SIÊU CƯỜNG: THAM VỌNG VÀ THỰC TẾ

hay  AI LÀM CHỦ THẾ GIỚI HIỆU ĐÍNH

Sự trỗi dậy của phong trào dân chủ trong thế giới Á Rập là một biểu lộ ngoạn mục của lòng can đảm, yêu chuộng tự do và độc lập, của lực lượng quần chúng — trùng hợp đáng ngạc nhiên với sự trỗi dậy đầy ấn tượng của hàng chục nghìn người ủng hộ giới lao động và dân chủ ở Madison, Wisconsin, và trong nhiều thành phố Hoa Kỳ khác. Tuy nhiên,  nếu quỹ đạo của các biến động ở Cairo và Madison đã tương phùng, hai sự cố đã dõi theo theo hai chiều hướng đối nghịch:  Cairo để đòi hỏi các dân quyền sơ đẳng bị chế độ độc tài, vọng ngoại, từ chối; Madison nhằm mục tiêu bảo vệ những dân quyền đã thành đạt qua một quá trình tranh đấu dài lâu và gian khổ, và giờ đây đang bị chà đạp một cách tàn bạo.

Mỗi sự cố là một thế giới vi mô các khuynh hướng trong xã hội toàn cầu, dõi theo những lối đi riêng rẽ. Đã hẳn, một là hậu quả sâu xa của những gì đang xẩy ra trong trung tâm kỹ nghệ mục rữa của một xứ giàu nhất và hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại, và một trong những gì T T Dwight Eisenhower đã gọi là “khu vực có giá trị chiến lược quan trọng nhất thế giới” — “một nguồn quyền lực chiến lược kỳ diệu ” và “có lẽ một phần thưởng kinh tế phong phú nhất trên thế giới trong địa hạt đầu tư,”[1] haytheo lời Bộ Ngoại Giao trong thập kỷ 1940, một phần thưởng Hoa Kỳ nhất quyết tự giành lấy cho chính mình và các đồng minh trong Trật Tự Tế Giới Mới đang hình thành vào thời điểm đó.

Mặc dù đã có nhiều thay đổi qua thời gian, chúng ta vẫn có đủ lý do để tin các nhà làm chính sách ngày nay, trong cốt lõi, vẫn bám theo phán đoán của cố vấn đầy ảnh hưởng A.A. Berle của T T Franklin Delano Roosevelt: “kiểm soát  tiềm lực năng lượng vô song của Trung Đông có thể đem lại quyền kiểm soát thế giới rất đáng kể;”[2]  và ngược lại, đánh mất quyền kiểm soát có thể đe dọa dự án khống chế hoàn cầu được thiết kế suốt Thế Chiến Thứ Hai, và liên tục duy trì và cải tiến trước nhiều đổi thay quan trọng trong trật tự thế giới từ thời điểm đó.

Ngay từ ngày đầu cuộc thế chiến trong năm 1939, Hoa Thịnh Đốn đã tiên liệu chiến tranh có thể chấm dứt với Hoa Kỳ giữ vị thế một cường quốc áp đảo. Trong suốt những năm chiến tranh, các quan chức cao cấp Bộ Ngoại Giao và các chuyên gia chính sách đối ngoại Hoa Kỳ đã chuyên tâm hoạch định nghị trình cho thế giới hậu chiến.  Họ đã phác họa một “Vùng Rộng Lớn” (Grand Area) Hoa Kỳ phải khống chế , kể cả Tây Bán Cầu, Viễn Đông, và các thuộc địa của đế quốc Anh trước đây, với các tài nguyên năng lượng Trung Đông là mục tiêu quyết định. Khi Liên Xô đã khởi đầu nghiền nát đạo quân Quốc Xã sau trận Stalingrad, các mục tiêu của Vùng Rộng Lớn cũng  đã được nới rộng đến càng nhiều khu vực Á-Âu càng tốt, chí ít cũng toàn bộ khu vực kinh tế cốt lõi Tây Âu. Bên trong “Vùng Rộng Lớn”, Hoa Kỳ cần nắm trọn “quyền lực không chối cãi”, với “quyền bá chủ quân sự và kinh tế,” trong khi đảm bảo giới hạn các nhà nước quốc gia hành xử quyền tối thượng tránh gây trở ngại cho các thiết kế toàn cầu của Mỹ [3]. Các kế hoạch và nghị trình thời hậu chiến ngay sau đó đã được thận trọng đem ra thực thi.

Đã hẳn người Mỹ luôn ý thức  Âu châu rất có thể lựa chọn dõi theo một hướng đi độc lập. Chính vì vậy, ngay từ đầu NATO cũng đã nhằm mục tiêu ít nhiều ngăn chặn bất trắc nầy. Năm 1989, thay vì giải thể, NATO đã được mở rộng về phía Đông — vi phạm những hứa hẹn với chính lãnh tụ Xô Viết Mikhail Gorbachev.

Kể từ đó, NATO đã trở thành một lực lượng can thiệp do Hoa Kỳ chi phối với phạm vi hoạt động rộng lớn hơn, như đã được Tổng Thư Ký Jaap de Hoop Scheffer chính thức thông báo trước một hội nghị NATO: “lực lượng NATO có nhiêm vụ bảo vệ các tuyến dẫn dầu và hơi đốt đến các quốc gia Tây Phương,” và nói rộng ra, bảo vệ các tuyến đường biển các tàu dầu qua lại và “hạ tầng cơ sở cốt yếu” khác của hệ thống năng lượng.[4]

Quyền can thiệp quân sự tùy tiện rõ ràng đã được các chủ thuyết “Vùng Rộng Lớn” cho phép. Kết luận nầy đã được chính quyền Clinton trình bày mạch lạc qua lời tuyên bố: “Hoa Kỳ có quyền sử dụng lực lượng quân sự để đảm bảo ‘tiếp cận không hạn chế các thị trường then chốt, các nguồn cung năng lượng, và các tài nguyên chiến lược,’ và phải duy trì sự hiện diện của các lực lượng quân sự khổng lồ ở Âu châu và Á châu ‘nhằm định hình công luận đối với chúng ta’ và ‘định hình các biến cố  tác động đến sinh kế và an ninh của chúng ta’.”[5]

Cùng những nguyên tắc cũng đã chi phối quyết định xâm lăng Iraq. Vì sự thất bại của Hoa Kỳ áp đặt ý muốn của mình trên Iraq đã trở nên quá rõ ràng và không thể lầm lẫn, các mục tiêu thực sự của cuộc xâm lăng không còn có thể che đậy bên sau những mỹ từ hùng biện. Tháng 11-2007, Tòa Bạch Ốc đã đưa ra “Lời Tuyên Bố về Nguyên tắc” đòi hỏi lực lượng Hoa Kỳ phải hiện diện vô thời hạn ở Iraq và buộc Iraq dành đặc quyền cho giới đầu tư Hoa Kỳ. Hai tháng sau, T T Bush đã thông báo với Quốc Hội: Tổng Thống có thể bác bỏ pháp chế  giới hạn việc đóng quân thường trực ở Iraq hoặc “quyền kiểm soát tài nguyên dầu lửa  Iraq của Hoa Kỳ” — những đòi hỏi sau đó đã phải hủy bỏ trước sự đề kháng của Iraq.

Ở Tunisia và Ai Cập, các cuộc nổi dậy của quần chúng gần đây đã đem lại khá nhiều thắng lợi ấn tượng, nhưng như Carnegie Endowment đã tường trình, trong khi tên lãnh đạo đã thay đổi nhưng chế độ vẫn được giữ nguyên: “Một thay đổi trong giới lãnh đạo và hệ thống quản trị vẫn còn là một đối tượng xa xôi.”[6] Phúc trình thảo luận những rào cản  đối với dân chủ, nhưng làm ngơ những cản trở từ bên ngoài, luôn vẫn rất quan trọng.

Hoa Kỳ và các đồng minh Tây phương chắc chắn sẽ làm bất cứ điều gì có thể để ngăn ngừa thể chế dân chủ chân chính trong thế giới Á Rập. Để hiểu tại sao, chúng ta chỉ cần theo dõi những nghiên cứu công luận Á Rập do các cơ quan thăm dò dư luận của Hoa Kỳ. Mặc dù ít được phúc trình, các nhà hoạch định chắc chắn biết rõ các nghiên cứu nầy. Các cuộc thăm dò tiết lộ: bằng những đa số áp đảo, người Á Rập nhìn người Mỹ và Do Thái như những đe dọa quan trọng họ đang đối diện: người Mỹ bởi 90% người Ai Cập, trong toàn vùng nói chung — 75%. Khoảng 10% người Á Rập xem Iran như một đe dọa. Chống đối chính sách Hoa Kỳ mạnh mẽ đến nổi đa số tin an ninh có thể được cải thiện nếu Iran thủ đắc các vũ khí nguyên tử — 80% ở Ai Cập. Các con số khác cũng tương tự. Nếu công luận có thể ảnh hưởng đến chính sách, Hoa Kỳ không những không thể kiểm soát vùng nầy, mà còn sẽ bị xua đuổi ra khỏi vùng cùng với các đồng minh, phương hại đến nguyên tắc căn bản áp đảo toàn cầu.

BÀN TAY QUYỀN LỰC VÔ HÌNH

Hậu thuẩn cho dân chủ là sở trường của các chuyên gia ý thức hệ và tuyên truyền. Trong thế giới thực, chẳng mấy ưa thích dân chủ luôn là chuẩn mực của giới thượng lưu. Bằng chứng hùng hồn là dân chủ chỉ được cổ súy trong chừng mức có thể đóng góp vào các mục tiêu kinh tế và xã hội, một kết luận giới học giả nghiêm chỉnh bất đắc dĩ đã phải thừa nhận.

Thái độ khinh khi của giới thựơng lưu đối với dân chủ đã được phơi bày một cách bi hùng trong phản ứng trước những sự thật trần trụi tiết lộ bởi WikiLeaks. Những thực tế được quan tâm nhiều nhất, với bình luận hồ hởi nhất, là các công điện tiết lộ người Á Rập luôn hậu thuẩn lập trường của Hoa Kỳ về Iran. Đó là thái độ của các nhà lãnh đạo Á Rập độc tài. Thái độ của công chúng đã không hề được nhắc đến. Nguyên tắc hướng đạo đã được diễn đạt rõ ràng bởi chuyên gia Carnegie Endowment Middle East — Marwan Muasher, nguyên là một viên chức cao cấp của chính quyền Jordan: “Không có gì sai quấy, mọi sự đều trong vòng kiểm soát.”[7] Nói một cách vắn tắt, nếu các lãnh đạo độc tài ủng hộ chúng ta, chẳng còn gì khác quan trọng.

Chủ thuyết Muasher rất duy lý và đáng tôn kính. Để dẫn chứng môt trường hợp điển hình ngày nay, trong thảo luận nội bộ năm 1958, T T Eisenhower đã tỏ ra quan tâm về “chiến dịch thù ghét”[8] người Mỹ trong thế giới Á Rập, không phải từ phía chính quyền, mà từ phía dân chúng. Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (NSC) đã giải thích thế giới Á Rập có một nhận thức: Hoa Kỳ luôn hậu thuẩn các chế độ độc tài và chận đứng dân chủ và phát triển khả dĩ kiểm soát các tài nguyên trong vùng. Hơn nữa, NSC đã kết luận, nhận thức nầy, trong căn bản, rất chính xác, và “đó chính là việc chúng ta nên làm, cơ sở trên chủ thuyết Muasher.”[9] Những nghiên cứu của Ngũ Giác Đài sau biến cố 11/9 cũng đã xác nhận thực tế đó hiện vẫn còn giữ nguyên giá trị.

Đối với kẻ thắng, vứt bỏ lịch sử vào sọt rác là chuyện bình thường,  nhưng nạn nhân luôn đọc lịch sử một cách nghiêm túc. Có lẽ một số nhận xét vắn tắt về vấn đề quan trọng nầy có thể khá hữu ích. Ngày nay không phải là cơ hội đầu khi Ai Cập và Hoa Kỳ đang đối diện với những vấn đề tương tự, và đang dịch chuyển theo hai hướng đối nghịch. Nhận xét nầy cũng khá đúng vào đầu thế kỷ XIX.

Các nhà sử học kinh tế đã đưa ra luận cứ: Ai Cập đã ở trong một vị trí tốt để thể hiện phát triển kinh tế nhanh chóng cùng lúc với Hoa Kỳ. Cả hai đã sỡ hữu một khu vực nông nghiệp trù phú, kể cả bông vải, thứ nhiên liệu chính trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng kỹ nghệ — mặc dù không giống Ai Cập, Hoa Kỳ đã phải phát triển sản xuất bông vải và một lực lượng lao động qua sự thôn tính, tận diệt, và chế độ nô lệ, với hậu quả ngày nay rất hiển nhiên trong những vùng dành riêng cho các người sống sót và các nhà tù đã được mở rộng từ thời Reagan để làm chỗ che thân cho số dân thặng dư không còn cần thiết và để lại sau bởi phong trào giải thể kỹ nghệ hóa –deindustrialization.

Một dị biệt căn bản là Hoa Kỳ trước đó đã giành lại được độc lập, và vì vậy, đã tự do tảng lờ các đơn thuốc lý thuyết kinh tế, đã được rao giảng bởi Adam Smith trong những từ ngữ tương tự những mệnh lệnh được thuyết giảng cho các quốc gia đang phát triển ngày nay. Smith đã khuyến khích, thúc dục các thuộc địa đã được giải phóng,  gia tăng sản xuất các sản phẩm nhất đẳng hay nông phẩm để xuất khẩu và nhập khẩu sản phẩm chế biến cao cấp hay nhị đẳng từ Anh quốc , và đã hẳn, không tìm cách chiếm độc quyền sản xuất những sản phẩm trọng yếu, đặc biệt là bông vải. Smith cảnh cáo, “bất cứ con đường nào khác cũng có thể làm chậm lại thay vì tăng tốc nâng cao giá trị các sản phẩm sản xuất hàng năm, và có thể cản trở thay vì phát huy đà tiến bộ của xứ sở hướng đến giàu sang thực sự và vĩ đại.”[10]

Sau khi đã giành lại độc lập, các xứ thuộc địa đã có quyền tự do làm ngơ lời khuyên của Smith và noi theo hướng đi của Anh quốc  — phát triển theo sự hướng dẫn của một nhà nước độc lập , thiết lập hàng rào thuế quan để bảo vệ kỹ nghệ non trẻ quốc nội trước hàng xuất khẩu của Anh quốc, thoạt tiên là vải vóc, kế đến là sắt thép và các biến chế phẩm khác, và chấp nhận nhiều phương sách tăng tốc phát triển kỹ nghệ. Cộng Hòa độc lập cũng tìm cách chiếm độc quyền bông vải ngõ hầu làm các quốc gia khác phải quỵ gối, nhất là kẻ thù Anh quốc, như các tổng thống Jacksons đã loan báo khi chinh phục Texas và phân nửa Mexico.

Đối với Ai Cập, một hướng đi tương tự đã bị Anh quốc ngăn chặn. Lord Palmerston đã tuyên bố “không một ý niệm công bằng nào [đối với Ai Cập] được quyền ngăn cản những quyền lợi lớn lao và cao cả như thế”của Anh quốc như duy trì quyền bá chủ kinh tế chính trị, tỏ rõ sự thù ghét đối với một Muhammed Ali “dốt nát man rợ” dám tìm kiếm một lối đi độc lập, và đã giàn trải hạm đội và quyền lực tài chánh của Anh quốc nhằm chấm dứt sự tìm kiếm độc lập và phát triển kinh tế của Ai Cập.[11]

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, khi Hoa Kỳ đã thay thế Anh quốc trong địa vị bá chủ toàn cầu, Hoa Thịnh Đốn đã chấp nhận một lập trường tương tự, tỏ rõ Hoa Kỳ có thể không cung cấp viện trợ cho Ai Cập trừ phi Ai cập chịu chấp nhận những quy luật dành cho kẻ yếu — những quy luật Hoa Kỳ tiếp tục vi phạm, áp đặt các hàng rào quan thuế cao để loại từ bông vải Ai Cập và gây ra tình trạng khan hiếm đồng mỹ kim nguy hại. Đó là lối giải thích thông thường các nguyên tắc thị trường.

Thật ra chẳng có gì đáng ngạc nhiên “cuộc vận động thù nghịch” chống lại Hoa Kỳ, khiến Eisenhower phải âu lo, đã cơ sở trên sự nhận diện Hoa Kỳ và đồng minh luôn hậu thuẩn các lãnh tụ độc tài  và ngăn cản dân chủ và phát triển.

Để công bằng với Adam Smith, tưởng cần phải nói thêm Smith đã nhận diện những gì có thể xẩy ra nếu Anh quốc noi theo các quy luật kinh tế lành mạnh, ngày nay được gọi là “tân tự do” — “neolibalism.” Adam Smith đã cảnh cáo nếu các kỹ nghệ gia chế biến, các thương nhân, và các nhà đầu tư quay qua các nước ngoài, họ có thể hưởng lợi nhưng Anh quốc có thể bị thương tổn. Nhưng Adam Smith cảm nhận những thành phần vừa kể có thể được hướng dẫn bởi khuynh hướng bảo vệ quốc nội, để như nhờ  bàn tay vô hình [của thị trường cạnh tranh] Anh quốc có thể thoát khỏi các tàn phá của duy lý kinh tế.

Đoạn trích dẫn trên đây khó lòng bỏ sót. Đó là câu nổi danh “bàn tay vô hình” trong tác phẩm The Wealth of Nations. Một nhà sáng lập hàng đầu lý thuyết kinh tế cổ điển khác, David Ricardo, cũng đã rút tỉa những kết luận tương tự, hy vọng “thành kiến quốc nội”[12]có thể dẫn lối cho những người giàu”bằng lòng với một tỉ suất doanh lợi thấp trong nội địa, hơn là tìm kiếm một phương cách sử dụng hữu lợi hơn cho tài sản của mình ở các xứ ngoài,” cảm thấy “tôi sẽ cảm thấy hối lỗi khi thấy bị suy yếu.”

Gạt các tiên đoán qua một bên, bản năng của các kinh tế gia cổ điển là khá lành mạnh.

CÁC ĐE DỌA CỦA IRAN VÀ TRUNG QUỐC

“Mùa Xuân Á Rập”đôi khi đã được so sánh với Đông Âu năm 1989, nhưng trên những cơ sở đáng nghi ngờ.

Năm 1989, sự trỗi dậy của dân chủ đã được người Nga tha thứ, và các xứ Tây Âu hổ trợ,  theo đúng chủ thuyết chuẩn: phù hợp với các mục tiêu kinh tế và chiến lược, và vì vậy, là một thành tựu  cao thượng, được vinh danh , không giống các cuộc đấu tranh cùng lúc “để bảo vệ các nhân quyền căn bản” của quần chúng Trung Mỹ, theo lời của Tổng Giám Mục bị ám sát của El Salvador, một trong hàng trăm nghìn nạn nhân của các lực lượng quân sự được Hoa Thịnh Đốn trang bị vũ khí  và huấn luyện.

Không một Gorbachev của phương Tây trong các năm ghê rợn đó, và ngày nay cũng chẳng có một ai. Và các cường quốc Tây phương có đủ lý do để luôn thù nghịch với dân chủ trong thế giới Á Rập.

Các chủ thuyết “Vùng Rộng Lớn” tiếp tục áp dụng cho các cuộc khủng hoảng và xung đột đương thời. Trong giới làm chính sách và bình luận Tây phương, đe dọa Iran được xem như một nguy cơ lớn nhất đối với trật tự thế giới, và vì vậy, phải là mục tiêu cơ bản của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, với Âu châu lễ độ lẻo đẻo theo sau.

Thực ra, đe dọa Iran là gì? Ngũ Giác Đài và hệ thống tình báo Hoa Kỳ đã đem lại một câu trả lời đầy đủ thẩm quyền.Tường trình về an ninh toàn cầu năm rồi, các cơ quan trên đã nói rõ đe dọa không mang tính quân sự. Tường trình kết luận: “Ngân sách quân sự của Iran ‘tương đối thấp so với phần còn lại trong khu vực.’ Học thuyết quân sự thuần túy mang tính tự vệ, được thiết kế nhằm làm chậm một cuộc xâm lăng và buộc đem lại một giải pháp ngoại giao cho xung đột. Iran chỉ có một khả năng hạn chế phóng chiếu lực lượng của mình bên ngoài biên giới. Với sự lựa chọn nguyên tử, chương trình nguyên tử của Iran và ước muốn giữ tính khả dĩ phát triển vũ khí nguyên tử, như trung tâm của chiến lược ngăn ngừa.”[13]

Chế độ giáo sĩ tàn bạo đã hẳn là một đe dọa đối với chính người dân Iran, tuy vật vẫn còn ít tàn bạo hơn nhiều so với các đồng minh của Hoa Kỳ trên bình diện nầy. Nhưng đe dọa đang ở một nơi khác, và thực sự là một điềm gở. Một yếu tố là tiềm lực khả năng ngăn ngừa của Iran, một lối hành xử quyền tối thượng có thể gây rắc rối cho quyền tự do hành động của Hoa Kỳ trong vùng Trung Đông nới rộng. Lý do vì sao Iran tìm kiếm khả năng ngăn chặn hết sức hiển nhiên. Chỉ cần nhìn các căn cứ quân sự và các lực lượng nguyên tử ngay trong vùng cũng đủ để tự giải thích.

Bảy năm trước đây, nhà sử học quân sự Do Thái Martin van Creveld đã viết: “Thế giới đã chứng kiến Hoa Kỳ đã tấn công Iraq, như đã diễn ra, không vì bất cứ lý do chính đáng nào. Nếu người Iran đã không tìm cách xây dựng vũ khí nguyên tử, có thể nói họ đang điên,”[14] nhất là khi họ luôn sống dưới sự đe dọa tấn công thường trực trái với hiến chương Liên Hiệp Quốc. Liệu có phải họ đang làm như vậy hay không vẫn còn là một vấn đề chưa có câu trả lời, nhưng có lẽ họ phải làm.

Nhưng mối đe dọa từ Iran vượt quá ngăn chặn.  Ngũ Giác đài nhấn mạnh, Iran cũng đang mở rộng phạm vi ảnh hưởng đến các quốc gia láng giềng, và bằng cách nầy “bất ổn hóa” toàn vùng —  sử dụng xảo thuật mỹ ngôn ngoại giao của Mỹ. Hoa kỳ xâm lăng và chiếm đóng quân sự các xứ nầy là để “ổn định hóa” (stabilization). Nổ lực của Iran mở rộng ảnh hưởng đến các xứ nầy là “bất ổn hóa” (destabilization), vì vậy, rõ ràng không chính đáng.

Lối sử dụng ngôn từ như vậy là chuyện thường tình. Vì vậy, nhà phân tích chính sách đối ngoại nhiều người biết, James Chace, đã sử dụng thích đáng từ “ổn định” (stability)trong nghĩa kỹ thuật của danh từ khi ông giải thích: muốn thành đạt “ổn định” ở Chile, người Mỹ cần phải bất ổn hóa — destabilize — xứ nầy, qua nổ lực lật đổ chính quyền dân cử Salvador Allende và cho lên ngôi nhà độc tài — Tướng Augusto Pinochet.

Những quan tâm khác về Iran cũng xứng đáng được tìm hiểu, nhưng có lẽ cũng đã đủ để phơi bày những nguên tắc hướng đạo và quy chế những nguyên tắc nầy trong văn hóa đế quốc. Như những nhà hoạch định của Franklin Delano Roosevelt đã nhấn mạnh ngay từ buổi bình minh của hệ thống thế giới đương đại, Hoa Kỳ “không thể tha thứ cho việc hành xử quyền tối thượng gây trở ngại cho các thiết kế toàn cầu của Mỹ.”[15]

Hoa Kỳ và Âu châu luôn nhất trí trừng phạt Iran vì Iran đang de dọa tình trạng ổn định, nhưng tưởng cũng khá hữu ích để nhớ lại họ đang bị cô lập như thế nào. Các quốc gia phi liên kết đã hết mình ủng hộ quyền làm giàu uranium của Iran. Trong khu vực, công luận trong thế giới Á Rập còn hậu thuẩn mạnh mẽ hơn nữa ngay cả quyền có vũ khí nguyên tử, nếu Iran muốn theo đuổi. Cường quốc cấp vùng, Thổ Nhĩ Kỳ, đã bỏ phiếu chống quyết nghị chế tài do Mỹ đề xướng trước Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, cũng như Brazil, quốc gia Nam Mỹ được thán phục nhiều nhất. Thái độ bất khuất của cả hai xứ đã bị lên án nặng nề không phải lần đầu: Năm 2003, Thổ Nhĩ Kỳ đã bị lên án khi chính quyền Thổ Nhị Kỳ tôn trọng lập trường của 95% dân chúng Thổ và đã từ chối tham gia vào cuộc xâm lăng Iraq, như vậy, đã tỏ ra không hiểu rõ hay thiếu tin tưởng vào dân chủ kiểu Tây phương.

Sau hành động sai quấy của Hội Đồng Bảo An trong năm 2011, chính quyền Hoa Kỳ, qua Philip Gordon, quan chức ngoại giao cao cấp đặc trách Âu châu, đã cảnh cáo Thổ Nhĩ Kỳ “phải xác quyết cam kết đối tác với khối Tây phương.”[16] Một học giả trong Hội Đồng Đối Ngoại đã hỏi: “Làm cách nào để giữ người Thổ Nhĩ Kỳ đi theo con đường [do Mỹ] định sẵn?”[17] — có nghĩa tuân lệnh như những người dân chủ tốt. Lula của Brazil cũng đã bị khiển trách trong một hàng tít trên báo New York Times: nổ lực của ông ta cùng với Thổ Nhĩ Kỳ cung cấp một giải pháp cho vấn đề làm giàu uranium bên ngoài khuôn khổ của quyền lực Hoa Kỳ là “một vết nhơ  trong di sản của nhà lãnh đạo Brazil.”[18]Tóm lại, làm những gì “chúng tôi bảo”, nếu không…!

Một chút  ánh sáng bên lề khá thú vị, đã được dẹp bỏ khá hữu hiệu, thỏa hiệp Iran-Turkey-Brazil đã được Obama chấp thuận trước, với tin tưởng thương thảo sẽ thất bại, đem lại một vũ khí ý thức hệ bất lợi cho Iran. Khi thành công, sự chấp thuận đã biến thái để trở thành một khiển trách, và Hoa Thịnh Đốn, theo số mới nhất của tạp chí Foreign Affairs, đã vội vã đưa ra Hội Đồng Bảo An biểu quyết một nghị quyết èo ọp đến độ TQ cũng đã sẵn sàng chấp thuận, và nay đang bị chỉ trích đã thực thi từng chữ trong nghị quyết, không đúng theo chỉ thị đơn phương của Hoa Thịnh Đốn.

Trong khi Hoa Kỳ có thể tha thứ thái độ thiếu vâng lời của Thổ Nhĩ Kỳ, dù với thất vọng, nhưng đối với TQ, Hoa Thịnh Đốn thật sự khó lòng làm ngơ. Báo chí cảnh cáo “các nhà đầu tư và thương gia Trung Quốc nay đang nhảy vào Iran lấp đầy khoảng trống trong khi giới doanh thương trong nhiều xứ khác, đặc biệt là Âu châu, đang tháo lui,” và đặc biệt hơn nữa, TQ cũng đang bành trướng vai trò áp đảo của mình trong các kỹ nghệ năng lượng Iran. Hoa Thịnh Đốn đang phản ứng với tuyệt vọng. Bộ Ngoại Giao cảnh cáo: Nếu muốn được chấp nhận trong cộng đồng thế giới — một từ kỹ thuật ám chỉ Hoa Kỳ và những xứ đồng ý với Hoa Kỳ — TQ không được lẫn tránh các trách nhiệm quốc tế, có nghĩa phải theo lệnh của Hoa Kỳ. Trung Quốc hình như đã tỏ ra không chút ấn tượng.

Ngược lại, hình như cũng đã có nhiều quan tâm đến mối đe dọa quân sự ngày một gia tăng từ TQ. Một cuộc nghiên cứu gần đây của Ngũ Giác Đài đã cảnh cáo ngân sách quân sự của TQ đang tăng lên gần bằng “1/5 ngân sách Ngũ Giác Đài dành cho các cuộc chiến Iraq và Afghanistan,” đã hẳn cũng chỉ một phân số của ngân sách quân sự Hoa Kỳ. Báo New York Times còn thêm, sự bành trướng của các lực lượng quân sự TQ có thể từ chối khả năng các tàu chiến Hoa Kỳ hoạt động trong hải phận quốc tế bên ngoài bờ biển TQ.

Ra khỏi bờ biển TQ, điều nầy có nghĩa: TQ có thể sẽ đề nghị Hoa Kỳ loại bỏ các lực lượng quân sự có sứ mệnh ngăn ngừa các tàu chiến TQ vào vùng biển Caribbean. Sự thiếu hiểu biết của TQ về các quy luật trong phép lịch sự quốc tế cũng đã được được chứng tỏ qua thái độ chống đối các kế hoạch tàu sân bay tân tiến chạy bằng nguyên tử George Washington tham gia các cuộc thao diễn hải quân một vài dặm ngoài khơi TQ, được biết có thể có đủ khả năng tấn công Bắc Kinh.

Ngược lại, Tây phương hiểu các cuộc hành quân diễn tập như thế đều được thể hiện nhằm đảm bảo sự ổn định và an ninh của Tây phương. Tờ New Republic, với khuynh hướng tự do, đã tỏ ra quan tâm và âu lo khi “TQ gửi mười tàu chiến xuyên qua hải phận quốc tế bên ngoài hải đảo Okinawa của Nhật.” Đó quả thật là một thách thức – không hề giống sự kiện, không được nhắc đến, Hoa Thịnh Đốn đã cải biến đảo Okinawa thành một căn cứ quân sự quan trọng trước sự chống đối mạnh mẽ của dân chúng Okinawa. Nhưng đây không phải là một khiêu khích, vì đang theo đúng nguyên tắc chuẩn mực: người Mỹ làm chủ thế giới.

Tạm gác qua một bên chủ thuyết đế quốc lâu đời, các quốc gia láng giềng của TQ cũng đã có lý do chính đáng để âu lo về sức mạnh quân sự và thương mãi ngày một gia tăng của TQ. Và mặc dù công luận trong thế giới Á Rập hậu thuẩn một chương trình nguyên tử của Iran, người Mỹ cũng không nên hành động như thế.

Tài liệu về chính sách đối ngoại đầy dẫy những đề nghị các phương cách đối phó với đe dọa. Một phương cách rất rõ ràng nhưng ít khi được đem ra thảo luận: thiết kế một vùng phi nguyên tửa nuclear-weapons-free zone hay NWFZ. Đề tài đã được một lần nữa nêu lên tại hội nghị Thỏa Ước Cấm Phổ Biến Nguyên Tử  (NPT) tại trụ sở Liên Hiệp Quốc tháng 5-2012.  Ai Cập, chủ tịch Phong Trào Phi Liên Kết 118 quốc gia, đã kêu gọi thương thuyết về một NWFZ ở Trung Đông, như đã được các quốc gia Tây Phương, kể cả Hoa Kỳ, đã đồng ý trước đó, tại hội nghị tái thẩm định NPT năm 1995.

Hậu thuẩn quốc tế đã tràn ngập đến độ T T Obama đã phải chính thức chấp thuận. Tuy nhiên, Hoa Thịnh Đốn đã thông báo cho hội nghị: đây là một ý kiến tốt , nhưng không phải lúc nầy. Hơn nữa, Hoa Kỳ cũng đã nói rõ Do Thái phải được ngoại lệ: “Không một đề nghị nào có thể kêu gọi đặt chương trình nguyên tử của Do Thái dưới sự bảo trợ của Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế, hay đòi hỏi phải phổ biến thông tin về các cơ sở và hoạt động nguyên tử của Do Thái.”[19]

Chừng ấy với phương pháp đối phó với mối đe dọa nguyên tử của Iran.

TƯ HỮU HÓA HÀNH TINH

Trong khi học thuyết “Vùng Rộng Lớn” vẫn còn chiếm ưu thế, khả năng thể hiện học thuyết đã suy giảm. Đỉnh điểm quyền lực của Hoa Kỳ đã diễn ra ngay sau Thế Chiến Thứ Hai, khi Hoa Kỳ nắm giữ phân nửa tài sản thế giới. Nhưng tình trạng nầy dĩ nhiên đã suy giảm, trong khi các nền kinh tế kỹ nghệ khác đã hồi phục từ những tàn phá của chiến tranh và quá trình giải thể hệ thống thực dân đã diễn tiến theo chiều hướng ngày một tuyệt vọng. Vào đầu thập kỷ 1970, phần tài sản của Hoa Kỳ trong tài sản toàn cầu đã giảm xuống còn khoảng 25%,và thế giới kỹ nghệ đã trở thành tam cực: Bắc Mỹ, Âu châu, và Đông Á (lúc đó còn cơ sở trên Nhật Bản).

Nền kinh tế Hoa Kỳ đã trải nghiệm một thay đổi cơ bản rõ nét trong thập kỷ 1970, theo hướng tài chánh hóa và xuất khẩu mọi hoạt động sản xuất dân sự và tiêu thụ phẩm. Một số yếu tố hội tụ đã tạo ra một vòng lẫn quẩn, tập trung tài sản thái quá  vào tay 1% dân số trên đỉnh — phần lớn là giới CEO, giới quản lý các quỹ đầu cơ, các đại ngân hàng…

Tập trung tài chánh đưa đến tập trung quyền hành chính trị, từ đó, đến các chính sách nhà nước tăng gia tập trung kinh tế: chính sách tài chánh, thuế vụ, quy luật quản trị các đại công ty, cởi bỏ  giám sát, và nhiều xảo thuật khác. Cùng lúc phí tổn vận động bầu cử mọi cấp ngày một tăng vọt, đẩy các đảng phái chính trị vào túi giới tư bản-tài chánh ngày một tập trung cao độ: Cộng hòa, rồi Dân chủ, cũng chỉ là Cộng hòa ôn hòa trước đây, theo sau không xa.

Bầu cử đã trở thành một trò chơi đố chữ, do kỹ nghệ quan hệ giao tế điều hành. Sau khi đắc cử tổng thống năm 2008, Obama đã được giải thưởng từ kỹ nghệ về thành tích vận động mãi dịch thành công nhất trong năm. Giới quản trị doanh thương hồ hỡi. Qua các tạp chí doanh thương, họ giải thích họ đã rao bán các ứng cử viên trên thị trường chính trị như những món hàng kể từ thời Ronald Reagan, nhưng 2008 là năm thành công lớn lao nhất và có thể làm thay đổi hẳn phương thức hoạt động của các hội đồng quản trị.

Cuộc bầu cử 2012 được ước tính sẽ tốn khoảng 2 tỉ USD, hầu hết từ hầu bao các đại công ty. Do đó, chẳng có gì đáng ngac nhiên khi Obama lựa chọn các lãnh đạo doanh thương vào các chức vụ hàng đầu. Quần chúng uất hận và bức xúc, nhưng chừng nào nguyên tắc Muasher còn thắng thế, điều đó cũng chẳng ăn nhằm gì.

Trong khi tiền của và quyền lực tập trung vào tay một thiểu số ngày một nhỏ thu hẹp, đối với tuyệt đại đa số quần chúng, thực lợi tức ngày một trì trệ và người dân ngày một phải làm việc kiếm sống nhiều giờ hơn, công nợ và bong bóng tích sản vẫn tiếp tục bị hủy hoại bởi các cuộc khủng hoảng tài chánh đã khởi động khi cơ chế giám sát đã được gở bỏ từ thập kỷ 1980.

Tình trạng nầy không có gì còn phải bàn đối với giới tài phiệt, giới được hưởng lợi nhờ chính sách bảo hiểm của chính quyền mệnh danh“quá lớn để thất bại.”[20] Các ngân hàng và các xí nghiệp đầu tư có thể có những giao dịch đầy bất trắc, với phần thưởng lớn lao, và khi hệ thống không thể tránh sụp đổ, họ có thể vận hành guồng máy “nhà nước vú em” buộc giới chịu thuế phải cứu trợ, dựa trên các chủ thuyết kinh tế của Friedrich Hayek và Milton Friedman.

Đây đã là quá trình thông thường từ thời Reagan,  mỗi khủng hoảng lần sau nghiêm trọng hơn lần trước, nhưng chỉ đối với quần chúng nạn nhân. Hiện nay, thất nghiệp trong thực tế đang ở mức Đại Khủng Hoảng đối với đa số quần chúng, trong khi Goldman Sachs, một trong số các kiến trúc sư chính gây ra cuộc khủng hoảng đang tiếp diễn, ngày một giàu hơn. Goldman Sachs vừa lặng lẽ loan báo 17,5 tỉ USD thù đáp trong năm rồi, với CEO Lloyd Blankfein nhận 12,6 triệu USD tiền thưởng trong khi lương căn bản đã tăng gấp ba.

Đã hẳn, phương thức thù đáp nầy khó qua mặt các quan sát viên khi họ chú ý đến các sự kiện như thế. Vì vậy, guồng máy tuyên truyền đã phải tìm cách đổ trách nhiệm trên những giới khác, như trong mấy tháng vừa qua, trên giới công nhân viên trong khu vực công, với “mức lương béo bỡ,” “tiền hưu trí quá cao,” v.v.: những xảo thuật ngôn ngữ, tất cả đều tưởng tượng, dựa trên hình ảnh mẫu của Reagan về những bà mẹ da đen ngồi xe li-mu-dinh đi nhận chi phiếu phúc lợi xã hội — và nhiều hình ảnh tương tự không cần nhắc lại ở đây. Đại đa số người Mỹ đều phải thắt lưng buộc bụng.

Giới giáo chức là mục tiêu cực tốt, như một phần trong nổ lực chủ ý hủy hoại hệ thống giáo dục công lập từ lớp vỡ lòng cho đến bậc đại học. Giải pháp thay thế là  tư hữu hóa. Một lần nữa, đây là giải pháp khá tốt cho giới nhà giàu, nhưng là một đại họa cho công chúng, cũng như sự lành mạnh lâu dài của nền kinh tế. Dù sao, cũng chỉ là một lực lượng dễ gạt qua một bên, chừng nào các nguyên tắc thị trường  tự do cạnh tranh còn giữ địa vị ưu thế.

Một mục tiêu tốt khác luôn là các người nhập cư. Đó là sự thật trần truồng trong lịch sử Hoa Kỳ, càng rõ nét hơn trong thời buổi khủng hoảng kinh tế, và được trầm trọng hóa hiện nay với một ý thức nước Mỹ đang bị giành ra khỏi tay người Mỹ: chẳng bao lâu nữa, dân da trắng sẽ sớm trở thành sắc dân thiểu số. Người ta có thể hiểu được sự giận dữ  uất ức của dân Mỹ da trắng, nhưng tính tàn nhẫn của chính sách thật sự đang gây sốc.

Dân nhập cư nào đang là mục tiêu? Trong vùng phía Đông tiểu bang Massachusetts, một số đông là người Mayan đã phải thoát nạn diệt chủng ở các vùng cao nguyên Guatemala bởi các tên sát nhân được Reagan cưng chiều.

Một sắc dân khá đông khác là người Mexico, nạn nhân của Thỏa Ước Tự Do Mậu Dịch Bắc Mỹ  hay NAFTA của Clinton, một trong những thỏa ước hiếm hoi đã gây tai họa cho giới lao động trong cả ba quốc gia thành viên của Thỏa Ước.

Trong khi NAFTA đang được Quốc Hội vội vã phê chuẩn trước sự chống đối của quần chúng trong năm 1994, Clinton cũng đã khởi động quân sự hóa biên giới Hoa Kỳ-Mexico, trước đó người dân hai xứ đã qua lại khá dễ dàng. Ai cũng hiểu các nông trại Mexico, Campesinos,  không thể sống sót trước sự cạnh tranh của khu vực nông doanh Hoa Kỳ đang được trợ cấp dồi dào, và các công ty doanh thương của Mexico khó lòng cạnh tranh với các đại công ty đa quốc gia của Mỹ đang được hưởng quy chế “đãi ngộ quốc gia” – national treatment – dưới chiêu bài bịp bợm các “thỏa ước mậu dịch tự do”, một đặc quyền chỉ ban cho các pháp nhân hùng mạnh, không cho các thể nhân cá biệt nhỏ bé. Vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên, các biện pháp nầy đã đưa đến một làn sóng tỵ nạn tuyệt vọng, và cơn điên loạn chống đối người nhập cư bởi các nạn nhân của các chính sách “nhà nước-đại công ty” trong quốc nội.

Nhiều biến cố tương tự hình như đang xẩy ra ở Âu châu, nơi tệ nạn phân biệt chủng tộc có lẽ còn lan tràn và trầm trọng hơn ở Hoa Kỳ. Chúng ta chỉ có thể quan sát, với kinh ngạc  khi  người Ý  than phiền dòng tỵ nạn từ Libya, cảnh tượng diệt chủng trong Thế Chiến Thứ Nhất, trong vùng Đông Âu nay đã dược giải phóng, dưới bàn tay của chính quyền phát xít Ý; hay khi Pháp, cho đến  nay vẫn còn là quốc gia che chở chính yếu cho các chế độ độc tài tàn bạo trong các cựu thuộc địa, cũng đang tìm cách làm ngơ trước sự tàn bạo đáng ghê tởm của chính mình ở Phi châu, trong khi T T Pháp Nicolas Sarkosy nghiêm khắc cảnh cáo làn sóng nhập cư và Marine Le Pen phản đối Sarkosy chẳng chịu làm gì để chận đứng. Đó là chưa nói đến Bỉ, quốc gia có thể thắng giải cho điều Adam Smith đã gọi là “sự bất công man rợ của người Âu châu.”[21]

Sự trỗi dậy của các đảng tân quốc xã trong nhiều nơi ở Âu châu có thể là hiện tượng đáng sợ ngay cả nếu chúng ta không phải nhớ lại những gì đã xẩy ra trên lục địa trong một quá khứ gần đây. Chỉ cần tưởng tượng phản ứng nếu người Do Thái bị xua đuổi khỏi Pháp phải gánh chịu đau khổ và đàn áp, và rồi chứng kiến sự thiếu vắng phản ứng khi điều đó xẩy ra ở Roma, cũng đều là nạn nhân của tàn sát hàng loạt Holocaust và hầu hết quần chúng ở Âu châu bị đối xử hung bạo.

Ở Hung Đại Lợi, đảng tân phát xít Jobbik đã thu được 17% số phiếu trong các cuộc bầu cử quốc gia, có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi 3/4 dân số cảm nhận số phận của họ còn tệ hơn dưới chế độ Cộng sản. Chúng ta rất có thể cảm thấy nhẹ nhỏm khi ở Austria, phe cực hữu Jorg Haider chỉ giành được 10% số phiếu bầu năm 2008 — nếu không vì sự kiện Đảng Tân Tự Do, phía cực hữu của Haider, cũng đã giành được hơn 17% số phiếu. Thật lạnh mình khi nhớ năm 1928, phe Quốc Xã đã chỉ giành được chưa đến 3% số phiếu bầu ở Đức.

Ở Anh, Đảng Quốc Gia Anh — British National Party, và Liên Minh Phòng Vệ Anh  Quốc — English Defence League, phe cực lực phân biệt chủng tộc hữu phái, là những lực lượng quan trọng. Ở Đức, lời than của Thilo Sarrazin, dân nhập cư đang hủy diệt xứ sở,  là tác phẩm bán chạy nhất , trong khi Thủ Tướng Angela Merkel, mặc dù lên án tác phẩm, cũng đã tuyên bố chủ nghĩa đa văn hóa đã hoàn toàn phá sản: Người Thổ Nhĩ Kỳ được mướn vào làm những công việc dơ bẩn ở Đức không bao giờ có thể trở thành người Aryan thực sự với tóc hoe vàng và mắt xanh.

Những ai với đầu óc châm biếm có thể nhớ Benjamin Franklin, một trong những gương mặt hàng đầu Thời Khai Sáng, đã cảnh cáo các xứ thuộc địa vừa được giải phóng cần coi chừng cho phép người Đức nhập cư, bởi lẽ họ có sắc mặt ngăm đen; người Thụy Điển cũng vậy. Bước vào thế kỷ XX, các chuyện hoang đường lố lăng về sự thuần khiết của giống người Anglo-Saxon cũng rất phổ thông ở Mỹ, kể cả giữa các tổng thống và các nhân vật hàng đầu. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong văn chương hay văn hóa là một điều tục tỉu thô bỉ, trong thực tế lại còn tệ hại hơn. Trừ tuyệt căn polio còn dễ hơn nhiều so với bệnh dịch ghê tởm nầy, một dịch bệnh còn nguy hiểm hơn trong thời buổi kinh tế khó khăn.

Một điều độc hại khác không được các hệ thống thị trường quan tâm: số phận của các chủng loại. Nguy cơ do hệ thống tài chánh có thể bổ khuyết bởi giới chịu thuế, nhưng không ai có thể ứng cứu nếu môi trường bị hủy hoại. Nguy cơ nầy phải được hủy diệt. Đó là một cưỡng bách mang tính định chế. Giới lãnh đạo doanh thương — những người đang phát động các chiến dịch tuyên truyền nhằm thuyết phục quần chúng hiện tượng hâm nóng toàn cầu do con ngưởi gây ra là một tin vịt , một trò đánh lừa của phái tự do — hiểu rất rõ nguy cơ hết sức trầm trọng, nhưng họ phải tối đa hóa doanh lợi ngắn hạn và thị phần. Nếu họ không thức tỉnh, một ai đó sẽ phải hành động.

Vòng lẫn quẩn nầy có thể gây nhiều tử vong. Muốn hiểu nguy cơ nầy trầm trọng đến mức độ nào, chúng ta chỉ cần nhìn vào Quốc Hội Hoa Kỳ, đã được đưa lện vị trí quyền lực bởi sự tài trợ và tuyên truyền của giới doanh thương. Hầu như tất cả đều là những thành phần chối bỏ hiện tượng thay đổi khí hậu. Họ đã thực sự bắt đầu nhiệm vụ cắt xén ngân sách dành cho các biện pháp có thể tiết giảm tai họa môi trường. Tệ hơn nữa, nhiều thành viên Quốc Hội là những thánh phần thực sự tin tưởng. Chẳng hạn, người đứng đầu tiểu ban môi trường đã giải thích: hiện tượng hâm nóng toàn cầu không thể là một vấn đề, bởi lẽ Đức Chúa Trời đã hứa với Noah sẽ không có một lũ lụt khác.

Nếu những điều nầy đã xẩy ra trong một xứ nhỏ bé xa xôi nào đó, chúng ta có thể mĩm cười. Nhưng không, khi đang xẩy ra trong một xứ giàu mạnh nhất thế giới. Và trước khi cười, chúng ta có thể phải ghi nhớ cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay một phần lớn có thể truy nguyên đến sự cuồng tín vào những giáo điều như thị trường luôn hiệu quả, và nói chung, đến những gì kinh tế gia được giải thưởng Nobel Joseph Stiglitz, 15 năm trước đây, đã gọi “tôn giáo” các thị trường biết rõ hơn bất cứ ai — đã ngăn cản ngân hàng trung ương và các chuyên gia kinh tế ghi nhận một bong bóng bất động sản 8 nghìn tỉ USD không hề có cơ sở nào trong các lý thuyết kinh tế căn bản, và đã tàn phá nền kinh tế khi xìu xẹp.

Tất cả những điều trên đây và nhiều hơn nữa có thể tiếp diễn chừng nào chủ thuyết Muasher còn thắng thế. Ngày nào quần chúng nói chung còn thụ động, thờ ơ, chệch hướng theo chủ nghĩa tiêu thụ hay thù ghét  khinh khi những người dễ bị thương tổn, ngày đó giới quyền lực có thể hành động theo sở thích , và những ai sống sót chỉ còn có thể chiêm nghiệm hậu quả.

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

22-8-2012


[1] …the most strategically important area in the world — a stupendous source of strategic power and probably the richest economic prize in the world in the field of foreign investment…

[2] …control of the incomparable energy reserves of the Middle East would yield substantial control of the world.

[3] …the U.S. would maintain “unquestioned power,” with “military and economic supremacy,” while ensuring the “limitation of any exercise of sovereignty” by states that might interfere with its global designs.

[4] “NATO troops have to guard pipelines that transport oil and gas that is directed for the West,”and more generally to protect  sea routes used by tankers and other “crucial infrastructure” of the energy system.

5 …the U.S. has the right to use military force ensure “uninhibited access to key markets, energy suplies, and strategic resources,” and must maintain huge military forces “forward deployed” in Europe and Asia “in order to shape people’s opinions about us” and “to shape events that will affect our livelihood and our security.”

[6] A change in ruling elites and system of governance is still a distant goal.

[7] There is nothing wrong, everything is under control.

[8] …the campaign of hatred…

[9] …That is what we should be doing, relying on the Muasher doctrine…

[10] Smith warned, any other path would retard instead of accelerating the further increase in the value of their annual produce, and would obstruct instead of promoting the progress of their country toward real wealth and gratness.

[11] Lord Palmerston declared that “no ideas of fairness [toward Egypt] ought to stand in the way of such great and paramount interests” of Britain as preserving its economic and political hegemony , expressing his “hate”for the “ignorant barbarian” Muhamed Ali who dared to seek an independent course, and deploying Britain’s fleet and financial power to terminate Egypt’s quest for independence and economic development.

[12] ..home bias…

[13] Iran’s military spending is relatively low compared to the rest of the region. Its military doctrine is strictly “dfensive, dsignd to slow an invasion and forc a diplomatic solution to hostilities. Iran has only a limited capacity to project  force beyond its borders. With regard to the nuclear option, Iran’s nucl ear program and its willingness to keep open the possibility of developing nuclear weapons is a central part of its deterrent  strategy.

[14] The world has witnessed how the United States attacked Iraq for, as it turned out, no reason at all. Had the Iranians not tried to build nuclear weapons, they would be crazy.

[15] Franklin Delano Roosevelt’s phanners emphasized at the dawn of the contemporary world system, the U.S. cannot tolerate “any exercise of sovereignty” that interfere  with its global designs.

[16] Turkey must “demonstrate its commitment with the West…

[17] How do we keep the Turks in their lane?

[18]  a “Spot on Brazilian Leader’s Legacy.”

[19] Furthermore, the U.S. made clear that Israel must be exempted: no proposal can call for Israel’s nuclear program to be placed under the auspices of the International Atomic Energy Agency or for the release of information about “Israeli nuclear facilities and activities.”

[20] …Too big to fail…

[21] …the savage injustice of the Europeans.