TƯ DUY ĐIỀU BẤT KHẢ TƯ DUY VÀ VẤN NẠN NGUYÊN TỬ

Đã có một thời vũ khí hạt nhân luôn là đề tài trong câu chuyện hàng ngày của mọi người trên thế giới. Thực vậy, từ lâu, lý thuyết gia nguyên tử Herman Kahn, khi bàn về “tiềm năng hũy diệt của vũ khí hạt nhân,” đã từng phát biểu: “tư duy điều bất khả tư duy.”[1] Tuy vậy, điều đó đã không ngăn cản mọi người tư duy, luận bàn, tưởng tượng, âu lo,  hay ngay cả làm phim về ác mộng nguyên tử…

Hiện nay, hành tinh địa cầu đang đầy dẫy thứ vũ khí có thể cùng lúc hủy diệt nhiều thành phố, ngay cả toàn thế giới. Tuy nhiên, hầu như 67 năm đã trôi qua kể từ khi bom hạt nhân được sử dụng lần cuối, vũ khí nguyên tử duy nhất người Mỹ thường được nhắc nhở  là quả bom chưa hề hiện hữu: bom nguyên tử Iran.

Gần 20.000 đầu đạn nguyên tử sẵn sàng với tên lửa, trên phi cơ, và trên tiềm thủy đỉnh do Anh, Ấn Độ, Bắc Hàn, Do Thái, Mỹ, Nga, Pakistan, Pháp, TQ… sở hữu, hiếm khi được, ngay cả các báo chí chuyên về đề tài nguyên tử, nhắc đến.

Trong thực tế, nguy cơ hủy diệt vì nguyên tử thường được xếp vào cuối danh sách những âu lo về số phận của địa cầu. Vì một lý do nào đó, chính quyền Mỹ luôn tự tin, tin ở đồng minh, và ngay cả ở các cựu thù với vũ khí hạt nhân — tin đến độ hình như  không nghĩ gì đến những kho đầy ắp vũ khí hạt nhân có sức hủy diệt gấp hàng trăm nghìn lần hai bom hạt nhân tàn phá Hiroshima và Nagasaki vào thượng tuần tháng 8-1945 — loại vũ khí tuyệt đối cần được quan tâm và phải tìm cách loại bỏ.

Ngay cả tai nạn nguyên tử Fukushima năm rồi cũng không làm sống lại sự quan tâm của nhân loại trước nguy cơ nguyên tử.

NGUY CƠ NGUYÊN TỬ

Đã hẳn, quan điểm của mọi người về nguyên tử không phải luôn thiển cận. Trong thập kỷ 1950, biên tập viên Norman Cousins chuyên viết những tiểu luận về các đề tài  nguyên tử cho tạp chí Saturday Review. Từ cuối thập kỷ 1950, phong trào Loại Trừ Bom Hạt Nhân Ban the Bomb movement, với áp lực đưa đề tài vũ khí nguyên tử vào nghị trình toàn cầu, đã thu hút được sự quan tâm quốc tế, nhất là sau khi báo chí tiết lộ chất Strontium-90, một phó sản của các thử nghiệm nguyên tử, đã xâm nhập vào sữa mẹ.

Trong những năm đó, đề tài nguyên tử đã trở thành những đầu đề mang tính nhân sinh, đạo đức, cũng như chính trị.

Vào đầu thập kỷ 1960, T T John F. Kennedy, dưới áp lực của công luận, đã phải ký với Nga thỏa ước bài trừ thử nghiệm nguyên tử trên không, và qua đó, bụi phóng xạ Strontium-90. Kennedy cũng đã đọc một bài diễn văn ấn tượng và đầy cảm xúc trước Liên Hiệp Quốc, trong đó Tổng Thống đã đề cập hiện tượng chạy đua võ trang nguyên tử như “cây kiếm của Damocles”  lơ lửng trên đầu nhân loại, có thể hủy diệt  hành tinh bất cứ lúc nào.

Các phim ảnh được nhiều người xem, như Fail-Safe Dr. Strangelove, cũng đã nắm bắt cùng lúc cả nguy cơ lẫn tính phi lý của phong trào tranh đua võ trang giữa các siêu cường.

Tối ngày 22-10-1962, qua làn sóng phát thanh và truyền hình, T T Kennedy đã cảnh cáo dân Mỹ về cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, về bản chất nguyên tử của cuộc khủng hoảng, về khả năng tấn công nguyên tử của Xô Viết và tiềm năng trả đũa của Hoa Kỳ, một cách ngắn gọn,  nguy cơ một cuộc chiến nguyên tử toàn cầu. Và Kennedy đã thu hút được sự quan tâm của người Mỹ.

Chẳng bao lâu sau, hiểm họa nguyên tử đã mờ nhạt dần trong tâm thức quần chúng, khi chiến tranh Việt Nam leo thang và trở thành tâm điểm của làn sóng tranh luận và vận động phản chiến.

Tuy vậy, đề tài nguyên tử  lại bùng phát dưới thời Reagan vào đầu thập kỷ 1980, khi những va chạm giữa các siêu cường một lần nữa chiếm các tin hàng đầu trên báo chí.

Phong trào chống nguyên tử ngày một lớn mạnh, bắt đầu với biến cố, gần như  một tai họa, tại nhà máy điện nguyên tử Three Mile Island thuộc tiểu bang Pennsylvania; tiếp đến là thế cân bằng trong lực lượng nguyên tử giữa hai đại cường gói ghém trong cụm từ “mutually assured destruction” —  “MAD” hay “hủy diệt cả đôi bên.”

Với cuộc Vận Động Đóng Băng Nguyên Tử — The Nuclear Freeze Campaign, nhiều nghị quyết chống nguyên tử của các thành phố, các thị xã, trong khắp nước Mỹ đã được quần chúng tán thưởng; và tháng 6-1982, một cuôc biểu dương quy tụ trên dưới một triệu người đã đổ về Công Viên Trung TâmCentral Park, thành phố  New York, đòi hỏi giải trừ vũ khí nguyên tửnuclear disarmament.

Đối với những ai chưa được chứng kiến cuộc xuống đường lịch sử nầy, kênh truyền hình ABC đã trình chiếu một phim đặc biệt dành cho TV, “The Day After”, “Ngày Hôm Sau”, mô tả các tên lửa rời giàn phóng và quang cảnh tàn phá do chiến tranh nguyên tử. Phim đã thu hút một số khán giả kỷ lục trên khắp nước Mỹ.

Với sự tan rã của Liên Bang Xô Viết và chấm dứt thi đua vũ trang giữa các siêu cường một thập kỷ sau đó, vũ khí nguyên tử không còn là  tin hàng đầu trên báo  chí.  Xét cho cùng, với chiến tranh lạnh đã cáo chung và không một siêu cường nào khác cạnh  tranh, nước Mỹ đâu còn cần đến vũ khí nguyên tử  hay thế giới MAD như trước.

Vần đề duy nhất là không những quang cảnh nguyên tử toàn cầu vẫn ít nhiều còn  nguyên vẹn, tuy không còn sứ mệnh và tính hữu dụng để hiện hữu, nhưng vẫn tiếp tục lan tràn đến các xứ khác. Mặc dù không được chính thức lưu tâm, nhưng trong một nghĩa nào đó, MAD vẫn còn hiện diện, ngay cả khi mọi người thích làm ngơ trước một thực tại.

MỘT THẾ GIỚI MAD KHÔNG AI QUAN TÂM

Hơn hai mươi năm sau, đề tài nguyên tử duy nhất còn được quan tâm là chận đứng sự lan tràn bom hạt nhân đến vài chế độ đáng ngại và đầy bất ổn: Iran và Bắc Triều Tiên. Nổ lực nguyên tử của hai xứ nầy vẫn luôn cung cấp những hàng tin đều đặn trên báo chí và thu hút sự quan tâm đến độ ám ảnh của các cơ quan truyền thông và giới cầm quyền Tây phương.

Vì vậy, mục tiêu tối hậu và rõ ràng phải chăng là loại bỏ toàn bộ các vũ khí nguyên tử?

Đối với chúng ta, điều đó đã là một thực tế , mặc dù  lời hứa của T T Obama ở Prague năm 2009 là tìm kiếm “hòa bình và an ninh trong một thế giới không có vũ khí hạt nhân,”[2]và sự thành đạt thỏa ước tài giảm vũ khí “New START,” khiêm tốn nhưng quan trọng, giữa Hoa Kỳ và Liên Bang Nga trong năm 2010.

Điều đó vẫn còn là một thực tế, mặc dù một ý thức đã manh nha ở Hoa-Thịnh-Đốn- với-âu-lo-ngân-sách là người Mỹ có thể không còn đủ khả năng rót tiền như dự định vào các dự án nguyên tử,  từ những tiềm thủy đỉnh trang bị tên lửa đạn đạo cho đến các cơ sở sản xuất các bộ phận đầu đạn nguyên tử – tất cả đang được xúc tiến nhằm duy trì cuộc chạy đua vũ trang nguyên tử bí mật toàn cầu trong nhiều thập kỷ sắp tới.

Nếu Iran cần được nhắc với ngụ ý một bom nguyên tử của Iran sẽ làm gia tăng nguy cơ  nguyên tử ở Trung Đông, như vậy, đối với các kho vũ khí hạt nhân thực sự của các cường quốc nguyên tử thì sao?

Pakistan, một xứ ngày một bất ổn, với ít ra 110 đầu đạn nguyên tử, luôn xem Ấn Độ như kẻ thù trước mắt, mặc dù những nổ lực của Hoa Kỳ muốn Pakistan chú tâm vào al-Qaeda và Taliban?

Ấn Độ với khoảng 100 đầu đạn nguyên tử, với mục đích gửi một thông điệp không những đến Pakistan mà ngay cả đến nước láng giềng khổng lồ — TQ?

Và liệu TQ có thể nào bằng lòng với 240 vũ khí hạt nhân trong khi đối diện với các nổ lực canh tân nguyên tử và các kế hoạch bủa vây TQ của Mỹ với các hệ thống lá chắn phòng vệ, trên lý thuyết nếu không phải trong thực tế, có thể vô hiệu hóa lực lượng ngăn chặn của TQ?

Liệu Do Thái sẽ luôn được tự do, thoải mái tiếp tục với 200 đầu đạn nguyên tử không hề công  nhận, và cùng lúc từ chối gia nhập Thỏa Ước Cấm Phổ Biến Nguyên Tử?

Pháp và Anh đang nhằm đến ai với các lực lượng 300 và 225 đầu đạn nguyên tử?

Bắc Hàn sẽ phải mất bao lâu để khai triển các bom hạt nhân cỡ nhỏ và giàn trải bố trí các tên lửa tầm xa?

Và liệu thỏa ước New START là khởi điểm hay điểm cuối trong quá trình tài giảm binh bị giữa Mỹ và Nga?

Những câu hỏi thuộc loại nầy —  còn quan trọng bội phần so với bom hạt nhân chưa hề hiện hữu của Iran —  nhiều lắm cũng chỉ được dành một phân số  nhỏ bé của sự quan tâm quốc tế, so với chương trình nguyên tử Tehran.

Mối quan tâm và âu lo về kho vũ khí nguyên tử lơi lỏng của Pakistan, một xứ ngày một bất ổn định, đã hẳn là một phần trong chính sách của Hoa thịnh Đốn đối với Islamabad.  Tuy nhiên, rất ít nổ lực gần đây khuyến khích Pakistan và Ấn Độ thương nghị nhằm san bằng những dị biệt và dọn đường cho chương trình giảm thiểu kho tàng vũ khí hạt nhân trong cả hai quốc gia.

Nổ lực nghiêm chỉnh cuối cùng — chú tâm vào vấn đề tranh chấp Kashmir — đã đạt cao điểm vào năm 2007 dưới thời tổng thống độc tài Pervez Musharraf, và đã thất bại tiếp theo sau những đổi thay chính trị nội bộ và các cuộc tấn công khủng bố, được Pakistan hậu thuẩn, vào Ấn Độ.

Hiện nay, tình hình căng thẳng do các chiến dịch hành quân biệt kích và drone dọc theo biên giới các bộ lạc bên trong Pakistan và các lăng mạ sỉ nhục khác, dù cố ý hay vô tình, liên hệ đến chủ quyền tối thượng của Pakistan, cũng đã phương hại đến bất cứ cơ may nào trong vai trò trung gian của Hoa Thịnh Đốn nhằm giúp Pakistan và Ấn Độ xích lại gần nhau hơn.

Ngoài ra, ngay từ thời George W. Bush, Hoa Kỳ đã bán cho Ấn Độ các trang thiết bị và nhiên liệu nguyên tử. Đây là một phần trong một thỏa ước rõ ràng đã vi phạm các cam kết của Hoa Kỳ: từ bỏ mọi giao dịch nguyên tử với bất cứ quốc gia nào từ chối gia nhập Thỏa Ước Cấm Phổ Biến Nguyên Tử — một thỏa ước Ấn Độ chưa bao giờ ký. Mặc dù sự trợ giúp của Hoa Kỳ chỉ liên quan đến chương trình nguyên tử dân sự của Ấn, hổ trợ nguyên tử của Mỹ cũng giúp Ấn Độ tiết kiệm một số tài nguyên có thể sử dụng để bành trướng kho vũ khí hạt nhân của mình.

Quan hệ  được cải thiện với Ấn Độ, đã  bắt đầu với chính quyền Bush, vẫn được T T Obama tiếp tục. Chẳng hạn, một viên chức Bộ Ngoại Giao gần đây đã khoe các tiến bộ trong việc bán vũ khí tân tiến cho New Delhi. Trong lúc đó, các F-16 do Hoa Thịnh Đốn cung cấp cho giới quân sự Pakistan trong thời kỳ quan hệ giữa hai quốc gia còn nồng ấm có thể đã được cải biến và trang bị với vũ khí nguyên tử, để lâm thời sử dụng trong trường hợp có va chạm với Ấn Độ.

Về phần mình, TQ từ lâu đã theo đuổi một chính sách ngăn chặn thực tế  — chỉ duy trì một số các vũ khí hạt nhân đủ để ngăn ngừa mọi tấn công bằng vũ khí nguyên tử bởi một quốc gia thù địch. Nhưng chiến lược nầy đã không ngăn cản Bắc kinh tìm cách cải tiến chất lượng các tên lửa đạn đạo tầm xa. Và nếu TQ cảm thấy tiếp tục bị đe dọa bởi hệ thống các lá chắn tên lửa do Hoa Kỳ giàn trải trong khu vực, TQ có thể dễ dàng gia tăng kho vũ khí hạt nhân để bảo đảm an ninh quốc gia của chính mình. Bắc Kinh cũng sẽ trông chừng để đối phó với nhịp tăng trưởng trong kho vũ khí hạt nhân của Ấn Độ.

Từ khi Ronald Reagan — khuyến khích bởi các khoa học gia điên khùng như Edward Teller và các thành phần hữu phái hiếu động như Trung Tướng Daniel O. Graham  — cam kết  xây dựng một lá chắn tên lửa hoàn hảo có thể khiến các vũ khí nguyên tử  trở nên “bất lực và lỗi thời,” phòng vệ bằng tên lửa đã được một khối cử tri hùng mạnh hậu thuẩn.

Chương trình nầy đang được thể hiện, mặc dù gánh nặng tổn phí khổng lồ và mặc dù Hoa Kỳ đã nhiều lần thất bại trong các thử nghiệm lá chắn tên lửa.

Thành quả cụ thể duy nhất của ba thập kỷ nghiên cứu và phát triển cho đến nay là đã làm Liên Bang Nga nghi ngờ các ý định thầm kín của Mỹ. Dù đúng dù sai, Liên Bang Nga hiện đang cực kỳ quan tâm đến  kế hoạch thiết lập các lá chắn tên lửa phòng vệ ở Âu châu, mặc dù Hoa Thịnh Đốn luôn nhấn mạnh chỉ nhằm ngăn chặn vũ khí nguyên tử từ Iran và Bắc Triều Tiên trong tương lai.

Mạc Tư Khoa vẫn luôn cảm nhận các lá chắn tên lửa rất dễ dàng chuyển mục tiêu qua Nga. Nếu tái đắc cử, Obama chắc sẽ khéo léo tìm cách giải quyết vấn đề và mở đường cho khả năng cùng tài giảm các lực lượng nguyên tử, hay ngay cả có thể đơn phương giảm bớt đáng kể  kho vũ khí hạt nhân của mình, mặc dù vẫn chưa thuyết phục được người Nga.

Những luận điệu chống đối gần đây từ Mạc Tư Khoa cho thấy tính nhạy cảm đối với hệ thống lá chắn tên lửa của Mỹ, một chương trình có thể nhận chìm bất cứ kế hoạch thương nghị nguyên tử nghiêm chỉnh nào.

Trước thực tế Hoa Kỳ và Nga hiện kiểm soát 90% vũ khí hạt nhân trên toàn thế giới, ngõ bí giữa hai siêu cường nguyên tử sẽ làm suy yếu thế đòn bẩy khuyến khích các quốc gia khác tham gia vào nổ lực tài giảm nguyên tử trên toàn cầu.

Trong thi phẩm về nạn phổ biến nguyên tử năm 1960 “Who’s Next” (Ai Là Người Kế Tiếp), Tom Lehrer đã ghi lại câu “Do Thái lúc một căng thẳng, muốn có một hệ thống để tự vệ.”[3]

Trong thực tế, Do Thái là quốc gia đầu tiên, và hiện là quốc gia duy nhất ở Trung Đông đã và đang sở hữu bom hạt nhân, và theo tường trình báo chí, có thể phóng đầu đạn hạt nhân không những với các tên lửa từ đất liền mà còn với các tên lửa đạn đạo từ  các tiềm thủy đỉnh nguyên tử.

Bất cứ điều gì Do Thái có thể nói về khả năng kỷ thuật của họ trong địa hạt quân sự, kho vũ khí hạt nhân của Do Thái cũng chỉ có thể biến thành một tai họa trong chiến lược phòng vệ của chính mình, đặc biệt khi thực tế nầy đang thúc đẩy Tehran tăng tốc chương trình hạt nhân của  họ. Và những lời tuyên bố vô trách nhiệm của một số quan chức Do Thái cũng chỉ làm gia tăng quyết tâm thủ đắc vũ khí nguyên tử của người Iran.

Trong thực tế, một viễn tượng thật sự u ám, khó lòng ngăn cản, không thể nghĩ tới, nhưng cũng không phải không thể quan niệm: 9-8-1945 sẽ không phải là lần cuối vũ khí nguyên tử đã đươc sử dụng trên hành tinh.

Có thể,  một số vật liệu nguyên tử không được quản lý chặt chẽ hay những vũ khí hạt nhân rải rác trên thế giới — không chỉ trong các cộng hòa Xô Viết trước đây –không được giám sát nghiêm ngặt, vẫn có thể rơi vào tay một nhóm khủng bố nào đó.

Cũng có thể, một chính quyền Hồi Giáo cực đoan lên nắm quyền ở Pakistan và đi thêm một bước quá xa trong cuôc chiến cân nảo với Ấn Độ về Kashmir.

Có thể, cấp lãnh đạo cực đoan ở Do Thái sẽ tấn công Iran với vũ khí nguyên tử trong nổ lực ngăn ngừa Tehran thủ đắc vũ khí hạt nhân.

Có thể, một lỗi lầm trong hệ thống truyền thông  hay hệ thống báo động ở Hoa Kỳ hay Liên Bang Nga có thể đưa đến tai nạn phóng đi một trong số vũ khí hạt nhân đang ở trong tình trạng chiến tranh lạnh.

Ngay cả khi không một kịch bản nào trên đây, kể cả kịch bản tấn công khủng bố hạt nhân, có thể xẩy ra như các người quá lo xa đôi khi đã gợi ý, chừng nào thế giới còn đầy ắp vũ khí nguyên tử, một trong số nầy, hay một kịch bản nào khác chưa được nghĩ tới, luôn có thể xẩy ra.

Ý niệm Iran không đáng được tin cậy với một vũ khí nguyên tử  đã làm lu mờ một điểm quan trọng hơn: với khả năng sát hại  hàng loạt, không một cá nhân hay chính quyền nào có thể hoàn toàn được tín nhiệm với nhiệm vụ nắm giữ loại vũ khí nầy.

Phương cách duy nhất để được an toàn là phải loại bỏ toàn bộ vũ khí hạt nhân — không phải chỉ bom Iran chưa bao gờ hiện hữu, mà mọi vũ khí hạt nhân. Đây là  nhiệm vụ cực kỳ khó chu toàn. Đây cũng là đề tài không được giới truyền thông quan tâm hay không hiện diện trên nghị trình của bất cứ lãnh đạo nào trên hành tinh hiện nay.

Dù sao, nếu đó là giải pháp an toàn duy nhất cần thành đạt, chúng ta ít nhất cũng phải quan tâm khởi xướng, cổ súy, và vận động. Càng cấp bách càng tốt.

NguyễnTrường                                                                                                 Irvine,California,USA.                                                                                             02-8-2012


[1] …thinking about the unthinkable…

[2] …to seek ” the peace and security of a world without nuclear weapons.”

[3] In his 1960’s ode to nuclear proliferation, “Who’s Next,” Tom Lehrer included the line “Israel’s getting tense, wants one in self-defense.”

Advertisements