CIA TRÊN CHÍNH TRƯỜNG QUỐC TẾ: TÁC ĐỘNG VÀ TRÁCH NHIỆM

Steve Coll kết thúc tác phẩm quan trọng của ông về Afghanistan, trích dẫn lời ta thán của Tổng Thống Hamid Karzai: “Một xứ quá thiếu may mắn.”[1] Người Mỹ rất có thể đã xem đó  như lý do thuận  lợi để làm ngơ trước những gì chính quyền Hoa Kỳ đã làm ở Afghanistan từ 1979 cho đến nay. Dù sao, “may mắn hay thiếu may mắn” chẳng liên quan gì đến trách nhiệm của người Mỹ. Các hành động tàn nhẫn, bất lực, bí mật của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ[2], thường bị các cơ quan tình báo quân sự Pakistan và Saudi Arabia lợi dụng, đã gây nhiều đau thương, tai họa cho xứ nghèo khổ nầy. Thực vậy, căn cứ trên các bằng chứng trong tác phẩm Ghost Wars” — Các Cuộc Chiến Ma Quái —  của Coll, cả người Mỹ lẫn nạn nhân của họ trong nhiều xứ Hồi Giáo và Thế Giới Thứ Ba sẽ không bao giờ biết hòa bình là gì, chừng nào Cơ Quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ chưa bị xóa sổ.  Tuy vậy, hiện nay, sự thật chắc cũng đã được mọi người ghi nhận: cuộc xâm lăng Afghanistan của Xô Viết vào đêm trước Giáng Sinh 1979 đã do chính Hoa Kỳ cố tình kích động.

Trong hồi ký xuất bản năm 1996, nguyên giám đốc CIA, Robert Gates, đã xác nhận cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã bắt đầu hỗ trợ các du kích quân Hồi giáo không phải sau khi Xô Viết xâm lăng, mà sáu tháng trước đó. Trong một cuộc phỏng vấn hai năm sau dành cho báo Le Nouvel Observateur, cố vấn an ninh quốc gia, Zbigniew Brzezinski, của T T Carter, đã hãnh diện xác nhận lời quả quyết của Gates: “Theo dạng lịch sử chính thức, viện trợ của CIA cho phe Hồi giáo chính thống [cực đoan] đã bắt đầu trong năm 1980, có nghĩa, sau khi quân Xô Viết đã xâm lăng Afghanistan. Nhưng sự thật, được giữ bí mật cho đến nay, lại hoàn toàn khác: vào ngày 3-7-1979,  T T Carter đã ký chỉ thị đầu tiên bí mật viện trợ cho phe đối nghịch với chế độ thân Xô Viết ở Kabul. Và trong cùng ngày, tôi đã viết một tờ trình gửi tổng thống trong đó tôi đã giải thích, theo ý tôi, quyết định viện trợ nầy có thể dẫn đến một can thiệp quân sự của Xô Viết.”[3]

Được hỏi liệu một cách nào đó ông đã hối tiếc những việc làm của mình, Brzezinski đã trả lời: “Hối tiếc điều gì? Hành động bí mật đó là một ý tưởng tuyệt vời. Nó đã thu hút người Nga vào bẩy sập Afghanistan và bạn muốn tôi hối tiếc? Vào đúng ngày người Xô Viết chính thức vượt qua biên giới, tôi đã viết cho T T Carter, cốt yếu để nói: “Chúng ta giờ đây đang có cơ hội cho USSR bài học Việt Nam của chính họ.”[4]

Báo Nouvel Observateur: “Và ngài cũng không hối tiếc đã hổ trợ phe Hồi giáo chính thống, phe sau đó đã cung cấp vũ khí và cố vấn cho các thành phần khủng bố tương lai?”[5]

Brzezinski: “Điều gì quan trọng hơn trong lịch sử thế giới? Phe Taliban hay sự sụp đổ của đế quốc Xô Viết? Một vài tên Hồi Giáo bị kích động hay sự kiện giải phóng Trung Âu và kết thúc Chiến Tranh Lạnh?”[6]

Mặc dù hiện tượng tan rã của Liên Bang Xô Viết là do Mikhail Gorbachev nhiều hơn là phe Taliban Afghanistan, Brzezinski chắc chắn cũng đã giúp đem lại sự ra đời của phe “Agitated Muslims,” và từ đó, hậu quả rất rõ ràng của nó.

Carter, Brzezinski và những người kế nhiệm trong chính quyền Reagan và Bush, kể cả Gates, Dick Cheney, Donald Rumsfeld, Condoleezza Rice, Paul Wolfowitz, Richard Armitage, và Colin Powell, tất cả đều phải ít nhiều chịu trách nhiệm về 1,8 triệu người Afghanistan tử vong, 2,6 triệu người tỵ nạn, và 10 triệu bom mìn chưa nổ,  tiếp theo sau quyết định của họ. Họ cũng phải chịu trách nhiệm đối với biến cố ngược chiều gây tang tóc đổ nát ở New York, Pennsylvania, và Hoa Thịnh Đốn,  ngày 11-9-2001.  Xét cho cùng, al-Qaeda là tổ chức do chính họ đã chung tay tạo dựng và trang bị vũ khí.

TÁC ĐỘNG NGƯỢC CHIỀU TỪ AFGHANISTAN

Từ “blowback,” tác động ngược chiều hay phản tác dụng lần đầu tiên xuất hiện trong phúc trình tiếp theo sau quyết định bí mật lật đổ chính quyền Iran năm 1953 của CIA, thực hiện vì quyền lợi của đại công ty British Petroleum. Năm 2000, James Risen, báo New York Times, đã giải thích: “Khi Cơ Quan Tình Báo Trung Ương giúp lật  đổ Muhammad Mossadegh, thủ tướng của Iran, năm 1953, đem lại 25 năm ngự trị của Quốc Vương Shah Muhammad Reza Pahlavi, CIA cũng đã hình dung được nổ lực đầu tiên lật đổ chính quyền một nước ngoài không thể là lần cuối. CIA, lúc đó mới vừa 6 tuổi và đang quyết tâm giành thắng lợi trong Chiến Tranh Lạnh, đã xem hành động che đậy của mình ở Iran như một mô hình đảo chánh cho nhiều nơi khác trên thế giới, và vì vậy, đã cho phép soạn thảo một lịch sử bí mật với chi tiết dành cho các thế hệ CIA tương lai, mô tả cuộc đảo chánh đã được thực hiện như thế nào… Trong số những tiếng lóng đôi khi gây hiếu kỳ của giới điệp viên — ‘căn cứ an toàn’, ‘tích sản’ v.v…, CIA cũng cảnh cáo các ‘tác động ngược chiều’ khả dĩ. Từ đó,  từ lóng nầy đã được đưa vào sử dụng như một tốc ký ám chỉ những hậu quả ngoài ý muốn của các tác vụ bí mật.”[7]

“Tác động ngược chiều” không chỉ hàm ngụ các phản ứng bất thuận lợi đối với các biến cố lịch sử, mà đặc biệt hơn, còn muốn hàm ngụ những tác vụ do chính quyền thực hiện được giữ bí mật đối với công chúng Mỹ và hầu hết các dân biểu và nghị sĩ Quốc Hội . Điều nầy có nghĩa khi thường dân trở thành nạn nhân của các cuộc tấn công trả đũa, thoạt tiên họ không thể hiểu bối cảnh hay không thể hiểu chuổi sự kiện đã dẫn đến biến cố. Mặc dù quần chúng Mỹ có thể không biết những gì đã được làm nhân dạnh họ, những dân tộc nạn nhân chắc hẳn phải biết. Đó là nhân dân những xứ như Iran (1953), Guatamala (1954), Cuba (1959 cho đến nay), Congo (1960), Brazil (1964), Indonesia (1965), Việt Nam (1961-75), Ai Lao (1961-75), Cambodia (1969-75), Hy Lạp (1967-73), Chile (1973), Afghanistan (1979 cho đến nay), El Salvador, Guatamala và Nicaragua(1980s), và Iraq (1991-2011). Vì vậy,  chẳng có gì đáng ngạc nhiên, đôi khi các xứ nạn nhân vừa kể đã tìm cách trả thù.

Thực vậy, thực tế đã chứng tỏ có một liên hệ trực tiếp giữa các cuộc tấn công 11-9-2001 — một tác động ngoài ý muốn có ý nghĩa nhất trong lịch sử CIA — và những biến cố 1979.

Trong năm 1979, dân Iran đã xuống đường làm cách mạng, đuổi Shah Muhammad Reza Pahlavi và người Mỹ ra khỏi Iran. Và CIA, do chỉ thị của tổng thống, đã bắt đầu các tác vụ thầm lặng lớn nhất của mình: bí mật vũ trang và giúp các chiến binh tự do Afghanistan phát động cuộc chiến ủy nhiệm chống lại Liên Bang Xô Viết, như tuyển mộ và huấn luyện các chiến binh từ các xứ Hồi giáo trên thế giới.

Tác phẩm của Steve Coll là một nghiên cứu cổ điển về tác động ngoài ý muốn và một tái tạo lịch sử cuộc chiến ủy nhiệm trung thực và đầy đủ hơn cả Phúc Trình Cuối Cùng của Hội Đồng Quốc Gia về các cuộc Tấn Công Khủng Bố ở Hoa Kỳ (“Phúc Trình 9/11” của Hội Đồng, xuất bản bởi Norton trong tháng 7).

Từ 1989 đến 1992,  Coll là trưởng văn phòng Nam Á của báo Washington Post, có trụ sở ở New Delhi. Với tính đa nghi và bí mật thường gây phản tác dụng của CIA, điều làm cho tác phẩm của Coll đặc biệt hấp dẫn là bằng cách nào Coll đã biết được những gì y tự nhận biết rõ. Coll đã đọc mọi thứ liên quan đến phong trào chống đối ở Afghanistan và những cuộc nội chiến sau đó, và đã được phép tiếp cận bản văn hồi ký của Robert Gates (giám đốc CIA 1991-93), nhưng nguồn tin chính của Coll là khoảng 200 cuộc phỏng vấn, thực hiện trong khoảng thời gian giữa mùa thu 2001 và mùa hè 2003,  nhiều quan chức CIA cũng như chính trị gia, sĩ quan quân đội, và các điệp viên từ nhiều quốc gia liên hệ, ngoại trừ Nga. Coll chỉ nêu tên một số quan chức CIA nếu tên họ đã được phổ biến trước đó. Nhiều cuộc phỏng vấn quan trọng của Coll đã được chính thức ghi chép và cũng đã được Coll sử dụng khá nhiều.

Trong số những nhân vật quan trọng đồng ý trả lời phỏng vấn, có thể kể: (1) Benazir Bhutto, người đã thẳng thắn cho biết đã không tiết lộ với các quan chức Hoa Kỳ trong hai năm liền về sự kiện Pakistan đã viện trợ cho phe Taliban; (2) Anthony Lake, cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ 1993-97,cho biết giám đốc CIA James Woolsey “rất kiêu ngạo, ngoan cố, và nóng tính.”[8]Woolsey không được Clinton ưa thích đến độ khi một phi công cảm tử lái phi cơ Cessna lao xuống sân cỏ phía sau Tòa Bạch Ốc năm 2004, giới trào phúng đã đùa cợt: giám đốc CIA rất có thể đã tìm cách xin một cái hẹn với Tổng Thống.

Trong số các quan chức CIA đã trả lời phỏng vấn của Coll, có thể kể: Gates; Howard Hart, trưởng văn phòng Islamabad – năm 1981; Clair George, nguyên trưởng phòng các tác vụ bí mật; William Piekney, trưởng văn phòng Islamabad -1984-86; Cofer Black, trưởng văn phòng Khartoum vào giữa thập kỷ 1990 và giám đốc Trung Tâm Chống Khủng Bố – 1999-2002; Fred Hitz, nguyên Tổng Thanh Tra CIA; Thomas Twetten, Phó Giám Đốc Nghiệp Vụ, 1991-93; Milton Bearden, trưởng văn phòng Islamabad, 1986-89; Duane R. Clarridge, trưởng Trung Tâm Chống Khủng Bố, 1986-88; Vincent Cannistraro, một quan chức ở Trung Tâm Chống Khủng Bố  ít lâu sau khi mở cửa hoạt động năm 1986; và một quan chức Coll chỉ liệt kê như “Mike,” trưởng “Đơn Vị bin Laden” bên trong Trung Tâm Chống Khủng Bố – 1997-99, người về sau đã được tiết lộ dưới tên Michael F. Scheuer, một tác giả ẩn danh cuốn “Kiêu Căng Đế Quốc: Tại Sao Tây Phương Đang Thất Bại Trong Cuộc Chiến Chống Khủng Bố.”

Năm 1973, Tướng Dardar Mohammed Daoud, anh em họ và anh em rể của Quốc Vương Zahir Shah, lật đổ quốc vương, tuyên bố Afghanistan là một Cộng Hòa, và thiết kế một chương trình canh tân. Zahir Shah sau đó  đã qua sống lưu vong ở Rome.

Những biến cố nầy đã đưa đến sự ra đời của Đảng Dân Chủ Nhân Dân Afghanistan vào đầu năm 1978 — đảng Cộng Sản thân Xô Viết, và với sự giúp đỡ tích cực của USSR, đã lật đổ Tổng Thống Daoud. Các chính sách thế tục hóa của Đảng Cộng Sản lại khởi động một phản ứng bạo động từ các phần tử Hồi Giáo cực đoan. Cuộc dấy loạn chống Cộng khởi đầu ở Herat, miền Tây Afghanistan, trong tháng 3-1979, đã đưa đến sáng kiến của chính quyền dạy cho phụ nữ đọc và viết. Và một số người Afghanistan cực đoan chống đối sáng kiến nầy của chính quyền thân Cộng lại được bộ ba Hoa Kỳ, Pakistan, và Saudi Arabia, do nhiều động lực khác nhau, hậu thuẩn. Tuy vậy,  Hoa Kỳ đã không nghiêm chỉnh quan tâm các dị biệt vừa kể cho đến khi quá muộn.

Vào cuối thập kỷ 1990, người Mỹ đã thức tỉnh, và phe Taliban Hồi Giáo cực đoan cũng đã thiết lập chính quyền ở Kabul. Được Pakistan, Saudi Arabia, và United Arab Emirates công nhận, chính quyền Taliban đã thoả thuận dành quyền tự do hành động cho Osama bin Laden và bảo vệ bin Laden trước nổ lực của người Mỹ tìm cách bắt giữ hoặc ám sát.

Coll kết luận: “Chính quyền Afghanistan — một liên hiệp giữa tổ chức Massoud  [lãnh tụ các bộ lạc Miền Bắc], với giới trí thức lưu vong, và các hoàng thân Pashtun  — về sau đã được Hoa Kỳ lựa chọn để bắt đầu hậu thuẩn từ cuối mùa thu năm 2001, thực sự đã sẵn sàng nhận sự bảo trợ một thập kỷ trước đó, vào thời điểm  Hoa Kỳ đã không thấy có lý do để thách thức một giải pháp, đã được giới tình báo Pakistan và Saudi Arabia với viễn kiến Hồi Giáo cực đoan cổ súy … Thái độ hờ hững, mỏi mệt, mù quáng, tê liệt và lòng tham, quyền lợi thương mãi luôn định hình chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở Afghanistan và Nam Á trong suốt thập kỷ 1990.”[9]

VIỆN TRỢ TÀI CHÁNH CHO PHE CHÍNH THỐNG

Những động lực của Tòa Bạch Ốc và CIA đã được định hình bởi Chiến Tranh Lạnh: quyết tâm giết càng nhiều lính Xô Viết càng tốt và ước muốn phục hồi vẻ hùng tráng thô bạo cũng như  khả tín các lãnh đạo Hoa Kỳ tin họ đã đánh mất khi quốc vương Iran bị lật đổ. CIA đã không có một chiến lược nghiêm túc nào cho cuộc chiến họ phát động ở Afghanistan.

Howard Hart, đại diện CIA ở thủ đô Pakistan, đã cho Coll biết, ông ta đã hiểu mệnh lệnh nhận được như sau: “Bạn là một thanh niên; đây là túi tiền dành cho bạn, cầm lấy và làm mọi điều có thể. Đừng làm hỏng chuyện, chỉ cần giết tụi Xô Viết.”[10] Những mệnh lệnh như thế đã đến từ một người Mỹ hết sức đặc biệt: William Casey, giám đốc CIA từ 1-1981 đến 1-1987, một hiệp sĩ thành Malta dòng Jesuits. Các bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh treo đầy tòa lâu đài  của ông, được gọi “Maryknoll” ở Long Island. Casey đi lễ nhà thờ mỗi ngày và khuyên mọi người thân cận theo đạo cơ đốc. Một khi nhận chức giám đốc CIA dưới thời Reagan, ông ta bắt đầu phân phối quỹ tài trợ các tác vụ mật qua Giáo Hội Cơ Đốc đến mọi xứ đạo ở Ba Lan và Trung Mỹ, nhằm giúp các con chiên chống Cộng, đôi khi vi phạm ngay cả luật pháp Hoa Kỳ. Casey tin một cách nhiệt thành, qua nổ lực giúp Giáo Hội Cơ Đốc nới rộng tầm với và quyền lực, ông ta có thể đắp bờ ngăn chặn sự lan tràn hay đảo ngược  làn sóng Cộng Sản.

Đức tin của Casey đã là nguồn cảm hứng giúp định hình các chính sách đối ngoại quan trọng nhất của Hoa Kỳ trong thập kỷ 1980 — hậu thuẩn cuộc thánh chiến quốc tế chống Xô Viết ở Afghanistan và đỡ đầu phong trào các nhà nước khủng bố ở Nicaragua, El Salvador, và Guatemala.

Casey không hề biết tí gì về Hồi Giáo chính thống và tình trạng phẫn nộ của các quốc gia trong vùng Trung Đông đối với chủ nghĩa đế quốc của Tây phương. Ông ta đinh ninh chính trị Hồi giáo và chính trị Cơ Đốc luôn là đồng minh tự nhiên trong các hành động che đậy của chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa đế quốc của Xô Viết. Casey tin USSR đang tìm cách tấn công Hoa Kỳ ở Trung Mỹ và trong các xứ giàu năng lượng ở Trung Đông. Ông hậu thuẩn Hồi giáo như một chiến lược chống lại chủ nghĩa vô thần của Liên Bang Xô Viết. Và Coll còn gợi ý đôi khi Casey còn lẫn lộn các tổ chức cơ đốc thế tục như Opus Dei với Muslim Brotherhood, một tổ chức Ai Cập cực đoan với một thành viên nhiệt thành là Ayman al-Zawahiri, phụ tá của Osama bin Laden. Một chi nhánh của Muslim Brotherhood ở Pakistan, Jamaat-e-Islami, đãđược quân đội Pakistan hậu thuẩn, và Coll viết, Casey, hơn bất cứ người Mỹ nào khác, đã tạo ra quan hệ đồng minh giữa CIA, tình báo Saudi, và quân đội của tướng Mohammed Zia-ul-Haq, nhà độc tài quân sự Pakistan từ 1977 đến 1988. Do sự gợi ý của tổ chức Tình Báo Liên Ngành Pakistan ISI,[11] Casey còn đi xa hơn: cho in hàng nghìn kinh Koran, vận chuyển đến biên giới Afghanistan, phân phối bên trong Afghanistan và Uzbekistan Xô Viết. Casey cũng đã thúc đẩy, ngay cả khi không có quyết định cho phép của tổng thống, các cuộc tấn công của Hồi giáo bên trong USSR, và luôn lên án các quan chức mật vụ CIA quá hèn nhát. Ông ưa thích những nhân vật như Oliver North, bạn của ông.

Qua thời gian, lập trường của Casey đã được đúc kết thành giáo điều của CIA, và các nhân viên dưới quyền, được bảo vệ bởi lý do bảo mật, không phải âu lo sự dốt nát bị phơi bày, đã thực thi bằng mọi cách có thể. CIA quyết tâm từ chối giúp lựa chọn người thắng kẻ thua trong hàng ngũ các lãnh đạo du kích Hồi giáo  Afghanistan. Kết quả, theo Coll, “nghị trình chính trị và tôn giáo của Zia-ul-Haq ở Afghanistan dần dà đã trở thành nghị trình của chính CIA.”[12]

Trong kỷ nguyên hậu Casey, vài học giả, nhà báo, và thành viên Quốc Hội đã đặt thành vấn đề sự hậu thuẩn lãng phí CIA dành cho tướng Hồi giáo được Pakistan yểm trợ Gulduddin Hekmatya, nhất là sau khi Hekmatya từ chối bắt tay với T T Ronald Reagan, lấy lý do Reagan là người ngoại đạo [Hồi giáo]. Nhưng Milton Bearden, trưởng phái bộ CIA ở Islamabad từ 1986 đến 1989, và Frank Anderson, trưởng lực lượng đặc nhiệm ở Langley, đã hùng hồn bảo vệ Hekmatya với lý do “vị tướng nầy đã chỉ huy những chiến binh chống Xô Viết hữu hiệu nhất.”[13]

Ngay cả sau khi Liên Bang Xô Viết đã rút khỏi Afghanistan trong năm 1988, CIA vẫn tiếp tục đi theo các sáng kiến của Pakistan, như trợ lực cho người kế nhiệm Hekmatya, Mullah Omar, lãnh tụ của Taliban. Khi Edmund McWilliams, đặc phái viên của Bộ Ngoại Giao bên cạnh phong trào kháng chiến Afghanistan trong các năm 1988-89,  viết, “nhà cầm quyền Mỹ và hàng tỉ mỹ kim của dân chịu thuế đã bị cướp cạn vào cuối cuộc chiến bởi phe Hồi giáo và quan chức tình báo Pakistan chống đối Hoa Kỳ, và quyết chí áp đặt ý muốn của họ lên Afghanistan,”[14] các quan chức CIA đã tố cáo McWilliams và tung tin trong tòa đại sứ là ông ta có thể là người đồng tính luyến ái hay ghiền rượu. Trong lúc đó, Afghanistan đã rơi vào một trong những cuộc nội chiến ghê rợn nhất trong thế kỷ 20. CIA chưa bao giờ sửa sai quan điểm chính trị ngây ngô và sai lầm của mình về chính trị Afghanistan mãi cho đến sau ngày bin Laden cho nổ bom các tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Naibori và Dar es Salaam vào ngày 7-8-1998.

BẠN KHI THUẬN BUỒM XUÔI GIÓ

Một thỏa ước giữa Hoa Kỳ và Pakistan chưa bao giờ hoàn toàn tự nhiên hay cơ sở trên các quyền lợi hổ tương. Chỉ hai tuần lễ sau ngày sinh viên chiếm đóng Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Tehran vào ngày 5-11-1979, một nhóm Hồi giáo cực đoan đã phóng hỏa Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Islamabad trong khi quân đội của Zia chỉ khoanh tay đứng nhìn. Tuy vậy, Hoa Kỳ vẫn muốn làm ngơ trước mọi việc nhà độc tài Pakistan đã làm, với mục đích duy trì ông trong cương vị thánh chiến chống Xô Viết. Sau ngày xâm lăng của Xô Viết, Brzezinski đã viết cho T T Carter: “Điều nầy sẽ đòi hỏi chúng ta xét lại chính sách đối với Pakistan, cam kết nhiều hơn với Pakistan, viện trợ vũ khí nhiều hơn, và, tệ hơn nữa, một quyết định chính sách an ninh của chúng ta đối với Pakistan cũng không thể bị chi phối bởi chính sách cấm phổ biến nguyên tử của chính chúng ta.”[15] Lịch sử sẽ phán đoán sự khôn ngoan của Brzezinski khi quyết định bật đèn xanh cho chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của Pakistan để đổi lấy sự hổ trợ  phong trào chống Xô Viết.

Những động lực của Pakistan đối với Afghanistan khác xa các động lực của Hoa Kỳ. Zia là một tín đồ Hồi giáo nhiệt thành và là một người ủng hộ hăng say các nhóm Hồi giáo ở Pakistan, ở Afghanistan, và trên khắp thế giới. Tuy vậy, Zia không phải là người cuồng tín và có nhiều lý do khá thực tiễn để hậu thuẩn các thành phần Hồi giáo cực đoan ở Afghanistan. Ông ta có lẽ đã không được lựa chọn trong các cuộc “điều tra [căn cứ trên] kiểu râu”[16] các sĩ quan trong quân đội Pakistan hàng năm của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, những cuộc điều tra ghi nhận số sĩ quan được đào tạo và các tướng lãnh đang tại chức đã giữ những kiểu râu đúng theo truyền thống Hồi giáo,  như một thước đo trình độ cực đoan tiệm tăng hay tiệm giảm — Zia chỉ giữ râu mép.

Từ đầu, Zia đã đòi hỏi tất cả các vũ khí và viện trợ bất cứ từ nguồn cung cấp nào đều phải đi qua ISI. CIA đã hồ hởi đồng ý. Điều Zia âu lo hơn hết là Pakistan có thể bị kẹt giữa hai gọng kềm: một Afghanistan do Xô Viết khống chế và một Ấn Độ thù địch. Ông ta cũng phải dè chừng phong trào Pashtun độc lập, nếu thành công, có thể làm tan rã Pakistan. Nói một cách khác, Zia hậu thuẩn các chiến binh Hồi giáo ở Afghanistan và Pakistan trên căn bản tôn giáo, nhưng cũng sẵn sàng sử dụng họ trong chiến lược. Hành động như vậy, Zia đã xây nền móng cho phong trào chống Ấn Độ ở Kashmir trong thập kỷ 1990.

Zia đã tử nạn một cách bí ẩn trong tai nạn phi cơ ngày 17-8-1988, bốn tháng sau ngày ký kết Thỏa Ước Geneva  14-4-1988,  phê chuẩn các điều kiện chính thức của quá trình triệt thoái quân đội Xô Viết. Trong khi quân Xô Viết ra đi, Hekmatya đã bắt đầu kế hoạch thầm kín nhằm loại trừ các nhân vật cạnh tranh và thiết lập đảng Hồi giáo của chính ông, do tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo khống chế, như lực lượng quốc gia hùng mạnh nhất Afghanistan. Hoa Kỳ rất ít quan tâm, nhưng vẫn tiếp tục ủng hộ Pakistan.

Với sự sụp đổ của Bức Tường Bá Linh năm 1989 và sự tan rã của Liên Bang Xô Viết năm 1991, Hoa Kỳ hầu như không còn quan tâm gì đến Afghanistan. Hekmatyar không bao giờ tốt như CIA tin, và với sự sáng lập Taliban năm 1994, cả Pakistan lẫn Saudi Arabia đều đã chuyển dịch hậu thuẩn thầm kín của mình. Phe thánh chiến mới đã chứng tỏ là phe hiệu lực nhất trên bình diện quân sự trong cuộc chiến. Ngày 26-9-1996, phe Taliban chiếm đóng Kabul. Ngay ngày hôm sau, Taliban giết T T Najibullah trước đó được USSR hậu thuẩn, trục xuất 8.000 nữ sinh viên khỏi Đại Học Kabul, và cho nghỉ việc một số nữ giáo viên tương đương. Khi phe thánh chiến bao vây dinh tổng thống, Najibullah đã tuyên bố với ký giả: “Nếu phe chính thống chiếm Afghanistan, chiến tranh sẽ tiếp tục trong nhiều năm. Afghanistan sẽ trở thành một trung tâm buôn lậu nha phiến của thế giới. Afghanistan cũng sẽ trở thành một trung tâm khủng bố.”[17]Lời bình luận của Najibullah đã tỏ ra quá chính xác.

Các sĩ quan tình báo quân sự Pakistan căm ghét Benazir Bhutto, người được bầu chọn kế nhiệm Zia, nhưng bà, cũng như tất cả các quốc trưởng hậu-Zia, kể cả Tướng Pervez Musharraf, đều hậu thuẩn Taliban theo đuổi “giấc mơ” của Zia — một chính quyền Hồi giáo do phe Pashtun lãnh đạo ở Kabul. Coll giải thích:

“Mọi tướng lãnh Pakistan, tự do hay tôn giáo, vào năm 1999,  đều tin tưởng  phe Hồi Giáo chính thống, trong hầu hết các trường hợp, không phải do đức tin Hồi Giáo, nhưng vì các thành phần thánh chiến đã chứng tỏ qua nhiều năm tháng như một lực lượng có thể đe dọa, gây bối rối, và làm tê liệt quân đội Ấn Độ bị Ấn Độ giáo khống chế. Khoảng 12 sư đoàn Ấn Độ đã bị buộc chân ở Kashmir vào cuối thập kỷ 1990 để dẹp một vài nghìn du kích quân Hồi giáo được huấn luyện thành thục, đang tìm kiếm thiên đường. Pakistan còn có thể đòi hỏi gì hơn? Các du kích quân thánh chiến là một phòng vệ thực tế hàng ngày chống lại quyền bá chủ của Ấn Độ hơn là một bom nguyên tử. Về phía Tây, ở Afghanistan, phe Taliban đã cung cấp một bề dày chiến lược địa-chính-trị chống lại Ấn Độ và bảo vệ trước sự nổi loạn của sắc dân Pashtun ngang bướng của chính Pakistan. Đối với Musharraf, cũng như đối với nhiều tướng lãnh Pakistan tự do khác, thánh chiến không phải là một tiếng gọi tôn giáo, mà là một nhu cầu nghề nghiệp. Đó là công việc ở sở làm. Khi phải ra  đi, ông ta chỉ cần thu dọn hành trang, chỉnh trang quân phục, và trở về với đời sống bình thường.”[18]

Nếu hiểu rõ ít nhiều điều nầy, CIA cũng không bao giờ nói rõ với cấp trên ở Hoa Thịnh Đốn, và Charlie Wilson, một chuyên gia vận động hành lang đắt giá của Pakistan và nguyên dân biểu đại diện khu vực  Đông Texas, sẽ làm bất cứ điều gì ngoại trừ cho Quốc Hội biết những gì đang thực sự diễn tiến. Trong thập kỷ 1980, Wilson đã sử dụng quyền lực của mình trong Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện để cung cấp các vũ khí tối tân CIA có thể cần ở Afghanistan. Coll ghi nhận Wilson đã “nhìn thánh chiến qua lăng kính lãng mạn của mình, như những tên quý phái tàn bạo đang tranh đấu vì tự do không khác các gương mặt trong thánh kinh.”[19] Hollywood cũng đã làm phim, dựa trên cuốn “Charlie Wilson’s War” bởi tác giả George Crile, vinh danh vị dân biểu, người đã dùng các cuộc viếng thăm tiền tuyến một phần để gây ấn tượng với các bạn gái về uy quyền của mình. Tom Hank được biết đã thũ diễn vai Wilson trong phim.

BIN LADEN VÀ NGƯỜI SAUDI

Động lực của người Saudi Arabia lại khác với động lực của Hoa Kỳ và Pakistan. Xét cho cùng, Saudi Arabia là nhà nước quốc gia hiện đại duy nhất được tạo lập bởi thánh chiến. Hoàng tộc Saudi , lên cầm quyền như  lãnh đạo phong trào các tín đồ chính thống Wahhabi, chấp nhận tính cực đoan Hồi giáo với mục đích kiểm soát phong trào, ít ra trong quốc nội. Coll viết, giới trung lưu, người Saudi, sùng đạo và giàu có nhờ dầu lửa, đã vồ vập đại nghĩa Afghanistan tương tự như người Mỹ đi nhà thờ có thể đáp ứng cứu trợ nạn đói ở Phi châu hay nạn nhân động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ. Tiền bạc từ vương quốc gửi đến biên giới Afghanistan dưới nhiều hình thức và kích cỡ: vàng bạc nữ trang do phu nhân các nhà buôn dâng hiến trong các đền thờ Jedda; các túi tiền mặt các doanh thương gửi đến các cơ quan thiện nguyện ở Riyadh;  các chi phiếu các hoàng tử Saudi rút từ các trương mục bán chính thức của chính quyền. Quan trọng hơn hết là những khoản chuyển ngân hàng năm từ Bộ Tổng Tình Báo, hay Istakhbarat, đến các trương mục ngân hàng Thụy Sĩ của CIA.

Kể từ khi tiền bạc và khí giới của CIA bắt đầu được rót vào giúp phe thánh chiến vào cuối năm 1979, Saudi Arabia đã đóng góp trên căn bản,  CIA 1 USD –Saudi Arabia  1USD. Họ cũng không cần qua ISI và trực tiếp trao tiền cho các nhóm họ ưa thích ở Afghanistan, kể cả phe do Osama bin Laden lãnh đạo. Theo Milton Bearden,  riêng ngân khoản của các tư nhân Saudi và Á Rập, dành cho các đội quân Hồi giáo Afghanistan, cũng đã lên đến 25 triệu USD mỗi  tháng. Quan trọng không kém, Pakistan đã huấn luyện từ 16.000 đến 18.000 tân binh Hồi giáo mỗi năm trong vùng biên giới Afghanistan, và khoảng 6.500 do chính Afghanistan tuyển mộ và huấn luyện ngay trong nước, ngoài sự kiểm soát của ISI. Tất cả số tân binh trên đều lần lượt gia nhập đội quân riêng của bin Laden — khoảng 35.000 lính Afghanistan gốc Á Rập. Do tình trạng hỗn độn rối rắm từ phía Mỹ, các lãnh tụ ôn hòa Saudi, như Hoàng Tử Turki, cầm đầu cơ quan tình báo, ủng hộ lập trường của Saudi Arabia hậu thuẩn phe Hồi giáo chính thống chừng nào họ hoạt động bên trong Afghanistan thay vì bên trong Saudi Arabia. Tốt nghiệp từ một trường tư nổi tiếng ở New Jersey và đồng khóa 1964 với Bill Clinton ở Đại Học Georgetown, Turki thuộc cánh canh tân thân Tây phương của Hoàng Gia Saudi, và  trước đây đã từng giữ chức đại sứ Saudi ở Anh quốc và Ireland. Tuy nhiên, quá trình đó không có nghĩa Turki là thành phần thân Mỹ. Turki xem Saudi Arabia luôn cạnh tranh với nước láng giềng hùng cường Iran . Turki cần phái Hồi giáo Sunni có uy tín, thân Saudi, để cạnh tranh với các quốc gia khách hàng của Iran, nhất là Pakistan, Afghanistan, với đa số quần chúng thuộc phái Shia.

Hoàng thân Turki cũng rất bức xúc trước thái độ hờ hững, thiếu quan tâm đến Afghanistan của Hoa Kỳ sau khi va chạm với Xô Viết trong kỷ nguyên Chiến Tranh Lạnh. Ông ta hiểu Hoa Kỳ có thể làm ngơ trước sự kiện Saudi Arabia viện trợ cho phe Hồi Giáo chính thống chừng nào xứ ông còn giữ giá dầu trong vòng kiểm soát và hợp tác với Ngũ Giác Đài trong nổ lực xây dựng các căn cứ quân sự. Cũng giống như đa số các cấp lãnh đạo Saudi  khác, có lẽ Turki cũng đã đánh giá thấp đe dọa về lâu về dài của phe Hồi giáo cực đoan đối với hoàng gia Saudi. Nhưng như Coll đã nhận xét, “Hoàng thân Turki và các hoàng thân có khuynh hướng tự do khác cảm nhận có thể dễ trấn an phe Hồi giáo cạnh tranh  quốc nội, bằng cách cho phép họ truyền giáo và gây bất ổn ở các xứ ngoài hơn là đối đầu và giải quyết các căng thẳng ngay bên trong Saudi Arabia.”[20] Ở Riyadh, CIA hầu như không tìm cách tuyển dụng nhân viên hay thu lượm tin tình báo. Kết quả là Saudi Arabia liên tục tìm cách bành trướng các lực lượng thánh chiến ủy nhiệm ở Afghanistan và Kashmir, và Bộ Truyền Bá Đạo Đức và Ngăn Ngừa Tật Xấu, cảnh sát tôn giáo của vương quốc, đã hướng dẫn và hậu thuẩn lực lượng cảnh sát Hồi Giáo riêng của Taliban.

Vào cuối thập kỷ 1990, sau các cuộc nổ bom các tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Đông Phi, CIA và Hoa Thịnh Đốn đã thức tỉnh trước đe dọa Hồi Giáo, nhưng người Mỹ hầu như chỉ chú tâm vào lãnh tụ al-Qaeda Osama bin Laden và chẳng lưu ý gì đến toàn cảnh rộng lớn. Họ không quan tâm đến các mục tiêu Taliban, tình báo quân sự Pakistan, hay các nguồn tài chánh chảy vào Taliban và al-Qaeda từ Saudi Arabia và United Arab Emirates. Thay vào đó, họ chỉ chú tâm vào mục tiêu bắt giữ hay hạ sát bin Laden.

Ngày 23-2-1998, bin Laden đã mời phóng viên báo chí và truyền hình đến trang trại ở Khost, do CIA dành cho ông vào thời cao điểm của thánh chiến chống Xô Viết. Bin Laden đã loan báo sự ra đời của một tổ chức mới — Mặt Trận Hồi Giáo Quốc Tế vì Thánh Chiến Chống Người Do Thái và Thập Tự Chinh –– và đã công bố Bản Tuyên Ngôn nói rõ ” sát hại và chiến đấu chống người Mỹ và đồng minh, dù dân sự hay quân sự, là một nhiệm vụ đối với mọi người Hồi giáo có đủ khả năng làm được việc đó trong bất cứ xứ nào.”[21]

Ngày 7-8 -1998, bin Laden và các nhân vật cộng tác đã thể hiện Bản Tuyên Ngôn với các vụ nổ bom phá hoại các tòa Đại Sứ Mỹ ở Kenya và Tanzania. CIA đã nhận diện được khuôn viên gia đình bin Laden trong sa mạc gần Kandahar Airport, các tòa nhà với tên gọi Tarnak Farm. Rất có thể đã có nhiều phim ảnh  vệ tinh của riêng khuôn viên nầy hơn bất cứ địa điểm nào khác trên địa cầu; và một tấm ảnh nổi tiếng hình như cho thấy bin Laden đang đứng bên ngoài một trong những tòa nhà của gia đình bin Laden. Và CIA đã có kế hoạch bắt cóc bin Laden từ Tarnak Farm, đưa ra khỏi xứ, nhưng giám đốc CIA George Tenet đã hủy bỏ dự án vì có nguy cơ sát hại nhiều thường dân bàng quan. Nhiều nhân viên tình báo bên trong CIA đã tỏ ra rất bức xúc với quyết định của Tenet. Trong lúc đó, các lính thủy đánh bộ của Tòa Bạch Ốc đang hiện diện ở phía Bắc Biển Á Rập với đầy đủ bản đồ và tọa độ của Tarnak Farm sẵn sàng trong các hệ thống hướng dẫn tên lửa. Họ chỉ còn đợi CIA cung cấp bằng chứng vững chắc bin Laden đang hiện diện ở tọa độ có sẵn.

Sau những vụ nổ bom khủng bố ở Đông Phi Châu, Clinton đã ký Bản Ghi Nhớ Thông Tri cực mật — top secret Memorandum of Notification, cho phép CIA sử dụng vũ lực sát hại bin Laden. Ngày 20-8-1998, Tổng Thống Clinton đã ra lệnh phóng 75 tên lửa tầm xa, với phí tổn 750.000 USD mỗi tên lửa, đến trại Zawhar Kili Camp, khoảng 7 dặm phía Nam Khost, địa điểm một cuộc họp quan trọng của al-Qaeda. Cuộc tấn công đã gây tử thương cho 21 người Pakistan, nhưng bin Laden đã được báo trước, có lẽ bởi tình báo Saudi. Hai trong số các tên lửa đã nổ sớm bên trong lãnh thổ Pakistan, khiến Ialamabad đã tố cáo hành động của Hoa Kỳ. Cùng lúc, Hoa Kỳ đã phóng 13 tên lửa tầm xa đến một nhà máy hóa học ở Khartoum: CIA tiết lộ nhà máy một phần do bin Laden sở hữu và đang sản xuất “hơi độc thần kinh” — nerve gas. Họ biết rõ những tin đó đều không trung thực.

Ngày 17-8, Clinton đã công khai thú nhận có quan hệ tình dục với Monica Lewinsky, và nhiều nhà phê bình trên thế giới phỏng đoán cả hai cuộc tấn công chỉ là những biện pháp nhằm đánh lạc hướng dư luận.  Vì vậy, Clinton đã phải thận trọng hơn, và tổng thống và các cận thần đã bắt đầu đặt nhiều câu hỏi nghiêm chỉnh về chất lượng các tin do CIA cung cấp. Trong tháng 5-1999, Hoa Kỳ cũng đã bỏ bom  Đại Sứ Quán Trung Quốc ở Belgrade, được biết do tình báo sai lầm, càng khiến CIA mất thêm uy tín. Một năm sau, Tenet đã sa thải một quan chức tình báo, và khiển trách 6 quan chức quản lý, kể cả một quan chức cao cấp, vì đã làm hỏng kế hoạch.

Chính quyền Clinton còn có một nổ lực nhằm bin Laden khác. Trong mùa đông 1998-99, CIA quả quyết một số khá đông các quan chức vùng Vịnh Ba Tư đã bay đến sa mạc Afghanistan để săn bắn falcon (chim ưng), và bin laden cũng sẽ có mặt. CIA đã có sẵn một kế hoạch tấn công, nhưng đã bị dẹp bỏ khi Richard Clarke, phụ tá chống khủng bố của Clinton, đã khám phá xứ bảo trợ sự kiện nầy chính là United Arab Emirates.  Clarke là nhân vật chính trong tác vụ bán 80 phản lực cơ quân sự F-16 cho UAE, một xứ cung cấp dầu và hơi đốt thiết yếu cho Hoa Kỳ và đồng minh. Cuộc tấn công đã được kịp thời bải bỏ.

CIA:  ĐỘI QUÂN BÍ MẬT CỦA TỔNG THỐNG

Suốt trong thập kỷ 1990, chính quyền Clinton đã dành nhiều tài nguyên cho việc phát triển phi cơ drone tầm xa với tên gọi Predator, do một cựu thiết kế trưởng thuộc không lực Do Thái, người đã nhập cư vào Hoa Kỳ trước đó, sáng chế. Mũi phi cơ có gắn sẵn máy truyền hình kỹ thuật số Sony, tương tự với các trực thăng giám sát và tường thuật giao thông trên các xa lộ. Vào đầu thế kỷ 21, chuyên viên CIA cũng đã gắn thêm tên lửa chống chiến xa Hellfire và drone đã được thử nghiệm trên một ma-két Tarnak Farm trong sa mạc Nevada. Hệ thống khí giới mới nầy có thể giúp Predator hạ sát bin Laden nếu sự hiện diện của bin Laden được xác nhận. Không may cho CIA, trong một chuyến bay từ Uzbekistan đến không phậnTarnak Farm, Predator đã chụp được hình một xích đu bằng gỗ của trẻ con. Phải công bằng mà nói, Clinton đã kịp thời ngăn chặn sử dụng Hellfire, vì hầu như chắc chắn sẽ gây nhiều tử vong cho các nạn nhân bàng quan, và Tenet, đang âu lo bị chỉ trích trước viễn ảnh một thất bại khác, đã gợi ý: trách nhiệm đối với việc sử dụng Predator phải được chuyển qua cho không lực.

Khi vào Bạch Ốc, chính quyền Cộng Hòa mới của Bush không mấy quan tâm đến bin Laden và khủng bố, mặc dù cố vấn an ninh quốc gia, Sandy Berger, đã cảnh cáo người kế nhiệm — Condoleezza Rice: đây là vấn đề chính sách đối ngoại quan trọng nhất của T T George W. Bush. Ngày 6-8-2001, trong buổi tường trình tin hàng ngày thường lệ của CIA tại trang trại ở Crawford, Texas, với tiêu đề “Bin Laden quyết tâm tấn công Hoa Kỳ,” T T Bush hình như chẳng mấy quan tâm. Hơn một tháng sau, với cuộc tấn công 11/9, Osama bin Laden đã ghi được một thành công vang dội và có ý nghĩa nhất của hình thức chiến tranh bất cân xứng trong lịch sử quan hệ quốc tế.

Coll đã viết bài hùng hồn lên án sự thiển cận và bất lực của CIA, nhưng đã tỏ ra thiếu nhất quán. Coll đôi khi dễ  bị cuốn hút bởi dòng cảm xúc và hùng biện thân CIA, chẳng hạn, đã mô tả CIA như  “mạng lưới rộng lớn, hăng say, tự tin, nhạy cảm và triền miên báo động, tai mắt luôn quen với ngay cả các bằng chứng cô lập và đáng nghi ngờ nhất về các cuộc tấn công sắp tới, và nhân viên phân tích liên tục được khuyến khích chia sẻ thông tin càng rộng rãi càng tốt giữa những đồng môn đã được sàng lọc an ninh thích ứng.” [22]

Đây là điều vô nghĩa: các chức năng báo động sớm của CIA đã bị thay thế trước đó nhiều thập kỷ bởi các tác vụ bí mật.

Coll cũng đã xác nhận mọi tổng thống kể từ Truman, một khi khám phá ra đội quân hoàn toàn bí mật và độc lập về tài chánh thuộc quyền sử  dụng của riêng mình, đều cảm nhận nhu cầu bố trí và sử dụng đội quân riêng là điều khó cưỡng lại. Tuy vậy, các cuộc hành quân bí mật thường trở nên vướng víu trong các mạng lưới bí mật vô vọng, và luôn đưa đến các phản ứng ngược chiều. Richard Clarke lập luận “CIA đã sử dụng các quy luật bí mật không những để bảo vệ các điệp viên mà còn để tránh mọi dòm ngó xoi mói các hoạt động che đậy của mình từ bên ngoài.”[23]Và Peter Tomsen, nguyên đại sứ bên cạnh phong trào kháng chiến Afghanistan trong cuối thập kỷ 1980, cũng đã kết luận: “các chính sách thất bại của Hoa Kỳ ở Afghanistan một phần đã bắt nguồn từ phương thức hoạt động cô lập và bí mật tối đa giữa các phòng sở thuộc CIA.”[24]Bí mật thư lại và thái quá là nguồn cội sâu xa nhất của các thất bại của CIA.

Với vai trò rõ ràng của CIA trong chuổi biến cố dẫn đến tai họa 11-9-2001, điều người Mỹ cần hiện nay không phải một czar hay vua tình báo mới, mà quyết định chấm dứt bức màn bí mật che đậy hành động và lẫn tránh trách nhiệm của CIA. Cho đến nay, tiếp theo sau biến cố 11/9 và những báo động sai lầm về đe dọa từ Iraq, CIA đang tiếp tục bóp méo mọi nổ lực của chính sách đối ngoại hiến định một cách thô bạo. Mặc dù Coll không tự mình rút ra kết luận, Chalmers Johnson tin: CIA hiện nay đã không còn cần đến mọi biện minh thời Chiến Tranh Lạnh, vì vậy,  không còn lý do để tồn tại, và đơn thuần cần được bải bỏ.

Để tránh những tai họa như  Afghanistan,  Iraq,  Libya và Syria, cũng như nhiều nơi khác trên hành tinh hiện nay và mai sau…

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

07-9-2012

Chú Thích: Phần lớn bài viết đã sử dụng tư liệu của cố giáo sư Chalmers Johnson, tác giả các tác phẩm Blowback, The Sorrows of Impire, and Nemesis: The Last Days of the American Republic, hay Blowback Trilogy, và tác phẩm cuối đời Dismantling the Empire.


[1] “What an unlucky country.”

[2] The U.S. Central Intelligence Agency…

[3] According to the official version of history, CIA aid to the mujahidin began during 1980, that’s to say, after the Soviet army invaded Afghanistan. But the reality, kept secret until now, is completely different: on 3 July 1979 President Carter signed the first directive for secret aid to the opponents of the pro-Soviet regime in Kabul. And on the same day, I wrote a note to the president  in which I explained that in my opinion this aid would lead to a Soviet military intervention.

[4] Brzezinski: “Regret what? The secret  operation was an excellent  idea. It drew the Russians into the Afghan trap and you want me to regret it? On the day the Soviets officially crossed the border, I wrote to President Carter, saying, in essence: We now have the opportunity of giving to the USSR its Vietnam War.”

[5] Nouvel Observateur: “And neither do you regret having supported Islamic fundamentalism, which has given arms and advice to future terrorists?”

6 Brzezinski: ” What is more important in world history? The Taliban or the collapse of the Soviet empire? Some agitated Muslims or the liberation of Central Europe and the end of the Cold War?”

[7] When the Central Intelligence Agency helped overthrow Muhammad Mossadegh as Iran’s prime minister in 1953, ensuring another 25 years of rule for Shah Muhammad Reza Pahlavi, the CIA was already figuring that its first effort to topple a foreign government would not be the last. The CIA, then just six years old and deeply committed to winning the Cold War, viewed its covert  action in Iran as a blueprint for coup plots elsewhere around the world, and so commissioned a secret history to detail for future generations of CIA operatives how it had been done… Amid the sometimes curious argot of the spy world — ‘safebases’ and ‘assets’ and the like — the CIA warns of the possibilities of ‘blowback.’ The word …has since come into use as shorthand for the unintended consequences of covert  actions.”

[8] …arrogant, tin-eared and brittle…

[9] The Afghan government that the United States eventually chose to support beginning in the late autumn of 2001 — a federation of Massoud’s organization [ the Northern warlords], exiled intellectuals and royalist Pashtuns — was available for sponsorship a decade before, but the United States could not see a reason then to challenge the alternative, radical Islamist vision promoted by Pakistani and Saudi intelligence… Indifference, lassitude, blindness, paralysis and commercial greed too often shape American foreign policy in Afghanistan and South Asia during 1990’s.

[10] You’re a young man; here your bag of money, go raise hell. Don’t fuck it up, just go out there and kill soviets.

[11] Pakistani Inter-Services Intelligence — ISI

[12] Zia-ul-Haq’s political and religious agenda in Afghanistan gradually became the CIA’s own.

[13] [General Hekmatya] fielded the most effective anti-Soviet fighters.

[14] American authority and billions of dollars in taxpayer funding had been hijacked at the war’s end by a ruthless anti-American cabal of Islamists and Pakistani intelligence officers determined to impose their will on Afghanistan.

[15] This will require a review of our policy toward Pakistan, more guarantees to it, more arm aids , and, alas, a decision that our security policy toward Pakistan cannot be dictated by our non-proliferation policy.

[16] …beard census…

[17] If fundamentalism comes to Afghanistan, war will continue for many years. Afghanistan will turn into a center of world smuggling for narcotic drugs. Afghanistan will turn into a center of terrorism.

[18] “Every Pakistani general, liberal or religious, believed in the jihadists by 1999, not from personal Islamic conviction, in most cases, but because the jihadists had proved themselves over many years as the one force able to frighten, flummox and bog down the Hindu-dominated Indian army. About a dozen Indian divisions had been tied up in Kashmir during the late 1990s to suppress a few thousand well-trained, paradise-seeking Islamist guerrillas. What more could Pakistan ask? The jihadist guerrillas were a more practical day-to-day strategic defense against Indian hegemony than even a nuclear bomb. To the west, in Afghanistan, the Taliban provided geopolitical ‘strategic depth’ against India and protection from rebellion by Pakistan’s own restive Pashtun population. For Musharraf, as for many other liberal Pakistani generals, jihad was not a calling, it was a professional imperative. It was something he did at the office. At quitting time he packed up his briefcase, straightened the braid on his uniform, and went home to his normal life.”

[19] Charlie Wilson “saw the mujahidin through the prism of his own whisky-soaked romanticism, as noble savages fighting for freedom , as almost biblical figures.”

[20] Prince Turki and other liberal princes found it easier to appease their domestic Islamist rivals by allowing them to proselytize and make mischief abroad than to confront  and resolve these tensions at home.

[21] …to kill and fight Americans and their allies, whether civilian or military, is an obligation for every Muslim who is able to do so in any country.

[22] …as a “vast , pulsing, self-perpetuating, highly sensitive network on continuous alert whose listening posts were attuned to even the most isolated ad dubious evidence of pending attacks and whose analysts were continually encouraged to share information as widely as possible among those with appropriate security clearances.”

[23] …the CIA used its classification rules not only to protect it agents but also to deflect outside scrutiny of its covert operations…

[24] America’s failed policies in Afghanistan flowed in part from the compartmented, top secret  isolation in which the CIA always sought to work.