HỆ Ý THỨC VÀ TÔN GIÁO TRONG SINH HOẠT CHÍNH TRỊ HOA KỲ

                                                                                                                                                                                                                                                                                

Trước hết, nhiều người trong chúng ta chắc còn nhớ những tranh luận ồn ào về “Đền Hồi Giáo ở Ground Zero.”[1] Kế đó, Mục sư Terry Jones ở Gainesville, Florida, đã chiếm tin hàng đầu khi chủ trương “Ngày Đốt-một-Kinh Koran Quốc Tế.”[2] Gần đây hơn, một băng video chống đối và lăng mạ Hồi giáo do một người Mỹ đưa lên mạng Internet đã lôi cuốn theo những biến động trong khắp thế giới Hồi giáo.  

Đã hẳn, lập trường chính thức của Hoa Kỳ luôn không thay đổi: Chính quyền Hoa Kỳ lên án mọi nỗ lực gieo rắc “bệnh sợ Hồi giáo” — Islamophobia. Người Mỹ tôn trọng đạo Hồi như một tôn giáo hòa bình. Những manh động trái ngược chỉ là việc làm của một thiểu số nhỏ bé  — những thành phần bất hảo, những kẻ chủ tâm gây hận thù, và tự quảng cáo.

Nhưng đối với các tín đồ Hồi giáo từ Benghazi đến Islamabad, luận cứ vừa nói đã chứng tỏ hoàn toàn vô hiệu. Và họ có đủ lý do chính đáng. Mặc dù  giới lãnh đạo Hoa Kỳ có thể cảm thấy thoải mái hơn khi bác bỏ mọi hành động bài Hồi giáo như việc làm của một thiểu số cuồng tín, hình ảnh thực tế lại phức tạp hơn rất nhiều. Những thực tại đó giúp mọi người hiểu được tại sao tôn giáo, trước đây đã được xem như một tích sản trong chính sách đối ngoại, đã trở thành một tiêu sản thuần túy trong những năm gần đây.

Chúng ta có thể bắt đầu với bài học lịch sử ngắn gọn. Từ cuối thập kỷ 1940 đến cuối thập kỷ 1980, chủ nghĩa cộng sản đã đem lại cơ sở ý thức hệ cơ bản cho chủ nghĩa toàn cầu của Hoa Kỳ — một tôn giáo áp đảo đặc trưng cho chính sách đối ngoại của Mỹ.

Lập trường phi tôn giáo của Cộng sản đã giúp tăng cường căn bản đồng thuận bền lâu trong chính sách đối ngoại thời Chiến Tranh Lạnh của Hoa Kỳ. Sự kiện Cộng sản vô thần tự nó cũng đã đủ để bị loại bỏ. Đối với nhiều người Mỹ, Chiến Tranh Lạnh đã dựa trên cơ sở đạo lý rõ ràng, rút tỉa từ lòng tin đây là cuộc chiến giữa người sợ Chúa và người phủ nhận Chúa. Bởi lẽ luôn đứng về phía Thượng Đế, người Mỹ đương nhiên chờ đợi được Thượng Đế nuông chiều yêu quý.

Suốt trong các thập kỷ khi chủ nghĩa chống Cộng đã chi phối chính sách Hoa Kỳ, các chiến lược gia Cơ Đốc-Do Thái ở Hoa Thịnh Đốn — rút tỉa từ tư tưởng thần học, nguyên lý đứng đắn: các tín đồ Cơ Đốc, Do Thái, và Hồi giáo cùng thờ chung một Chúa — đã tìm cách kết nạp người Hồi giáo, ngay cả phái chính thống cực đoan, trong cuộc chiến chống thế giới vô thần.

Một ví dụ đặc biệt đáng ghi nhớ là Cuộc Chiến Xô Viết-Afghanistan 1979-1989. Với mục tiêu gây nhức nhối cho lực lượng chiếm đóng Xô Viết, Hoa Kỳ đã quyết định hậu thuẩn phe kháng chiến Afghanistan.  Hoa Thịnh Đốn đã ban tặng cho các lực lượng nầy danh hiệu “binh sĩ chiến đấu vì tự do” (freedom fighters), và qua trung gian Saudi Arabia và Pakistan, đã dồn viện trợ cho các thành phần Hồi giáo cực đoan nhất. Khi nổ lực nầy đã đưa đến một thất bại lớn lao cho Xô Viết, Hoa Kỳ đã ca ngợi sự hậu thuẩn dành cho phe thánh chiến Afghanistan như bằng chứng thiên tài chiến lược, không mấy khác một phán quyết của Thượng Đế.

Tuy vậy, chẳng bao lâu sau khi quân Xô Viết triệt thoái, các chiến sĩ tự do lại biến thái trở thành phong trào Taliban cực lực chống Tây phương, cung cấp khu an toàn cho al-Qaeda trong suốt thời gian chuẩn bị (thành công) tấn công vào Hoa Kỳ. Rõ ràng, đây là cây gậy thọc vào bánh xe kế hoạch của Thượng Đế.

Với sự phát động cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố, chủ thuyết Hồi giáo đã thay thế chủ nghĩa Cộng sản như  hệ thống tín điều, nếu không được chế ngự, sẽ đe dọa toàn cầu với những hậu quả nghiêm trọng đối với thế giới tự do. Những thành phần đã được Hoa Thịnh Đốn trang bị vũ khí như những chiến binh tranh đấu vì tự do nay đã trở thành những kẻ thù nguy hiểm nhất của Hoa Kỳ. Vì vậy, ít ra thành viên của hệ thống an ninh quốc gia tin, hay được biết tin tưởng, hạn chế mọi bàn luận về khả năng chủ nghĩa toàn cầu được quân sự hóa trong thực tế phải chăng là phương cách tốt nhất để phát huy các giá trị tự do hay phụng sự quyền lợi Hoa Kỳ.

Trong mọi tình huống, như một châm ngôn vận động tăng cường hàng ngũ, cuộc chiến chống chủ thuyết Hồi giáo đã gặp phải nhiều khó khăn ngay từ đầu. Mặc dù các nhà làm chính sách đã tìm hết cách để ngăn ngừa “chủ thuyết Hồi giáo,”  (Islamism) hòa nhập với chính “đạo Hồi” (Islam)  trong tâm thức quần chúng, một số ngày một đông người Mỹ — hoặc thực tình lo sợ hay đầu óc bệnh hoạn — đã xem đây như một nổ lực “phân biệt“(distinction) nhưng chẳng có “dị biệt” (difference). Nổ lực của chính quyền Bush chung quanh vấn đề nầy qua việc gói ghém phổ cập vấn đề dưới chiêu bài chủ nghĩa khủng bố cuối cùng cũng đã thất bại, bởi lẽ “từ phổ quát” (generic term) đã không thể đem lại một giải thích về động lực. Dù chính quyền xoay xở đủ chiều, động lực trong địa hạt nầy hình như luôn bị buộc chặt với các vấn đề tôn giáo.

Đặt Thượng Đế vào vị trí nào trong chính sách hậu 11/9 là một thử thách đích thực đối với giới làm chính sách, nhất là với George W. Bush, người thật lòng tin đã được  Thượng Đế lựa chọn để bảo vệ Hoa Kỳ trong thời buổi ly loạn.

Khác với Cộng sản và luôn tin tưởng vào sự hiện hữu của Thượng Đế, người Hồi giáo luôn hăng say tôn sùng Thượng Đế một cách điên dại đáng ngạc nhiên. Thực vậy, trong chiến dịch gay gắt tố cáo Hoa Kỳ và trong các hành động tích cực chống lại bạo lực Hoa Kỳ, họ đã luôn chứng tỏ là những “tín-đồ-báo-oán” trung tín (avenging agents) của Thượng Đế. Đối đầu với quỷ Satan lớn nhất, họ tự nhận mình đang thực thi ý chí của Thượng Đế.

CHIẾN TRANH NHÂN DANH JESUS

Cuộc bàn luận chung quanh đề tài ai là người thực sự đại diện cho ý chí của Thượng Đế là cuộc thảo luận các chính quyền kế tiếp George W. Bush và Barack Obama đã  không ngừng tìm cách tránh né. Các quan chức nhà nước luôn nhấn mạnh, Hoa Kỳ không tuyên chiến với đạo Hồi. Tuy vậy, trong thế giới Hồi giáo hải ngoại, mặc dù Hoa Thịnh Đốn đã nhiều lần phủ nhận, thái độ ngờ vực vẫn hiện hữu và không phải không có lý do chính đáng. Chúng ta có thể nhắc lại trường hợp Tướng William G. (Jerry) Boykin. Năm 2002, khi còn tại chức, vị tướng bộ binh được ban nhiều huy chương cao quý nầy, trong quân phục, trong một chuổi 30 dịp tham dự lễ nhà thờ, đã đưa ra giải đáp riêng của chính mình về câu hỏi nổi tiếng của George W. Bush: “Vì sao họ ghét chúng ta?”[3] Nhận thức của Boykin rất khác với tổng tư lệnh của mình: “Câu trả lời: vì chúng ta là một quốc gia cơ đốc. Họ ghét chúng ta là vì chúng ta là một quốc gia của các tín đồ [cơ đốc].”[4]

Trong một dịp khác, tướng Boykin đã nhớ lại lần đối thoại với một thủ lãnh Somali tự cho mình đang được  Allah che chở. Boykin đã tuyên bố, vị thũ lãnh đang tự đánh lừa, và chắc sẽ phải chịu hình phạt: “Tôi biết Thượng Đế của tôi vĩ đại hơn  Allah của ông ta. Tôi biết Thượng Đế của tôi là Chúa Trời đích thực và  [Allah] của ông ta chỉ là một thần tượng.”[5] Boykin nhấn mạnh, Hoa Kỳ chỉ có thể thành công khống chế các địch thủ nếu “chúng ta chống các địch thủ đó nhân danh Jesus.”[6]

Khi những nhận định của Boykin được báo chí dòng chính đăng tải, Tòa Bạch Ốc, Bộ Ngoại Giao, và Ngũ Giác Đài đều vội vã lên tiếng quả quyết: không chia sẻ quan điểm của vị tướng bộ binh. Tuy nhiên, những dấu hiệu sau đó đều gợi ý, mặc dù sống sượng, Boykin thực sự đã diễn đạt những cách nhìn được nhiều người Mỹ chia sẻ.

Bằng cớ  rõ ràng đã đến tức khắc: mặc dù các phản ứng giận dữ, tướng Boykin vẫn được tiếp tục giữ chức vụ quan trọng Phó Thứ trưởng quốc phòng đặc trách tình báo. Điều nầy có nghĩa:  chính quyền Bush đã xem vi phạm của Boykin chỉ là một lầm lỗi không đáng lưu tâm. Để hiểu rõ dị biệt, chúng ta thử tưởng tượng tai họa nào có thể ập xuống đầu một quan chức cao cấp Hoa Kỳ dám mở miệng nói với Thủ Tướng Do Thái Benjamin Netanyahu: “Thượng Đế của tôi là Chúa Trời thực sự và chúa trời của Ngài chỉ là một thần tượng.”

Một dấu hiệu thứ hai đã đến tiếp theo sau ngày Boykin về hưu trí. Năm 2012, Hội Đồng Nghiên Cứu Gia Đình (Family Research Council — FRC) đầy uy lực ở Hoa Thịnh Đốn đã tuyển dụng tướng Boykin vào giữ chức vụ Phó Chủ Tịch Điều Hành của tổ chức. Chuyên trách về việc “phát huy đức tin, gia đình, và tự do,” Hội Đồng luôn mang phong thái một định chế nặng về Cơ Đốc. Sinh hoạt  của  FRC luôn cuốn hút các chính trị gia nặng ký của đảng Cộng Hòa.  FRC là thành viên dòng chính bảo thủ, không mấy khác Liên Hiệp Tự Do Công Dân Hoa Kỳ (American Civil Liberties Union) là thành viên dòng chính tự do cánh tả.

Sư kiện FRC thu dụng,  như quan chức điều hành hàng đầu, một người có quan điểm về Hồi giáo như Boykin, là một hành động đáng ghi nhận. Ít nhất, bất cứ tổ chức nào tuyển dụng tướng hưu trí Boykin rõ ràng đã không thấy gì đặc biệt đáng chê trách trong thế giới quan của ứng viên. Họ không thấy sẽ gặp bất trắc trên bình diện chính trị khi liên kết với Jerry Boykin. Nói một cách khác, Jerry Boykin đồng chí hướng với họ.

Rất có thể, khi thu dụng Boykin, FRC đã có ý định gửi đi một tín hiệu: Về những vấn đề trong phạm vi chuyên môn của quan chức điều hành hàng đầu (chief operating officer — COO), nhất là chiến tranh, tính bất thích ứng chính trị  thọc-ngón-tay-cái-vào-mắt đã trở thành một đức tính. Chỉ cần tưởng tượng tổ chức NAACP lựa chọn lãnh tụ Nation of Islam, Louis Farrakhan, làm chủ tịch, chúng ta cũng có thể hiểu được Quốc Gia Islam rõ ràng đã tán đồng quan điểm của Farrakhan về chủng tộc.

Sự kiện FRC vồ vập tuyển dụng tướng Boykin đã làm rõ một điều: gạt bỏ mọi hình thức biểu lộ thái độ e ngại Hồi giáo, đơn thuần như việc làm của một số người Mỹ ngoài lề không đáng kể, là một việc làm sai lầm. Cũng như với những thành phần hậu thuẩn Thượng Nghị sĩ Joseph McCarthy, người trong những ngày đầu của Chiến Tranh Lạnh, nhìn đâu cũng thấy cán bộ cộng sản, ngay cả dưới mọi bàn giấy của Bộ Ngại Giao, những người can dự vào những hành động của tướng Boykin là những người có can đảm công khai bày tỏ thái độ, một hành động một số đông hơn rất nhiều cũng đang hậu thuẩn một cách âm thầm. Nói một cách khác, những gì — người Mỹ trong thập kỷ 1950 biết về chủ thuyết McCarthy — ngày nay đang tái xuất hiện dưới hình thức chủ thuyết Boykin.

Các sử gia bất đồng quan điểm sâu xa về chủ thuyết McCarthy đã phản ảnh hoặc một dạng chống cộng đồi trụy hoặc một biểu lộ trung thực nhất thái độ chống cộng. Cũng vậy, các quan sát viên ngày nay sẽ khó thể đồng thuận trong cảm nhận về chủ thuyết Boykin chỉ phản ảnh một đáp ứng hăng say hay hoàn toàn khùng điên đối với đe dọa Hồi Giáo.

Tuy nhiên, một điều không thể chối cãi: cũng như  một nghị sĩ đàn em mới đắc cử từ Wisconsin, trong tuổi hăng say, đã đội lốt một dạng thức không phải trò đùa trong chính trị  Hoa Kỳ; trong một tư thế tương tự,” một chiến binh biệt kích ngày trước, nay đã trở thành một tu sĩ đam mê truyền bá thánh kinh Jesus Christ.”[7]

Điều đáng ghi nhận,  trong tư cách người sáng lập chủ thuyết Boykin, quan điểm của tướng bộ binh hưu trí rất giống với các người cố nghị sĩ McCarthy ưa thích. Cũng như McCarthy, Boykin tin, trong khi kẻ thù bên ngoài Hoa Kỳ đã là mối nguy lớn lao, kẻ thù bên trong còn là một mối nguy lớn lao hơn rất nhiều. Trong một băng video năm 2010, Boykin đã tuyên bố: “Tôi đã nghiên cứu phong trào dấy loạn Marxist. Đó là một phần trong quá trình huấn luyện của tôi. Và tất cả những gì tôi biết đã được làm trong bất cứ cuộc dấy loạn Marxist nào, đều đang được làm ở Hoa Kỳ hiện nay.”[8]

Minh thị so sánh Hoa Kỳ dưới thời Barack Obama với Liên Bang Xô Viết, TQ dưới thời Mao Trạch Đông, và Cuba dưới thời Castro, Boykin cáo buộc: ngụy trang dưới danh hiệu cải cách y tế,”chính quyền Obama đang bí mật tổ chức một lực lượng cảnh sát võ trang,’một lực lượng sẽ có nhiệm vụ kiểm soát quần chúng ở Hoa Kỳ’.”[9]   Boykin còn nói, lực lượng mới nầy đang được thiết lập, lớn hơn cả quân đội Hoa Kỳ, và sẽ vận hành giống như “Đội quân Áo Nâu của Hitler” (Hitler’s Brownshirts) ở Đức. Tất cả những thứ nầy đang diễn ra trước những cặp mắt ngây thơ và không chút nghi ngờ của chúng ta.

CHỦ THUYẾT BOYKIN: MỘT CHỦ THUYẾT McCARTHY MỚI

Có bao nhiêu người Mỹ đã chấp nhận nhãn-quan-luôn-có-âm-mưu-cộng-sản-ở- khắp-nơi của McCarthy trong địa hạt chính trị Hoa Kỳ và quốc tế? Rất khó lòng biết chắc; nhưng cũng khá đông ở Wisconsin để giúp ông tái cử năm 1952, với một đa số thoải mái 54%-46%,  một đa số đủ gây bức xúc cho các chính trị gia đang âu lo McCarthy sẽ cáo buộc họ quá “mềm yếu đối với chủ nghĩa Cộng sản.”[10]

Bao nhiêu cử tri Mỹ đang chấp nhận quan điểm quá khích của Boykin? Một lần nữa, cũng rất khó trả lời; nhưng cũng khá đông, đủ để thuyết phục các nhóm tài trợ và hậu thuẩn của FRC thu dụng ông ta, tin tưởng việc làm của họ sẽ giúp đánh bóng thay vì làm lu mờ hình ảnh của tổ chức.

Đã hẳn, Boykin không hề gây tai hại cho khả năng thu hút các chính trị gia cực hữu nặng ký ở Hoa Kỳ. Hội Nghị Thượng Đỉnh “Values Voter Summit” của FRCgần đây, với sự tham dự của những đảng viên Cộng Hòa sáng chói như ứng cử viên Phó Tổng Thống Paul Ryan, nguyên Nghị Sĩ Cộng Hòa và ứng viên tổng thống sơ bộ Rich Santorum, Lãnh tụ Đa số Hạ Viện Eric Cantor, và Dân biểu Michele Bachmann — với chính Jerry Boykin, tham luận viên trước hội nghị về đề tài “Do Thái, Iran, và Tương Lai của Văn Minh Tây Phương”. Vào đầu tháng 8-2012, Mitt Romney cũng đã gặp riêng nhóm“bảo thủ xã hội tai mắt,” prominent social conservatives, kể cả Boykin.

Liệu sự xuất hiện của họ tại hội nghị FRC đã mang ý nghĩa: Ryan, Santorum, Cantor, và Bachmann đều chia sẻ các nguyên tắc cơ bản của chủ thuyết Boykin? Chắc chắn không nhiều hơn những khuôn mặt muốn khai thác tiếng tăm của McCarthy khi có lợi cho sự nghiệp chính trị riêng của mình. Cũng như  Richard Nixon trước đây chẳng hạn,  họ không nhất thiết hoàn toàn đồng quan điểm với tất cả các lời cáo buộc của McCarthy.

Tuy vậy, sự hiện diện của các nhân vật Cộng Hòa hàng đầu trong hội nghị FRC bên cạnh tham luận viên Boykin chắc chắn cũng đã gợi ý: họ không thấy có gì đặc biệt đáng trách hay có thể có ảnh hưởng tai hại cho sự nghiệp chính trị của họ do thế giới quan của Boykin.

Dù sao, chỉ chừng ấy so sánh chủ thuyết McCarthy với chủ thuyết Boykin cũng tạm đủ.

Nghị sĩ McCarthy đã gây nhiều rắc rối tai hại ở quốc nội: săn lùng nạn nhân, phá hoại sự nghiệp chính trị, và chà đạp dân quyền, cũng như đã cung ứng cho chính trị Hoa Kỳ một bầu không khí gánh xiếc.

Trên bình diện đối ngoại, tác động của chủ thuyết McCarthy  cũng chỉ tăng cường một đồng thuận chống cộng đang hiện hữu. Các trò hề của McCarthy đã không tạo thêm thù địch ở hải ngoại.

Chủ thuyết McCarthy chỉ tái xác quyết cộng sản thực sự là kẻ thù, trong khi đã làm gia tăng cái giá quá cao các nạn nhân chính trị phải trả.

Chủ thuyết Boykin, ngược lại, đã có nhiều tác động đối ngoại. Không như chủ thuyết McCarthy, chủ thuyết Boykin không gieo sợ hải trong lòng các ứng viên đương nhiệm đang vận động tái cử. Giành được hậu thuẩn hay làm mếch lòng tướng Boykin sẽ không quyết định kết quả của bất cứ cuộc bầu cử nào. Tuy nhiên, qua những biểu lộ khác nhau, chủ thuyết Boykin đang nhen nhúm và tiếp tay nuôi dưỡng các cảm nhận chống Mỹ trong thế giới Hồi giáo. Chủ thuyết Boykin còn tăng cường lòng tin của người Hồi giáo: Cuộc Chiến  Toàn Cầu Chống Khủng Bố thực ra là cuộc chiến chống lại chính họ.

Chủ thuyết Boykin xác nhận những gì người Hồi giáo đã được chuẩn bị để tin tưởng: hệ thống giá trị của Mỹ và hệ thống giá trị của Hồi giáo không thể hòa đồng. Các tổng thống và ngoại trưởng Hoa Kỳ luôn bám chặt những gì cần và phải nói, ca ngợi đức tin Hồi giáo như một truyền thống tôn giáo vĩ đại và khoa trương những hành động quân sự của Hoa Kỳ nhằm giúp người Hồi giáo trong quá khứ.

Tuy nhiên với uy tín của Hoa Kỳ trong các xứ Iraq, Afghanistan, Pakistan, và nhiều xứ khác trong vùng trung Đông Nới Rộng, đã tụt xuống mức số âm, tiếng nói của Hoa Kỳ cũng chẳng gây được đồng vọng nào dù chỉ nhỏ bé.

Chừng nào đa số người Mỹ kiêu căng không tin ở những luận cứ ý thức hệ được vun đắp để biện minh cho chính sách can thiệp của Hoa Kỳ trong thế giới Hồi giáo — như quan niệm tự do “của họ”, kể cả tự do tôn giáo, xét cho cùng cũng không mấy khác với quan niệm “của chúng ta” — chừng đó người Hồi giáo cũng không dễ bị thuyết phục.

Trong ý nghĩa đó, sự kiện phe hậu thuẩn chủ thuyết Boykin đã bác bỏ các luận cứ nói trên cũng đang khuyến khích người Hồi giáo noi theo gương của họ. Và giải pháp quân sự lại được tăng cường như phương tiện ưa thích trong chính sách Hoa Kỳ đối với thế giới Hồi giáo và sẽ khuyếch đại các sai lầm từ lâu đã định hình kỷ nguyên hậu 11/9.

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

05-10-2012


[1] Mosque at Ground Zero.

[2] International Burn-a-Koran Day.

[3] Why do they hate us?

[4] The answer to that is because we are a christian nation. We are hated because we are a nation of believers.

[5] I knew that my God was a real God and his was an idol.

[6] …the United States would succeed in overcoming its adversaries only if “we come against them in the name of Jesus.”

[7] …the former special-ops-warrier-turned-“ordained minister with a passion for spreading the Gospel of Jesus Christ.”

[8] I’ve studied Marxist insurgency. It was part of my training. And the things I know that have been done in every Marxist insurgency are being done in America today.

[9] …the Obama administration is secretly organizing a “constabulary force that will control the population in America.”

[10] …soft on Communism.

Advertisements