, nhưng phe bảo thủ luôn gọi bất cứ chương trình cấp tiến nào – chưa nói đến các chính sách kinh tế khiêm tốn nhất của chính quyền Obama – như “xã hội chủ nghĩa.”[2]  

Tuy nhiên, nhiều người Mỹ ngày một nghi ngờ giá trị những lời lếu láo lố bịch của  giới quảng cáo trong hệ thống “tự do kinh doanh”[3] do các đại công ty thống lĩnh. Kết quả một cuộc thăm dò công luận gần đây của Pew Research Center cho thấy đa số người Mỹ đang có một nhận thức bất lợi về các đại công ty – một thay đổi nhận thức quan trọng từ 12 năm trước đây khi gần 3/4 đã có một nhận thức thuận lợi.

Cùng lúc, hai cuộc thăm dò gần đây của Rasmussen đã cho thấy người Mỹ dưới 30 tuổi – những thành phần nòng cốt của chính trị tương lai – gần như đã cân bằng  hậu thuẩn dành cho tư bản và xã hội chủ nghĩa. Kết quả một cuộc thăm dò khác của Pew cũng cho thấy các thanh niên từ 18 đến 29 tuổi đã có một phản ứng thuận lợi hơn đối với xã hội chủ nghĩa: 49% so với 43% dành cho chủ nghĩa tư bản.

Công hữu trong vài khu vực kinh tế là phương cách duy nhất để giải quyết các vấn đề cấp thiết nhất của Hoa Kỳ: chẳng hạn khu vực tài chánh – nguồn cội của cuộc suy thoái đang tiếp diễn.

Ngày nay, 5 ngân hàng khổng lồ đang kiểm soát hơn 1/3 số tiền ký thác, và Wall Street cho đó là bằng chứng hiệu quả của tư doanh. Tuy nhiên, xác quyết nầy vẫn còn cần được thảo luận nhiều.  

Lập luận của Wall Street rất đáng nghi ngờ, vì nếu đó là những định chế hoạt động hữu hiệu, thì tại sao cả năm ngân hàng lại không hề hay biết họ đang nắm giữ một số nợ khó đòi hay không thể thu hồi khổng lồ và là nguyên nhân một đại suy thoái đánh mất hàng tỉ tiền cứu trợ của dân chịu thuế, và hàng nghìn tỉ của nền kinh tế nói chung.

Cho đến nay, hầu hết các kinh tế gia, tả cũng như hữu, đều tin, các nghiệp vụ thiếu cẩn trọng của cả năm ngân hàng sẽ khó tránh đưa đẩy nền kinh tế vào một cuộc khủng hoảng khác. Số lỗ lã ít nhất hơn hai tỉ mỹ kim vì đầu cơ gần đây của JP Morgan Chase là một cảnh cáo đáng lưu tâm.

Phản ứng tự do cổ điển là kêu gọi giám sát và quy định nhiều hơn. Tuy nhiên, mặc dù khá quan trọng, khí cụ quy định và kiểm soát cách vận hành của các đại công ty đã ngày một mất hết tác dụng vì các lực lượng vận động hành lang. Nghị sĩ Dick Durbin đã có nhận xét: “các ngân hàng..vẫn là lực lượng vận động hành lang hùng hậu bên cạnh Capitol Hill. Trong thực tế, các định chế nầy hiện đang sở hữu Quốc Hội.”[4]

 Hầu hết các người chịu trách nhiệm tạo ra cuộc khủng hoảng nợ bất động sản đều  đã thoát khỏi mọi chế tài, và pháp chế cải cách tài chánh trong nhiều địa hạt được thông qua sau đó đều lơ mơ, và dễ dàng lẫn tránh.

Gần hai năm sau khi luật Dodd-Frank được ban hành, chỉ 108 trong số 398 quy luật giám sát cần thiết đã được đệ trình, 148 hạn chót hay 67% đã không được tôn trọng, và hàng tá luật lệ kế tiếp do Quốc Hội thông qua đã xóa bỏ phần lớn pháp chế các cải cách đề ra. Các biện pháp dự thảo nhằm thực thi Quy Luật Volcker (hạn chế các giao dịch về quyền sở hữu của các ngân hàng) đầy sơ hở, vì vậy, chẳng mấy có ý nghĩa.

Vấn đề chính yếu là quyền lực kinh tế và chính trị của các công ty nói chung, và đặc biệt là của các ngân hàng, đã gia tăng đầy ấn tượng. Ngay trước Đại Khủng Hoảng 1929, 250 ngân hàng đã kiểm soát trên dưới phân nửa tài nguyên ngân hàng. Ngày nay, vọn vẻ chỉ sáu ngân hàng cũng đã kiểm soát gần 74% các tài nguyên ngân hàng trên toàn nước Mỹ.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi khuynh hướng tập trung quyền lực trong tay tập đoàn các đại công ty liên tục gia tăng,  song song với đà suy giảm quyền lực của phe cấp tiến.

Lao động có tổ chức, định chế đã đem lại sức mạnh cho các chính trị gia cấp tiến, đã sụt giảm từ đỉnh điểm 34,7% năm 1954 xuống còn 11,8% lực lượng lao động – chỉ 6,9% trong khu vực tư hiện nay. Trong khi các nghiệp đoàn ngày một suy yếu, các chính trị gia bảo thủ cấp  tiểu bang, hậu thuẩn bởi các nhóm vận động hành lang và được cánh hữu tài trợ, như Hội Đồng Trao Đổi Lập Pháp Hoa Kỳ,[5] đã phát động chiến dịch thông qua một loạt luật “quyền làm việc” và các luật chống lao động khác làm suy yếu cơ sở quyền lực định chế của phe tả tự do.

Sự kiện các đại công ty có thể tháo gỡ dễ dàng các quy định bất lợi cho họ đã được chứng minh nhiều lần. Khởi đầu với ngành chuyên chở bằng xe vận tải, đường hàng không và hỏa xa, kể từ thập kỷ 1970, quá trình tháo gở giám sát đã được đẩy mạnh từ khu vực nầy qua khu vực khác dưới các chính quyền Dân Chủ cũng như Cộng Hòa.  Xu hướng nầy đã tiếp tục trong khu vực năng lượng, truyền thông, và thấp hơn một bậc, các kỹ nghệ dược phẩm và thực phẩm. Các đại công ty than và dầu đã đề kháng các pháp chế cắt xén lượng khí thải nhà kính, kể cả chi tiêu hàng triệu trong các năm 2009-10 để đánh bại các pháp chế quy định mức trần và trao đổi khí thải ở Thượng Viện sau khi đã được Hạ Viện chấp thuận. Đã hẳn, điều nầy cũng chỉ là một phần đóng góp vào nổ lực chung đang tìm hết cách làm mất uy tín các khoa học gia thay đổi khí hậu từ nhiều năm nay.

Một đáp ứng cấp tiến cổ điển khác đối với khuynh hướng tập trung quyền lực vào các đại công ty là thực thi mạnh mẽ hơn các luật chống tổ hợp. Tiếp theo sau cuộc khủng hoảng tín dụng bất động sản, các đòi hỏi phá vỡ các tổ hợp đã được phát động như một phương cách đặt các ngân hàng được xem như “quá lớn để thất bại”[6] trong vòng kiểm soát. Các đòi hỏi nầy đã không được quan tâm, nhưng ngay cả nếu  thành công, cũng chỉ trong vòng vài năm, các ngân hàng hiếu động nhất trong nhóm đã bị phá vỡ cũng tìm cách tập hợp trở lại, giống như AT&T đã từng làm gần đây, và  Standard Oil đã làm vào đầu thế kỷ XX.

Sau khi giám sát được tháo gở trong các thập kỷ 1980 và 1990, các ngân hàng lớn đã nuốt lốn hay loại bỏ 7.000 ngân hàng nhỏ bé, và gia tăng kích cỡ các ngân hàng trung bình lên 400%. Các mất thăng bằng trong quyền lực định chế  là một bảo đảm: các ngân hàng sẽ có nhiều cơ may thành công duy trì uy thế của mình nếu không may khủng hoảng lại xẩy đến.

Sự kiện suýt sụp đổ của vài ngân hàng khổng lồ và định chế tín dụng bất động sản trong các năm 2008-09 đã đem lại một cơ hội đã bị bỏ phí. Chính quyền đã cung cấp những số tiền cứu trợ lớn lao cho các định chế như Citigroup và AIG vào lúc lẽ ra  đã có thể dễ dàng tiếp quản để cải biến thành những định chế tiện ích công cộng. Thay vào đó, chính quyền chỉ ủy thác các chứng khoán với quyền bỏ phiếu cho các quản trị viên, những nhân vật, như trong trường hợp AIG, nguyên là các người trong cuộc được Cục Dự Trữ Liên Bang ở New York tuyển chọn.

Từ ngày đầu của cuộc khủng hoảng, Willem Buiter – trước khi trở thành kinh tế trưởng của Citigroup – gần như đã có cách tiếp cận đứng đắn hơn ngay cả giới chỉ trích cấp tiến, khi Buiter hỏi: “Phải chăng trong thực tế …các xí nghiệp tư doanh lớn đang kiếm được lợi nhuận kếch sù khi sinh hoạt kinh tế tốt, và được cứu trợ và tạm thời được tiếp quản như công hữu khi gặp suy thoái, với người chịu thuế đảm nhận mọi rủi ro và thua lỗ?  Nếu đúng như vậy, tại sao lại không duy trì các hoạt động đó trong khu vực công hữu thường trực?”[7]

Còn một lý do thứ hai thiết yếu là chiến lược còn nhằm xa hơn là quy định và chống đối các tổ hợp. Các đại công ty luôn tin theo điều răn dạy số 1 của Wall Street: tăng trưởng hay chết.[8] Theo Lawrence Mitchell, tác giả cuốn “The Speculation Economy (Nền Kinh Tế Đầu Cơ), “Cổ đông trong nền kinh tế đầu cơ muốn gặt hái doanh lợi ngay bây giờ và họ không cần biết kiếm doanh lợi bằng cách nào.”[9] Nếu một tổng quản lý công ty không đem lại một số doanh lợi gia tăng và bền vững từng quý, sớm muộn gì y cũng sẽ bị quở trách.

Mệnh lệnh hay quy luật tiêu cực nguy hiểm – “tăng trưởng hoặc chết” – trong hệ thống kinh tế thị trường của Mỹ không thể thay đổi theo ý muốn hay quy định. Bên cạnh đề tài thay đổi khí hậu, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh giới hạn đối với tăng trưởng trong những địa hạt như năng lượng, khoáng sản, nước sạch và đất canh tác … sẽ đến rất nhanh. Các công ty năng lượng đã cố gắng một cách tuyệt vọng phá vỡ các giới hạn vừa nói với các giải pháp kỷ thuật như khai thác tar sand, kỷ thuật  fracking, hay khoan tìm đầu và hơi đốt ngoài biển sâu, những phương pháp tốn kém hơn nhưng không kém tai hại cho môi trường so với các phương pháp cổ điển

Tuy nhiên, các xu hướng cũ vẫn cứ tiếp tục: Hoa Kỳ, với chưa đến 5% dân số thế giới, đã tiêu thụ 21,6% dầu, 13% than đá, và 21% hơi đốt thiên nhiên của thế giới. Trong một giai đoạn ngắn giữa 1940 và 1976, người Mỹ đã sử dụng một phần tài nguyên khoáng sản của địa cầu lớn hơn bất cứ quốc gia nào khác trong lịch sử trước đó.

Vào một thời điểm nào đó, một  xã hội như Hoa Kỳ, đang có mức lợi tức trung bình tương đương trên 190.000 USD cho một gia đình 4 người, cần phải tự đặt câu hỏi:”khi nào đủ là đủ.”[10] Nguyên cố vấn tổng thống James Gustave Speth đã nói một cách thẳng thắn: “Phần lớn chúng ta đã làm việc bên trong hệ thống kinh tế chính trị nầy, nhưng làm việc bên trong hệ thống cuối cùng cũng sẽ không thành công khi những gì cần thiết là thay đổi mang tính chuyển hóa trong chính hệ thống.”[11]

Như  là một vấn đề thuần túy lôgic, nếu một số trong các công ty quan trọng nhất đang có một tác động gây đổ vỡ và tốn kém cho kinh tế và môi trường – và nếu các pháp chế quy định và chống tổ hợp trong nhiều địa hạt có thể bị các đại công ty  phá hoại – một sự tiếp quản công là giải pháp hợp lý duy nhất. Luận cứ nầy đã được đưa ra không phải bởi các thành phần tự do hay xã hội chủ nghĩa, mà bởi các sáng lập viên Trường Kinh Tế Chicago bảo thủ.

George Stigler, người được giải Nobel, đã nhiều lần nhận xét, “các chiến lược giám sát đã được thiết kế và vận hành chính yếu nhằm đem lại lợi ích cho các kỹ nghệ.”[12] Henri Simons, thầy của Milton Friedman và một trong những nhà tư tưởng quan trọng nhất của Chicago School, đã phát biểu mạnh mẽ hơn: “nhà nước nên đối mặt với sự cần thiết phải thưc sự đảm trách, sở hữu, và trực tiếp quản lý…các kỹ nghệ trong đó duy trì các điều kiện cạnh tranh hữu hiệu là điều không có thể.”[13]

                            BẢO THỦ, CẤP TIẾN, VÀ SINH HOẠT KINH TẾ

Bước đầu tiên hướng đến công hữu là phải nhận chân: đây không phải là một sự rời bỏ  cực đoan như nhiều người tưởng tượng. Hai trong số những nhà cung cấp dịch vụ y tế thành công và hiệu quả nhất ở Hoa Kỳ  – hệ thống bảo hiểm rộng lớn, Medicare; và hệ thống cung cấp dịch vụ y tế trực tiếp Veterans Administration (Sở Cựu Quân Nhân) – đều do chính quyền điều hành và quản trị. Cơ sở quản lý hưu bổng lớn nhất cũng là một định chế công: Social Security Administration (Cơ Quan An Ninh Xã Hội).

Bưu Điện Hoa Kỳ – USPS, với 645.000 nhân viên, cũng là một doanh nghiệp công thường được các chuyên gia xem như hoạt động khá hữu hiệu – mặc dù suy thoái, số lượng thư và bưu phẩm sụt giảm vì các phương tiện truyền thông điện tử, và một đòi hỏi khá bất thường của Quốc Hội năm 2006: USPS phải ứng trước tiền hưu trí cho 75 năm sắp tới. Những đề nghị cắt xén ngân sách gần đây qua biện pháp đóng cửa những trạm bưu điện trong những khu phố nhỏ và giảm bớt một số dịch vụ cũng đã khởi động một phản ứng bất lợi chống lại sự khả dĩ đánh mất một định chế công chúng vẫn còn đánh giá cao.

Một doanh nghiệp công khác, The Tennessee Valley Authority – TVA – là một trong số các công ty năng lượng lớn nhất Hoa Kỳ. Trong thực tế, 25% điện lực ở Hoa Kỳ đang được các cơ quan tiện ích công cộng địa phương và hợp tác xã cung cấp. Và, đã hẳn, mặc dù ảnh hưởng của các đại công ty đã bóp méo một cơ hội có tiềm năng lớn lao, chính quyền hiện đang sở hữu gổ, khoáng sản, dầu lửa, và nhiều tài nguyên khác trên đất công, gần 30% lãnh thổ quốc gia.

Các công ty quốc doanh không chi tiêu quảng cáo hay các chi phí trung gian bán sản phẩm và dịch vụ. Các định chế công cũng không tính thêm một tỉ suất lợi nhuận đối với các dịch vụ cung cấp hay sản phẩm bán ra. Và các xí nghiệp công cũng  không trả lương quá cao cho giới quản lý. Lương căn bản trả cho quản trị viên Medicare, chẳng hạn, chỉ vào khoảng 170.000 USD trong năm 2010.

Lương căn bản của Stephen Hemsley, CEO của United Health Group, cũng đã lên đến 1,3 triệu USD và 101,96 triệu USD thù đáp phụ trội trong cùng năm. Vì các phụ phí và nhiều chi phí phi lý khác, hệ thống y tế tư nhân ở Mỹ đã chiếm một bách phân GDP gấp đôi bách phân dành cho kinh phí về các dịch vụ y tế tương đương hay tốt hơn trong nhiều quốc gia khác – một tình trạng thiếu hiệu quả và phung phí lớn lao vào khoảng một nghìn tỉ USD mỗi năm (a trillion dollar a year)!

Trong khi phe bảo thủ, che chở các đại công ty tư, chỉ chú tâm vào hiệu quả nội bộ, họ thường quên hay cố ý làm ngơ, hay che mờ,  không những một sự thật đã được chứng minh: các định chế tài chánh có đủ uy lực buộc Hoa Kỳ đánh mất hàng nghìn tỉ USD trong sản lượng kinh tế; mà hệ thống y tế phí phạm ngoài sức tưởng tượng còn gây thêm một tổn phí gấp đôi so với các quốc gia khác.

Kết quả nghiên cứu gần đây cũng thách thức những luận cứ nội bộ của phe bảo thủ: các công ty tư luôn hiệu quả hơn các doanh nghiệp nhà nước. Chẳng hạn, trước khi Margaret Thatcher thẳng tay tấn công khu vực công Anh Quốc, tỉ suất tăng trưởng trong năng suất các công ty khai thác khoáng sản, tiện ích, vận tải và truyền thông được quốc hữu hóa luôn vượt hẳn tỉ suất tăng trưởng trong năng suất của các công ty tương tự trong khu vực tư ở Hoa Kỳ.

Vẫn biết, nhiều công ty quốc doanh với tinh thần thư lại, và các xí nghiệp xơ cứng thời Xô Viết là một chủng loại riêng biệt. Tuy nhiên, trong kỷ nguyên hiện nay, như Francisco Flores-Macias và Aldo Musacchio đã sưu tầm trong một bài viết đăng trong Harvard International Review, các công ty quốc doanh trong nhiều địa hạt đã chứng tỏ, hay có thể chứng tỏ, không kém hữu hiệu so với các đối tác trong khu vực tư.

Các công ty tư cũng luôn di dời nhà máy qua Mexico  hay TQ để lợi dụng phí lao động thấp, để lại phía sau các công nhân không có việc làm và nhiều thành phố xác xơ, rệu rã. Các công ty nhà nước, trái lại,  luôn trụ tại chỗ, duy trì công ăn việc làm, và trợ giúp, thay vì bỏ rơi, cộng đồng. Các xí nghiệp công không hề buộc chính quyền các thành phố, các tiểu bang, phải trả hàng triệu mỹ kim tiền khích lệ để duy trì cơ sở tại một địa phương nào đó – thường chỉ để dọn đi sau đó, để lại phía sau công nhân mất việc, trường ốc, nhà cửa, đường sá, và các dịch vụ công cộng xơ xác, tiêu điều.

Các xí nghiệp công cũng không phung phí những món tiền kếch sù để lủng đoạn và làm ung thối guồng máy chính trị qua những chiến dịch quảng cáo, vận động hành lang sâu rộng. Các xí nghiệp công luôn phải mở cửa đón nhận lối nhìn xoi mói của quần chúng trong khi các xí nghiệp tư luôn giữ quá trình lấy quyết định trong vòng bí mật.

Trong mọi trường hợp, tưởng cũng cần làm rõ một điều: không ai chủ trương quyền công hữu đối với đại đa số các xí nghiệp nhỏ, vừa, hay ngay cả lớn – và đặc biệt, các kỹ nghệ với công nghệ cao, nơi phần lớn các canh tân thực sự thường được un đúc nuôi dưỡng. Cũng không ai nói đến các doanh nghiệp được dân chủ hóa như những công ty do công nhân nắm quyền sở hữu và quản lý, nơi trên 10 triệu người Mỹ đang làm việc. Hoặc khoảng 5.000 công ty láng giềng và 2.000 công ty điện lực do các thành phố và thị xã sở hữu và điều hành. Hay các hợp tác xã với 130 triệu xã viên (kể cả các nghiệp đoàn tín dụng – credit unions, đã trở thành một hình thức thay thế phổ quát cho các ngân hàng quá-lớn để-thất-bại).

Chúng ta cũng không nói đến các tổ hợp điền địa cộng đồng hiện đại, do Bob Swann khởi xướng cách đây 30 năm, đồng sáng lập viên và chủ tịch đầu tiên của E.F.Schumacher Society, đôi khi dưới nhiều hình thức khác nhau trên toàn quốc. Những xí nghiệp bất vụ lợi với mục tiêu duy nhất là đóng góp cho xã hội đã mọc lên khắp nơi. Quyền công hữu các khách sạn, khai thác điền địa, và ngay cả năng lượng của các thị xã hay thành phố xuất hiện ngày một nhiều.Trong hơn 700 dự án trên toàn quốc (một số liên hệ đến quyền công hữu trực tiếp của địa phương), các thị xã đã thu góp khí methane từ rác thãi để biến thành điện, công ăn việc làm, và thu nhập. Nhiều xí nghiệp cơ sở trên cộng đồng là một bộ phận trong khu vực ngày một lớn mạnh, có thể và nên được khuyến khích bành trướng.

Hầu hết các xã hội tiền tiến đều đã có cơ hội chứng kiến nhiều công ty lớn do công chúng kiểm soát khá thích ứng trong nhiều địa hạt then chốt. Trong địa hạt năng lượng: chiếm 75% tổng số dầu lửa trên toàn thế giới. Về vận tải: các hệ thống xe lửa cao tốc do chính quyền sở hữu ở Pháp, Tây Ban Nha, Bỉ, Đức, Ý, Hòa Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, và Nam Hàn. Quyền công hữu một số lớn cổ phần đủ để kiểm soát các hãng hàng không cũng khá phổ thông: Pháp 16% Air France-KLM ; Thụy Điển, Đan Mạch và Na Uy, 50% SAS; Do Thái, 35% El Al; Singapore, 56% Singapore Airlines (được xếp hạng như một trong những hảng Hàng Không tốt nhất). Công Ty Không Gian và Quốc Phòng Hàng Không Âu Châu –  sản xuất Airbus, các phi cơ lớn, và trực thăng – một phần thuộc quyền sở hữu của hai chính phủ Pháp và Tây Ban Nha ( cũng như thành phố Hamburg, Đức Quốc). Về ngân hàng: hơn 200 ngân hàng công hoặc bán công, với 8 cơ quan góp vốn, nắm giữ 20% toàn bộ tích sản của tất cả các ngân hàng trong Liên Hiệp Âu Châu. Japan Post Bank là ngân hàng công lớn nhất và một trong những định chế đem lại nhiều công ăn việc làm nhất tại Nhật.

Brazil, một cường quốc kinh tế, sở hữu hay kiểm soát hơn một trăm doanh nghiệp công, kể cả các ngân hàng lớn, tiện ích công cộng, công ty dầu Petrobras nổi tiếng khắp thế giới với khả năng và thành tích thăm dò và khai thác dầu ngoài biển sâu. Dịch vụ internet nhanh và tốt hơn Hoa kỳ có thể bắt gặp trong nhiều quốc gia với sự cộng sinh giữa quốc doanh và tư doanh. Người ta cũng thường gặp các công ty quốc doanh trong địa hạt truyền thông viễn liên trong nhiều nước trên thế giới, kể cả Austria, Nhật, Thụy Điển, Pháp, Đức, Thụy Sĩ và Bỉ. Nếu nghiên cứu kỷ lưỡng, người ta cũng có thể kể thêm nhiều địa hạt khác khi lưu ý đến nhu cầu đáp ứng các động lực tăng trưởng của các công ty và thách thức của hiện tượng thay đổi khí hậu, các định chế quốc doanh đã hoàn thành chức năng của mình một cách hữu hiệu và thành công —  một lần nữa, trái với chiêu bài thường được rêu rao các công ty tư nhân luôn hiệu quả trong khi các công ty quốc doanh chỉ là những định chế vô tích sự và phí phạm.

Đã hẳn, cũng như các xí nghiệp tư, một vài hình thức quốc doanh cũng không thể là chuẩn mực của hiệu quả. Sự thất bại của Freddie Mac và Fannie Mae đã chứng tỏ các định chế “bán công” đó – quasi-public businesses – cần được chấn chỉnh nghiêm túc. Một mặt khác, cơ cấu khá bất thường của Freddie và Fannie (với hậu thuẩn mặc nhiên của chính quyền đối với các doanh nghiệp tư) là nguyên do chính của những vấn đề gần đây. Thực vậy, cả hai đều không phải là định chế quốc doanh theo đúng nghĩa của từ nầy.

Cũng tương tự như vậy, Amtrak đã gặp nhiều vấn đề, một số bắt nguồn từ đầu tư không đầy đủ.

Tuy nhiên, điều quan trọng cần phải ghi nhớ: các xí nghiệp tư cũng không nhất thiết là mẫu mực của hiệu quả. Thực vậy, các công ty thép của Hoa Kỳ trước đây cũng cực kỳ thiếu hiệu quả cho đến khi bị buộc phải đổi thay. Các công ty sản xuất xe hơi cũng đã bị buộc phải cải tổ theo hướng quản lý và điều hành toàn cầu và du nhập những kỷ thuật hiện đại.

Vả chăng, nhiều phương cách cải tiến hiệu quả các công ty quốc doanh cũng đã ngày một được phổ biến. Ở Âu châu, nơi các công ty viễn liên quốc doanh thường phải cạnh tranh với các công ty tư nhân, một “lựa chọn công” hay public option có thể giúp cải tiến khả năng và hiệu quả. Biện pháp giám sát công và độc lập là một chiến lược khác. Kể từ 1970, Ủy Hội Kiểm Tra Bưu Điên độc lập đã được trao trách nhiệm giám sát và giúp USPS nâng cao hiệu quả và minh bạch cũng như duy trì vai trò lịch sử cung cấp dịch vụ rẽ tiền cho dân Mỹ. Ngoài ra, một giải pháp khác cho vấn đề thiết kế quyền sở hữu có thể tìm thấy trong cơ cấu công-tư hỗn hợp của nhiều công ty hàng không quốc tế hàng đầu.

Một lần nữa, ngay cả khi các công ty tư được quản lý hiệu quả hơn các các công ty quốc doanh, các phí tổn kinh tế khổng lồ áp đặt lên xã hội cũng đã làm cho hiệu quả nội bộ trở nên không còn đáng kể so với những phí phạm gây ra bởi suy thoái kinh tế, những bất hợp lý trong dịch vụ y tế, những phí tổn cực kỳ bất thường liên hệ đến tỉ suất tăng trưởng không kiềm chế phương hại đến môi trường và thay đổi khí hậu.

Như cố kinh tế gia John Kenneth Galbraith có lần đã ghi nhận, “Đây là một vấn đề thuần túy thực tế: Liệu hình thức sỡ hữu hiện nay đã đủ tốt , hay tình trạng sẽ tốt hơn với công hữu?” [14] Một viễn cảnh khác đã được đưa ra bởi E.F. Schmacher, tác giả cuốn Small Is Beautiful, vẫn là một trong những tác phẩm nhiều ảnh hưởng nhất đối với các nhà hoạt động môi trường và nhiều độc giả. Schumacher chủ trương, tản quyền cực đoan, kiểm soát qua tham dự, và một hỗn hợp các xí nghiệp tư và hợp tác xã là thiết yếu khi có thể thực hiện, nhưng “khi bàn đến các xí nghiệp khổng lồ, ý niệm tư hữu trở thành một sự ngớ ngẩn.”[15]

Địa bàn của hình thức quốc doanh cũng không cần phải trải rộng trên toàn quốc. Một chiến lược quan trọng là cần tập trung vào các xí nghiệp công cấp vùng. Trong thời New Deal, TVA đã khơi dậy một đề nghị thành lập bảy xí nghiệp công quan trọng cấp vùng; và trong thập kỷ 1960, một số ủy hội cấp vùng đã được thiết lập. Một sự phục sinh các cách tiếp cận doanh nghiệp công cấp vùng có thể lợi dụng kinh nghiệm của TQ, một xứ  sự cạnh tranh cấp vùng đã giúp duy trì kỷ luật đối với các xí nghiệp công cũng như quản lý kinh tế nói chung.

                            BÀNH TRƯỚNG KHU VỰC CÔNG HỮU Ở HOA KỲ

Trái với sự khôn ngoan ước lệ, người ta thấy có nhiều phương cách bành trướng xí nghiệp công ở Hoa Kỳ. Chẳng hạn về ngân hàng, một khủng hoảng tái diễn lần tới hầu như chắc chắn sẽ buộc người Mỹ đặt những câu hỏi căn bản về kỹ nghệ ngân hàng và nhắc nhở họ: nếu chính quyền đòi hỏi một số chứng khoán với quyền bỏ phiếu để đổi lại sự cứu trợ của người dân chịu thuế đối với Citigroup, Bank of America, AIG, và các định chế khác, các xí nghiệp nầy sẽ trở thành những định chế “trong thực tế phải thuộc quyền kiểm soát của công chúng.”[16]

Vả chăng, cũng có thể có một nổ lực tạo lập những ngân hàng do nhà nước sở hữu giống như ngân hàng ở North Dakota. Từ năm 2010, ngành lập pháp đã thăm dò hay tạo lập những ngân hàng loại đó — loại đã được du nhập vào 17 tiểu bang: Arizona, California, Connecticut, Hawaii, Idaho, Illinois, Louisiana, Maine, Maryland, Massachusetts, Montana, New Hamshire, New Mexico, New York, Oregon, Virginia và Washington.

Các cuộc tấn công liên tục Luật Affordable Care, bởi phe bảo thủ trong Quốc Hội và Tối Cao Pháp Viện, đã khích lệ chương trình cung cấp bảo hiểm y tế công ở cấp tiểu bang. Hiện hơn 15 tiểu bang đang cứu xét “pháp chế nhằm tiến tới  hình thức một hệ thống xí nghiệp công với một người trả.”[17] Tháng 5-2011, Vermont đã chấp thuận pháp chế cho phép thường trú nhân tham gia vào “quỹ bảo hiểm do chính quyền tài trợ.”[18] Bảo hiểm y tế phổ quát có thế bắt đầu vào năm 2017 (rất có thể sớm hơn, vào năm 2014) nếu chính quyền chấp thuận một “chước miễn liên bang” hay federal waiver.

Tháng hai vừa qua, ở California, dự luật “Medicare for All” ( Bảo Hiểm Y Tế Cho Mọi Người) đã không được Thượng Viện Tiểu Bang chấp thuận vì chỉ thiếu hai phiếu. Một pháp chế tương tự đã được Lưỡng Viện Quốc Hội Tiểu Bang chấp thuận nhưng đã bị Thống Đốc Schwarzenegger lúc đó phủ quyết hai lần, 2006 và 2008.

Từ năm 2009, Connecticut  luôn nổ lực hướng tới một hệ thống bảo hiểm y tế rẻ tiền cho mọi thường trú nhân – một hệ thống rất có thể một ngày nào đó sẽ bao gồm một chương trình bảo hiểm y tế công bất vụ lợi.

Doanh nghiệp công lẽ ra cũng đã có thể xây dựng từ việc tiếp quản các công ty sản xuất xe hơi năm 2008-09. Không những chính quyền quốc hữu hóa General Motors và Chrysler, mà còn có thể làm như thế qua sự sử dụng một cơ cấu quyền sở hữu hỗn hợp liên quan đến một chủ thể UAW-kết nối với y tế VEBA, sở hữu 17,5% GM và 63,5 % Chrysler. Trong tương lai, công chúng có thể tiếp tục được hưởng lợi trực tiếp từ số đầu tư của chính quyền, thay vì  bán phần chứng khoán có quyền bỏ phiếu của người dân khi số doanh lợi trong thời hậu cứu trợ bắt đầu ổn định, như trường hợp cứu trợ các công ty sản xuất xe hơi lần rồi.

Ai cũng biết hiện đang có một nhu cầu rõ rệt trong địa hạt giao thông đại chúng và hệ thống xe lửa cao tốc ở Hoa Kỳ. Tuy vậy, ngoại trừ biệt lệ một công ty nhỏ United Streetcar Company ở Oregon, Hoa Kỳ hiện không có khả năng sản xuất trong cả hai địa hạt. Một kế hoạch của chính quyền đầu tư vào các hệ thống giao thông đại chúng và hỏa xa cao tốc có thể tạo công ăn việc làm, xây dựng khả năng mới trong các công ty do công nhân tự quản lý, và giúp Hoa Kỳ thoát khỏi sự lệ thuộc vào nước ngoài. Đả hẳn, tất cả vốn liếng, xét cho cùng đều  đến từ  người dân chịu thuế và hành khách. Công ăn việc làm mới có thể nhằm mục tiêu giúp tái xây dựng Detroit và các thành phố sản xuất xe hơi ngày một ít hiện nay.

Gần đây, người Mỹ đã nghe nói nhiều đến đề nghị một nền kinh tế mới, một viễn kiến mang tính cộng đồng về một thời kỳ phát triển bao gồm các xí nghiệp công ở những nơi cần, công ty tư nhân trong nhiều khu vực, và một hỗn hợp hùng mạnh và ngày một đông các tiểu doanh nghiệp và công ty nhằm dân chủ hóa quyền sở hữu tư bản trong một xứ 1% trên đỉnh sở hữu gần một nửa số tài sản có thể đem ra đầu tư.

Bất cứ một công trình tái xây dựng tinh thần và động lực của sinh hoạt chính trị cấp tiến sắp tới nào cũng sẽ đòi hỏi triển khai những ý tưởng kinh tế có ý nghĩa ở mọi cấp và mọi kích cỡ.  Luôn bị lên án theo đuổi chủ nghĩa xã hội bất cứ làm việc gì, giới cấp tiến chẳng có nhiều để mất và rất nhiều để thu gặt qua việc phát động một kế hoạch dài hạn để đối đầu và vượt qua khuynh hướng tập trung tài sản và uy quyền vào tay các đại công ty.

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

10-6-2012


[1] …public ownership…

[2] …socialism…

[3] …free enterprise…

[4] The banks …are still the most powerful lobby on Capitol Hill. And they, frankly, own the place.

[5] …the American Legislative Exchange Council…

[6] …too big to fail…

[7] Is the reality…that large private firms make enormous private profits when the going is good and get bailed out and taken into temporary public ownership when the going gets bad, with the taxpayer taking the risk and the losses? If so, then why not keep these activities in permanent public ownership?

[8] …grow or die.

[9] …Stockholders in the speculation economy want their profit now, and they do not much care how they get them.

[10] …when enough is enough.

[11] For the most part we have worked within this current system of political economy, but working within the system will not succeed in the end when what is needed is transformative change in the system itself.

[12] Nobel laureate George Stigler repeatedly observed that regulatory strategies were designed and operated primarily for [the industries’] benefit.

[13] …the state should face the necessity of actually taking over, owning, and managing directly …industries in which it is impossible to maintain effectively competitive conditions.

[14] The issue is purely a pragmatic one:Is it working now, or would it work better under public ownership.

[15] …when we come to large-scale enterprises, the idea of private ownership becomes an absurdity.”

[16] …de facto publicly controlled.

[17] …considering legislation pointing to some form of single-payer “public enterprise” system.

[18] …a publicly funded insurance pool.