NHIỆM KỲ ĐẦU CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA: MỘT THẨM ĐỊNH

Obama có nhiều  lựa chọn và ít bị kiềm chế. Không ai có thể ngăn chặn hay làm trái lệnh của ông. Obama có nhiều luật gia bên cạnh để tham vấn và giải thích tính hợp pháp của mọi hành động. Và nếu muốn, Obama có thể gửi người máy tự động giết chết bạn, dù bạn là ai, và có thể đang ở đâu trên hành tinh.

Trong thực tế, Obama là tổng thống của Hoa Kỳ, một người dễ mến với người vợ duyên dáng và hai con xinh xắn.

Sao có thể như vậy?

NHỮNG GIẤC MƠ CHƯA THÀNH HIỆN THỰC

Đôi khi để biết mình đang ở đâu, bạn phải nhìn lại quá khứ. Trong trường hợp nầy, để hiểu do đâu một giáo-sư-luật-hiến-pháp-phái-tự-do-gốc-Phi-châu đầu tiên bước vào Oval Office đã trở thành vị tổng thống uy quyền nhất trong các tổng-thống-đế-vương[1] trước đây, chúng ta cần nhìn lại những năm đầu của Tổng Thống George W. Bush.

Giờ đây những ai trong chúng ta còn nhớ lại thời đó, khi thường nghe những cụm từ “siêu cường duy nhất”, “cảnh sát trưởng toàn cầu duy nhất”, và phe Tân Bảo Thủ luôn khoa trương một đế quốc đang lên, hùng cường hơn cả hai đế quốc Anh và đế quốc La Mã gộp lại?

Trong những năm hăng say tiếp theo sau biến cố 11/9, T T Bush, Phó T T Dick Cheney, và các quan chức hàng đầu, đang ấp ủ ba giấc mơ bá quyền họ quyết tâm biến thành sự thực.

Giấc mơ đầu tiên là buông lỏng giới quân sự — một lực lượng họ nhiệt thành tin tưởng có thể chế ngự bất cứ chế độ hay quốc gia nào trong vùng Trung Đông Nới Rộng[2]. Với giấc mơ đầu đã trở thành hiện thực, họ sẽ tạo lập một Pax Americana dài lâu trong vùng.

Cuộc xâm lăng Iraq năm 2003 mới chỉ là bước đầu nhẹ nhàng trong một loạt hành quân gây sốc và kinh hoàng, nhờ đó Hoa Thịnh Đốn có thể đơn phương tái phối trí trung tâm dầu khí của hành tinh, lật đổ hoặc khống chế các chế độ thù nghịch như Syria và Iran. Một câu nói đùa trong nội bộ phái Tân Bảo Thủ đã gói ghém tinh thần hồ hởi thời đó: “Ai cũng muốn đến Baghdad. Bậc tu mi nam tử muốn tới Tehran.”[3]

Những động thái nầy có thể cho phép Hoa Kỳ kiểm soát toàn cầu một cách độc đáo trong lịch sử, và ngăn ngừa sự trỗi dậy của bất cứ đại cường hay nhóm quốc gia nào khác đề kháng ước muốn của người Mỹ.

Giấc mơ thứ hai, song song với giấc mơ đầu, là tạo lập một Pax Republicana kéo dài nhiều thế hệ ngay ở Hoa Kỳ. Mọi người đều muốn đến Kansas, nhưng bậc nam nhi muốn đến New York và LA. Trong giấc mơ nầy, Đảng Dân Chủ, tương tự như người Iraq và Iran, có thể cũng phải thua cuộc, một đa số Cộng Hòa mới, do các đại công ty Hoa Kỳ tài trợ, có thể chiếm quyền lãnh đạo, và hơn thế nữa, có thể trở thành một ngành “hành pháp đơn điệu”[4] áp đảo, một tổng thống không một kiềm chế ở quốc nội, và có khả năng, qua hành động đơn phương bằng sắc lệnh — một văn kiện hành pháp — đơn thuần bành trướng uy thế, để làm bất cứ điều gì mình muốn.

Mặc dù chưa đầy một thập kỷ đã trôi qua, cả hai giấc mơ đã diễn ra như lịch sử xa xưa. Cả hai đã sụp đổ và bốc cháy, để lại phía sau một tổng thống Dân Chủ trong Tòa Bạch Ốc, một Iraq không một căn cứ quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ, và một Iran không một đổi thay chế độ.

Với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu dưới thời George W. Bush,  cả hai giấc mơ quá-lớn-để-không-thất-bại đã được đổi tên thành hai tai họa, lọt xuống hố sâu ký ức, và ngày nay một phần lớn đã bị quên lảng.

Trong bối cảnh đó, mọi người đã dễ dàng quên đi kỷ nguyên Bush,  không hoàn toàn sụp đổ và bốc cháy, còn có một giấc mơ thứ ba khá thành công, mặc dù rất ít được lưu tâm.

Vì lẽ thành công trong giấc mơ thứ ba đã không được ghi nhận đầy đủ, giữa các tai họa và thất bại dồn dập, người Mỹ đã khó lòng nắm bắt được phần “đế vương” của nhiệm kỳ tổng thống Obama.[5]

Chúng ta còn nhớ Cheney và phe nhóm đã lên nắm quyền năm 2001, tin tưởng sau Watergate, và sau Việt Nam, các tổng thống Hoa Kỳ đã bị trói tay. Ngay sau biến cố 11/9, họ đã bắt đầu“ra tay,”[6] theo lời của chính họ.  Lực thúc đẩy sâu xa nhất đối với họ là sử dụng lý do “an ninh quốc gia”[7] để giải phóng George W. Bush và  những người kế nhiệm Pax Americana khỏi bất cứ sự kiềm tỏa nào.

Từ động lực đó, chính quyền Mỹ đã lấy quyết định phát động “Cuộc Chiến Chống Khủng Bố Toàn Cầu,”[8]  có nghĩa, một thời chiến không thể có dứt điểm đối với một tổng thống tổng-tư-lệnh trong Tòa Bạch Ốc cho đến khi thắng lợi. Việc xây dựng trại tù Guantanamo và tạo lập các “địa điểm đen”[9] từ Ba Lan đến Thái Lan, hệ thống các nhà tù tư ở hải ngoại của tổng thống, tiếp nối một cách tự nhiên, cũng như sự cấu tạo một dạng thức (thiếu) công lý và hình phạt, một chế độ tra tấn, được chính tổng thống ra lệnh.

Cùng lúc, họ bắt đầu bành trướng phạm vi “hành quân che đậy”[10] theo lệnh của tổng thống tổng-tư- lệnh (phần lớn cuối cùng cũng đã được quảng bá ) — từ  chiến tranh bằng phi cơ không người lái đến bố trí và giàn trải các lực lượng biệt kích. Đây là những cột mốc chứng tỏ quyền hành động không hạn chế của tổng thống Hoa Kỳ ở hải ngoại.

Cũng tương tự như thế, ở quốc nội, chính quyền Bush đã bắt đầu bành trướng biện pháp có lúc đã được gọi là “giám sát bất hợp pháp”[11]công dân Mỹ và nhiều hình thức với tầm với xa hơn theo cảm hứng của tổng thống. Nói một cách khác, chính quyền đã bắt đầu ứng xử với chính Hoa Kỳ như một phân bộ của một hành tinh xa lạ, chẳng khác gì, theo một nghĩa nào đó, một xứ ngoài và chính quyền là một cường quốc chiếm đóng.

Với một Quốc Hội sợ hãi và một quần chúng khiếp đãm, chính quyền rõ ràng đã hoàn toàn tự do hành động. Thiếu hẳn cơ chế kiềm chế và đối trọng cần thiết để hạn chế quyền tự do hành động của một tổng thống thời chiến và các quan chức cao cấp của tổng thống. Trong thực tế, cơ chế kiềm chế và đối trọng còn lại chỉ là những quy luật nội bộ do chính guồng máy an ninh quốc gia tự quy định, và chỉ những quy luật rõ ràng giới hạn những gì họ tự cảm nhận có thể làm.

OBAMA HUYỀN BÍ

Đây là điều Obama đã thừa kế khi vào Tòa Bạch Ốc: một thể chế tổng thống tổng- tư-lệnh đang bành trướng, nhưng chưa hoàn mỹ, bây giờ nhìn lại hình như rất thích hợp với Obama.

Đã hẳn, Obama cũng đã thừa kế từ Bush những thất bại đối nội và ở vùng Trung Đông Nới Rộng, những thất bại đã che lấp những gì Obama đã làm với thể chế tổng thống tổng-tư-lệnh.

Một thực tế khác, với quyết định khai chiến với Triều Tiên năm 1950 của T T Truman,  quyền tuyên chiến hiến định của Quốc Hội (thay vì chỉ chấp thuận chiếu lệ lời loan báo của tổng thống), đã  trở nên lỗi thời. Vì vậy, giới quan sát luôn thấy rõ  một câu chuyện đằng sau thể chế tổng-thống-đế-vương hiện nay. Dù sao, trong kỷ nguyên Obama, quyền tuyên chiến của tổng thống cũng đã trở thành một hoạt động toàn thời gian 24/7.

Trước đây, các tổng thống Hoa Kỳ không xem quản lý vào chi tiết[12] một cuộc chiến triền miên như một phần chính yếu của trách nhiệm tổng thống, cũng như không thường xuyên chú tâm tới giới quân sự và việc làm của giới an ninh quốc gia. Ngày nay,  lời nói của tổng thống mang tính sinh tử ở bất cứ nơi đâu trên hành tinh và tổng thống luôn hành xử quyền nầy khá thường xuyên . Tổng Thống luôn xuất hiện trước quân đội ngày một nhiều và phu nhân của tổng thống đã chăm lo phúc lợi của quân nhân như một phần trong trách nhiệm của Đệ Nhất Phu Nhân. Tổng thống có dưới quyền các lực lượng bí mật ngày một lớn, kể cả một đội quân riêng: một CIA  ngày một quân sự hóa, và một lực lượng biệt kích ngày một đông, khoảng 60.000 hiện nay — một đội quân bí mật ngày một được tăng cường bên trong quân đội Hoa Kỳ.

Ngoài ra, tổng thống cũng có một đội tình báo riêng , kể cả một “Lực lượng Phòng Vệ Bí Mật”[13] mới được thành lập tại Ngũ Giác Đài, chuyên về tình báo trong những vùng không có chiến tranh, đặc biệt nhằm chống lại TQ và Iran.

Cuối cùng, tổng thống còn có một phi đội ngày một lớn: các phi cơ không người lái drone.

Tổng thống có thể gửi những drone và các đội biệt kích đến bất cứ nơi đâu để giết bất cứ ai ông ta nghĩ cần giết, không chút quan tâm đến quyền tối thượng của bất cứ quốc gia nào. Obama đã xác quyết quyền hành động của chính tổng thống qua quyết định gửi lực lượng biệt kích đến giết Osama bin Laden ở Pakistan và một phi cơ drone ám sát một công-dân-thánh-chiến Hoa Kỳ, Anwar al-Awlaki, ở Yemen.

Gần đây hơn, tổng thống đang trong quá trình mở rộng các chiến dịch không kích “che đậy” hay “ngụy trang” toàn thời gian. Chẳng hạn, hầu như ít ai ở Hoa Kỳ đã lưu tâm, phi cơ không người lái cách đây không lâu đã tấn công sát hại 15 chiến binh du kích, và Không Lực cũng đã loan báo kế hoạch tăng cường lối 30% hoạt động của drone ở Philippines.

Trong cùng thời gian, ở Yemen và trong các vùng dọc biên giới Pakistan, tổng thống cũng đã cho phép CIA và Bộ Tư Lệnh Hành Quân Liên Ngành quyền phát động các cuộc tấn công bằng drone không những nhằm thanh toán các “mục tiêu chất lượng al-Qaeda,” mà còn cả những “mẫu mực ứng xử khả nghi nói chung.”[14]

Như vậy, chúng ta có thể chờ đợi cuộc chiến phi cơ không người lái ngày một leo thang,  không những chống lại các cá nhân đã được nhận diện, mà ngay cả những nhóm người tình nghi làm điều xằng bậy (và trong những trường hợp như thế nầy, ngay cả nhiều thường dân vô tội).

Đây là một ví dụ khác về những điều có thể cấm kỵ trong quốc nội, nhưng nay đã là một dụng cụ trong quyền hạn ngoài vòng kiểm soát của tổng thống trên thế giới: xâm phạm đời tư của bất cứ ai  hay profiling.

Cũng như với George W. Bush, điều duy nhất kiềm chế tổng thống và đội ngũ của ông hình như chỉ còn một số kiềm chế và đối trọng nội bộ[15]. Không còn gì đáng nghi ngờ, đó là lý do, trước khi ra lệnh sử dụng drone ám sát thành công Awlaki, các luật gia từ Ngũ Giác đài, Bộ Ngoại Giao, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, các Cơ Quan Tình Báo, Sở Cố Vấn Luật Pháp thuộc Bộ Tư Pháp đã có nhiều phiên họp, soạn thảo một bản văn ghi nhớ hay memorandum dày 50 trang cung cấp căn bản pháp lý, theo đó tổng thống có quyền ra lệnh ám sát một công dân Hoa Kỳ — một tài liệu sẽ không bao giờ được phổ biến cho công chúng.

Trong thực tế, hiện nay tổng thống rõ ràng có thể đã ra lệnh cho phép một số vụ ám sát như thế mà chẳng cần đến tài liệu pháp lý nào. Chúng ta có thể nghĩ, giới hạn hay kiềm chế nầy tương đương với lương tâm hay  ý thức  hay mặc cảm tội lỗi của chính tổng thống.  

Nhưng chúng ta đã biết chắc: khi các drones bắt đầu ám sát các “mẫu mực ứng xử” ở Yemen và bất cứ ở đâu khác, chúng ta sẽ không thấy một loạt các văn bản ghi nhớ dày 50 trang được soạn thảo để biện minh các quyết định liên hệ. Lý do: khi bạn đã tiến hành theo một lối mòn, khi các hành động của bạn đã trở thành phương cách thông thường trong thế giới của bạn, nhu cầu biện minh các hành động của bạn (với chính bạn, nếu không với một ai khác) sẽ ngày một tiệm giảm.

Lối mòn đó đã trở thành một đường lộ, một ngày nào đó có thể trở thành một xa lộ hay autobahn. Trong trường hợp nầy, lấy quyết định sẽ ngày một dễ dàng hơn đối với một tổng-thống-đế-vương trong khi xã hội Mỹ ngày một xa rời các cuộc chiến đang diễn tiến và những cuộc hành quân các loại nhân danh các cuộc chiến nầy.

Với lối hành xử quyền ám sát theo sắc lệnh — một văn kiện hành chánh thông thường, dù Obama đắc cử nhiệm kỳ hai hay Mitt Romney bước vào Tòa Bạch Ốc, tầm với của một tổng thống tổng-tư-lệnh-liên-quân và các cuộc hành quân che đậy, bí mật đến độ các cuộc hành quân tương tự không thể được xác nhận ngay cả  trước các tòa án hợp pháp, và công khai đến độ có thể đem ra khoa trương, chỉ có thể ngày một gia tăng.

Đây là một sự kiện hay một thực tế nguy hiểm, đặt người Mỹ trong tầm tay của một Obama huyền bí. Bên trong Hoa Kỳ, đối với những vấn đề quan trọng với quần chúng, Obama là một thổng thống đang bị trói tay, bị kiềm tỏa và đối trọng gay gắt. Ngay từ ngày ban hành luật bảo hiểm y tế, dù đang gặp nhiều tranh cãi, Obama, theo một nghĩa nào đó, cũng đã bị trói tay, hầu như chẳng còn khả năng thực hiện bất cứ điều gì trong nghị trình đối nội. Ngay cả khi cố gắng hành xử các quyền hạn đơn phương được dành cho các tổng thống ngày một nhiều, những gì Obama có thể tự làm đã tỏ ra quá giới hạn, một loạt những cử chỉ nhỏ nhoi trong các vấn đề to lớn nhất. Và nếu Mitt Romney đắc cử, trước thực tế Quốc Hội hiện nay, điều nầy có lẽ cũng chẳng đem lại nhiều thay đổi trong bốn năm tới.

Một mặt khác, quyền hạn của tổng-thống-tổng-tư-lệnh-liên-quân chưa bao giờ lớn lao bằng. Nếu Obama là tổng thống chẳng thể làm được gì quan trọng trên mặt trận chính sách đối nội, ngoại trừ khả năng gây quỹ cho nhiệm kỳ hai, tổng thống hiện đang có những thứ quyền trước đây chỉ thuộc thượng đế khi nói đến khả năng tuyên chiến ở hải ngoại. Trên mặt trận nầy, Obama là người có thể lấy mọi quyết định sinh tử.

Đối nội, Obama chỉ là một tổng thống yếu đuối trong khi trong chiến tranh, Obama luôn là một tổng-thống-đế-vương — một từ hầu như đã hoàn toàn biến mất kể từ thập kỷ 1970.

Những nghịch lý  hay mâu thuẩn nói trên đòi hỏi phải được giải quyết và đó cũng là điều đáng lo ngại đối với mọi công dân Hoa Kỳ.

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

31-8-2012

 


[1] …imperial presidents…

[2] …Greater Middle East…

[3] Everyone wants to go to Baghdad. Real men want to go to Tehran.

[4] …unitary executive…

[5] …it’s been difficult for Americans to grasp the “imperial” part of the Obama presidency.

[6] …take the gloves off…

[7] …national security…

[8] …Global War on Terror…

[9] …black sites…

[10] …”covert” military operations…

[11] …”illegal surveillance”…

[12] …micro-managing…

[13] …a newly formed Defense Clandestine Service at the Pentagon…

[14] …In Yemen, as previously in the Pakistani borderlands, the president has just given the CIA and the U.S. Joint Operations Command the authority to launch drone strikes not just against identified “high-value” al-Qaeda “targets,” but against “general patterns of suspicious behavior.”

[15] …some set of internalized checks and balances…

Advertisements