TƯƠNG LAI NĂNG LƯỢNG BẮC MỸ VÀ THỰC TẾ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Rất hiếm khi một phúc trình về năng lượng đã đưa đến những hàng tít lớn trên báo chí thế giới. Tuy nhiên, đó là những gì đã xẩy ra ngày 12-11-2012  khi Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế (International Energy Agency –IEA) phổ biến Viễn Tượng Năng Lượng Thế Giới (World Energy Outlook) trong năm. Trong cùng lúc, độc giả hầu như đều đã bỏ qua các tin tức thực sự quan trọng của chính IEA — những mẩu tin báo động lẽ ra đã phải được giới cầm quyền và trách nhiệm trên hành tinh đặc biệt lưu ý.

Tin tưởng những tiến bộ trong kỹ thuật  thăm dò và khai thác đã có thể đưa đến một sự gia tăng bột phát trong sản ngạch năng lượng ở Bắc Mỹ, World Energy Outlook tiên đoán Hoa Kỳ có thể sẽ vượt qua Saudi Arabia và Nga để leo lên địa vị quốc gia sản xuất năng lượng hàng đầu trên hành tinh vào năm 2020.

Trong một bản tuyên bố được trích dẫn rộng rãi, Giám Đốc Điều Hành IEA, Maria van der Hoeven, đã cho biết: “Bắc Mỹ đang đứng hàng đầu trong một chuyển biến rộng lớn trong địa hạt sản xuất dầu và hơi đốt thiên nhiên, một sự kiện sẽ ảnh hưởng đến tất cả các vùng trên thế giới.”[1]

Ở Hoa Kỳ, sự tiên đoán vị trí ưu thế một gia tăng đột phá trong sản lượng dầu khí tương lai đã được chào đón với cực kỳ hoan hĩ. John Larson thuộc IHS, một xí nghiệp nghiên cứu, cũng đã lên tiếng: “Đây là một thay đổi đáng ghi nhận. Một thay đổi mang tính chuyển hóa thực sự. Nó sẽ thay đổi trong căn bản viễn ảnh năng lượng của Hoa Kỳ. Điều nầy không những giảm thiểu trình độ lệ thuộc vào dầu nhập khẩu , mà còn đem lại những con số công ăn việc làm mới lớn lao. Chúng ta đang nói đến việc làm. Các bạn nên biết, chúng ta đang nói đến công việc lao động chân tay. Đây là những việc làm tốt.”[2] 

Các biên tập viên báo Wall Street Journal cũng không kém hứng khởi. Trong một bài bình luận với nhan đề rất bắt mắt “Saudi America,” họ ca ngợi các công ty năng lượng Hoa Kỳ đã mang lại một cuộc cách mạng kỹ thuật, phần lớn cơ sở trên phương pháp sử dụng hydraulic fracturing để lấy dầu (fracking: phương pháp dùng  thủy lực để phá vỡ các chỗ gãy trong phiến-đá-sét shale rock). Theo họ, đây là điều đem lại một đột phá năng lượng vĩ mô.

Báo Wall Street  Journal cũng đã ghi nhận: “Đây là một cuộc cách mạng năng lượng thực sự, ngay cả nếu kỹ thuật nầy còn xa mới là một vùng đất hứa của năng-lượng-có-thể-tái-tạo, được chính quyền dành nhiều trợ cấp và đặt nhiều hy vọng.”[3]

Nhiều  bình luận gia khác cũng đã quan tâm tương tự đến khả năng Hoa Kỳ sẽ qua mặt Saudi Arabia và Liên Bang Nga, ngay cả khi một vài thành viên trong nhóm đã tỏ ra nghi ngờ những lợi điểm lớn lao như đã được quảng bá hay có thể chấp nhận với một giá phải chăng trên môi trường.

Trong khi đồng ý sự gia tăng bột phát trong sản lượng dầu khí  của Hoa Kỳ phần lớn là những tin vui, Michael A. Levi, thuộc Hội Đồng Quan Hệ Đối Ngoại, cũng đã cảnh cáo: giá năng lượng sẽ không xuống thấp đáng kể vì dầu là một sản phẩm toàn cầu và giá cả một phần lớn đều do các thế lực cung cầu trên thị trường quốc tế quyết định.  Levi đã nói với báo The New York Times: “Hoa Kỳ có thể được bảo vệ hơn các quốc gia khác ít nhiều, nhưng vẫn không thể độc lập về năng lượng như vài người  mong tưởng.”[4]

Vài quan sát viên lưu ý nhiều hơn đến vấn đề: liệu gia tăng sản lượng dầu khí và công ăn việc làm có đủ quan trọng để bù đắp vào các tác động tiêu cực trên môi trường do các tài nguyên năng lượng khó khai thác và tốn kém, như dầu lấy từ những chỗ gãy của  đá-phiến-sét (shale-rocks) hay cát nhựa bitumen (tar-sand) ở Canada.

Chẳng hạn, Daniel J. Weiss, thuộc Trung Tâm Tiến Bộ Hoa Kỳ (Center for American Progress), đã cảnh cáo: một đe dọa ngày một lớn đối với số cung nước gia dụng ở Hoa Kỳ, từ các thao tác phá vỡ đá-phiến-sét hiện được quy định khá lơi lỏng. “Ngoài ra, các công ty năng lượng còn muốn được tự do thăm dò và khai thác trong các khu vực ngoài khơi Bắc Alaska trong vùng biển Arctic, nơi các công ty nầy chưa được chuẩn bị để sẵn sàng đối phó với một tai nạn bùng nổ hay tràn dầu như đã từng xẩy ra trong vùng Vịnh Mexico.”[5]

Một sự quan tâm như thế chắc chắn đã đem lại một nhắc nhở đúng lúc: dầu lửa vẫn rất quan trọng đối với kinh tế và văn hóa chính trị Hoa Kỳ, nhưng cũng đã chuyển hướng mọi quan tâm khỏi nhiều khía cạnh khác của Phúc Trình Năng Lượng Thế Giới, những khía cạnh, trong vài trường hợp, thật sự rất đáng e ngại.

Bức tranh năng lượng toàn cầu tương lai, vì vậy, cũng đã làm suy giảm thái độ hồ hỡi ở khắp nơi, bởi ý thức số cung năng lượng luôn bấp bênh, trình độ lệ thuộc quá đáng vào nhiên liệu hóa thạch, thiếu đầu tư thích đáng vào năng lượng thay thế, cũng như khí hậu biến đổi, ấm dần, bất thường, và nguy hiểm.

Sau đây là vài khía cạnh đáng lo, nhưng đã bị che mờ, trong phúc trình:

(1) SỐ CUNG NĂNG LƯỢNG QUỐC TẾ TIỆM GIẢM

Với phản ứng đầy phấn khởi trước sản ngạch năng lượng tăng gia, bạn có thể nghĩ phúc trình IEA đầy những tin tốt đẹp về số cung năng lượng tương lai trên thế giới. Thực ra, tình hình không được sáng sủa như nhiều người nghĩ. Trong thực tế, nếu đọc kỷ, bất cứ ai quen thuộc với hiện tình năng lượng thế giới đều hiểu rõ: phúc trình cũng đã nhấn mạnh đến khả năng sụt giảm và nhiều bất trắc.

Chẳng hạn, sản xuất dầu khí của Hoa Kỳ sẽ vuợt quá Saudi Arabia và Liên Bang Nga. Mới nghe có vẻ rất lạc quan. Nhưng đây chỉ là cái bẫy: nhận thức về số cung dầu khí toàn cầu tương lai trong các phúc trình trước đây của IEA và Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ (DoE), đều cơ sở trên giả thiết sản ngạch trong hai xứ Saudi Arabia và Nga có thể vươt xa sản ngạch của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, hiện nay Hoa Kỳ sẽ vượt qua cả hai xứ trong thập kỷ 2020, chỉ vì IEA mới đây đã quả quyết sản ngạch của cả hai xứ sẽ sụt giảm, thay vì gia tăng như giả thiết trước đây.

Đây là một ngạc nhiên che đậy trong phúc trình không được lưu ý. Theo dự báo 2011 của DoE, số sản xuất của Saudi đã được chờ đợi gia tăng lên 13,9 triệu thùng mỗi ngày trong năm 2025, và của Nga lên 12,2 triệu thùng mỗi ngày, tính chung sẽ cung cấp hầu hết số cung gia tăng của thế giới. Hoa Kỳ, trong tính toán nầy, có thể lên đến 11,7 triệu thùng.

Những con số tái thẩm định mới nhất của IEA cho biết sản xuất của Hoa Kỳ thực ra sẽ gia tăng như dự kiến, lên khoảng 11 triệu thùng mỗi ngày trong năm 2025, nhưng sản ngạch của Saudi Arabia sẽ bất ngờ giảm xuống còn 10,6 triệu thùng và của Nga xuống 9,7 triệu thùng. Vì vậy, Hoa Kỳ sẽ trở nên xứ sản xuất số một vì sản ngạch  của Saudi và Nga bất ngờ giảm sút. Do đó, số cung dầu khí toàn cầu trong kịch bản tốt nhất  cũng sẽ không gia tăng đáng kể  — mặc dù  IEA đã dự báo một sự gia tăng quan trọng trong số cầu của thế giới.

Nhưng xin chớ vội thất vọng. Theo IEA, hiện vẫn còn một hy vọng hay một lá bài đáng kể khác: Iraq. Trong niềm tin người Iraq một cách nào đó sẽ vượt qua những dị biệt phe phái, đạt được một mức ổn định nội bộ, thiết lập được một khuôn khổ pháp lý để sản xuất dầu, và tìm kiếm được một số đầu tư và hậu thuẩn kỹ thuật cần thiết, IEA tiên đoán sản ngạch sẽ vọt lên từ 3,4 triêu thùng mỗi ngày trong năm nay lên đến 8 triệu thùng mỗi ngày năm 2035, góp thêm 4,6 triệu thùng phụ  trội cho số cung toàn cầu. Trong thực tế, theo IEA, số dầu phụ trội nầy có thể bằng 50% tổng số gia tăng trong ngạch số sản xuất thế giới trong vòng 25 năm sắp tới. Đã hẳn, những điều kỳ lạ luôn xẩy ra, nhưng do nhiều lý do rõ ràng, đây là một kịch bản bất hợp lý hay khó thể xẩy ra.

Tổng hợp lại, sản ngạch sụt giảm từ Saudi và Nga,  tiếp tục biến động ở Iraq, kết quả bấp bênh ở các nơi khác, thế giới sẽ không có đủ dầu trong các thập niên 2020 và 2030 để đáp ứng số cầu toàn cầu tiên liệu. Từ viễn ảnh hành tinh bị hâm nóng với tin tức có thể lạc quan, nhưng trên bình diện kinh tế, không một gia tăng lớn lao trong số đầu tư vào những nguồn năng lượng thay thế, viễn ảnh vẫn sẽ rất u ám.

Nhân loại sẽ không hiểu được thời kỳ xấu xa đó sẽ ra sao cho đến khi chúng ta không có đủ năng lượng để đáp ứng nhu cầu vận hành của guồng máy văn minh. Như IEA đã gợi ý, mọi sự đều lệ thuộc vào cơ may thành công của Iraq… Không có sự tăng trưởng trong số cung năng lượng từ Iraq, thị trường dầu khí sẽ phải đối mặt với một kỷ nguyên đầy khó khăn.

(2) TIẾP TỤC LỆ THUỘC VÀO NHIÊN LIỆU HÓA THẠCH

Mặc dù chúng ta đã nghe nói rất nhiều đến nhu cầu gia tăng đối với các nguồn nhiên liệu tái tạo, nhiên liệu hóa thạch — than đá, dầu lửa, và hơi đốt thiên nhiên — sẽ tiếp tục cung cấp hầu hết số cung năng lượng phụ trội cần thiết để thỏa mãn số  cầu tăng vọt trên thế giới.

IEA đã phúc trình: ” Xét chung tất cả các triển khai và chính sách mới, thế giới  vẫn thất bại không thể đưa hệ thống năng lượng toàn cầu vào một con đường lâu bền vững vàng hơn .”[6]Trong thực tế, những triển khai gần đây hình như dẫn tới một sự trông cậy ngày một nhiều hơn vào nhiên liệu hóa thạch.

Ở Hoa Kỳ, việc gia tăng khai thác dầu và hơi đốt từ những hệ tầng đá phiến (shale formations) đã dập tắt lời kêu gọi đầu tư công của chính quyền vào kỹ thuật năng lượng tái tạo.

Chẳng hạn, trong bài bình luận về phúc trình của IEA, báo Wall Street Journal đã diễu cợt một nổ lực đầu tư công vào năng lượng tái tạo. Tờ Journal đã gợi ý, ngày nay một đầu tư như thế không còn cần thiết vì lẽ số cung năng lượng gia-tăng-bột-phát-kiểu-Saudi Arabia sắp tới. Các tác giả báo Wall Street Journal đã tuyên bố: “Các sử gia một ngày nào đó trong tương lai sẽ kinh ngạc trước số vốn chính trị và tài chánh lớn lao như thế đã được đầu tư vào cuộc cách mạng năng lượng xanh[đã thất bại] đúng ngay lúc một cuộc cách mạng nhiên liệu hóa thạch đang diễn ra.”[7]

Một khía cạnh của cuộc “cách mạng” năng lượng mới nầy xứng đáng được đặc biệt lưu ý. Sự cung ngày một gia tăng của hơi đốt thiên nhiên khả dụng với giá rẻ, nhờ ở kỹ thuật hydro-fracking, đã làm giảm bớt việc sử dụng than đá như một nhiên liệu trong các nhà máy phát điện ở Hoa Kỳ. Điều nầy có thể xem như một điểm thuận lợi rõ rệt cho môi trường, bởi lẽ hơi đốt thiên nhiên  ít gây ra khí thải nhà kính “carbon dioxide,” hơn hẳn than đá.

Không may, sản lượng và việc sử dụng than đá đã không suy giảm: các nhà sản xuất Hoa Kỳ đã đơn thuần gia tăng xuất khẩu than qua Á châu và Âu châu. Trong thực tế, ngạch số than xuất khẩu của Hoa Kỳ được chờ đợi tăng lên tới 133 triệu tấn năm 2012, vượt quá ngạch số xuất khẩu kỷ lục trong năm 1981.

Mặc dù tác động tai hại lên môi trường, than vẫn rất phổ thông trong các xứ đang tìm cách gia tăng sản lượng điện và tăng cường phát triển kinh tế. Theo IEA, than đã cung cấp, một cách đáng kinh ngạc, gần phân nửa số gia tăng trong số tiêu thụ năng lượng toàn cầu trong thập kỷ vừa qua, nhanh hơn tỉ suất gia tăng trong năng lượng có thể tái tạo.

Và IEA tiên đoán than sẽ tiếp tục gia tăng trong nhiều thập kỷ sắp tới. Quốc gia tiêu thụ than nhiều nhất, TQ, sẽ sử dụng nhiều than mãi cho đến năm 2020, khi số cầu đối với than cuối cùng được chờ đợi ngừng tăng. Tiêu thụ than của Ấn Độ sẽ tiếp tục gia tăng, và Ấn sẽ qua mặt Hoa Kỳ như quốc gia tiêu thụ than số hai vào năm 2025.

Trong nhiều vùng, phúc trình IEA ghi nhận, tình trạng liên tục áp đảo của nhiên liệu hóa thạch đang được duy trì qua các chính sách của chính quyền. Trong thế giới đang phát triển, chính quyền thường trợ cấp giá năng lượng tiêu thụ trong quốc nội. Giá bán các nhiên liệu dùng trong các ngành vận tải, nấu nướng, và sưởi ấm luôn thấp hơn giá thị trường.

Bằng cách nầy, chính quyền hy vọng sẽ làm nhẹ bớt gánh nặng cho quần chúng trước phí tổn năng lượng ngày một lên cao, và nhờ vậy, có thể giúp bảo vệ chế độ khỏi các biến động của quần chúng. Cắt xén các khoản trợ cấp nầy có thể có hậu quả nguy hiểm. Một ví dụ là trường hợp Jordan, nơi một quyết định nâng giá nhiên liệu gần đây của chính quyền đã đưa đến dấy loạn, xáo trộn, và quần chúng đòi hỏi bải bỏ chế độ quân chủ.

Năm 2011, theo IEA, các khoản trợ cấp như thế đã lên tới 523 tỉ trên toàn cầu, tăng gần 30% so với năm 2010, và sáu lần lớn hơn tổng số trợ cấp cho năng lượng có thể tái tạo.

(3) ÍT  HY VỌNG TRÁNH ĐƯỢC TAI HỌA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Trong toàn bộ nội dung phúc trình World Energy Outlook 2012, điểm đáng được công luận quốc tế chú ý nhiều nhất  lại là điểm ít được lưu ý nhất. Phúc trình đã kết luận: ngay cả khi các chính quyền có nhiều biện pháp giảm thiểu khí thải nhà kính mạnh mẽ nhất, sự liên tục gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch cũng sẽ đưa  đến kết quả “một sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu trong dài hạn 3,6 độ C.”[8]

Hầu hết các khoa học gia tin, một sự gia tăng 2 độ Celsius là tất cả những gì hành tinh có thể thích ứng mà không phải gánh chịu những hậu quả tai họa ngoài sự tưởng tượng: mực nước bể dâng cao sẽ cuốn trôi nhiều thành phố ven biển; nạn hạn hán dài lâu sẽ phá hủy các ruộng đồng, nguồn sống của hàng trăm triệu dân; sự sụp đổ của các hệ thống môi sinh huyết mạch, và nhiều tai họa khác.

Một gia tăng 3,6 độ C sẽ là điểm chấm dứt của văn minh nhân loại như chúng ta đang trải nghiệm hiện nay.

Nói một cách dễ hiểu, sinh họat bình thường của nhân loại hiện cũng đã hâm nóng hành tinh khoảng 0,8 độ C — đủ để gây ra nạn hạn hán nghiêm trọng khắp thế giới, khởi động hay gia tăng cường độ các trận bảo lớn như Hurricane Sandy, và sẽ giảm thiểu băng giá Arctic nghiêm trọng.

Bill McKibben, một tác giả uy tín về môi sinh, đã viết: “Trước những tác động vừa kể, nhiều khoa học gia đã đi đến kết luận: hai độ [Celsius] là một mục tiêu quá khoan dung dễ dãi.”[9] Mc Kibben đã trích dẫn Kerry Emanuel, thuộc MIT, một chuyên gia hàng đầu về bảo tố:  “Bất cứ con số nào cao hơn một độ C là một canh bạc và tình hình trở nên lúc một bất lợi khi nhiệt độ tăng dần.”[10] Thomas Lovejoy, nguyên cố vấn trưởng về đa dạng sinh học (chief biodiversity adviser) của Ngân Hàng Thế Giới, cũng đã viết: “Nếu chúng ta đang thấy những gì chúng ta đang thấy hôm nay ở 0,8 độ Celsius, hai độ là đơn thuần quá cao.”[11]

Hiện nay, thật khó lòng ngay cả tưởng tượng những gì một hành tinh 3,6 độ C nóng hơn sẽ như thế nào. Mặc dù một vài học giả và tiên tri về biến đổi khí hậu — như nguyên Phó Tổng Thống Al Gore trong tác phẩm An Inconvenient Truth (Một Sự Thật Bất Tiện) — đã thử cố gắng. Trong mọi tình huống, các lớp băng đá ở Greenland và Antarctica đều hoàn toàn tan biến, nâng mực nước biển lên vài chục bộ và tràn ngập toàn bộ các thành phố như New York và Thượng Hải. Phần lớn Phi châu, Trung Á, Trung Đông, và vùng Tây Nam Hoa Kỳ, có thể trở thành những vùng con người không thể sinh sống vì thiếu nước uống và sa mạc hóa, trong khi nạn cháy rừng, ngày nay chúng ta không thể tưởng tượng, có thể thiêu rụi các núi rừng khô cằn với khí hậu ôn hòa.

Phúc trình, với tin vui liên hệ đến địa vị ưu thế của Hoa Kỳ về tương lai dầu lửa, đã  bình thản gợi ý: thế giới đang hướng tới mức 3,6 độ C không mấy khác đặt một  bom hạt nhân nóng trong món quà tặng Giáng Sinh được gói ghém lòe loẹt. Trong thực tế, “tin lành” hay “tin tốt” hóa ra là “tin dữ” hay “tin xấu”: khả năng của kỹ nghệ năng lượng gia tăng ngạch số sản xuất dầu lửa, than đá, và hơi đốt thiên nhiên ở Bắc Mỹ hiện đang nuôi dưỡng một sự gia tăng toàn cầu trong sức cầu các sản phẩm vừa liệt kê, chắc chắn sẽ đem lại những mức độ khí thải nhà kính ngày một cao hơn. Chừng nào các khuynh hướng nầy còn kéo dài — và phúc trình IEA không cung cấp một bằng chứng các khuynh hướng nầy sẽ đảo ngược trong những năm sắp tới — tất cả chúng ta đang tham dự một cuộc đua để xem ai sẽ đến đích Apocalypse hay khải huyền trước.

NguyễnTrường

Irvine,California,USA

02-12-2012


[1] North America is at the forefront of a sweeping transformation in oil and gas production that will affect all regions of the world.

[2] …This is a remarkable change. It’s truly transformative. It’s fundamentally changing the energy outlook for this country. Not only will this result in a diminished reliance on imported oil, but also generate vast numbers of new jobs. This is about jobs. You know, it’s about blue-collar jobs. These are good jobs.

[3] Wall Street Jounal noted: “This is a real energy revolution, even if it’s far from the renewable energy dreamland of so many government subsidies and mandates.

[4] …The U.S. may be slightly more protected , but it doesn’t give you the energy independence some people claim.

[5] In addition, oil companies want to open up areas off the northern coast of Alaska in the Arctic Ocean, where they are not prepared to address a major oil blowout or spill like we had in the Gulf of Mexico.

[6] Taking all new developments and policies into account, the world is still failing to put the global energy system onto a more sustainable path.

[7] Historians will one day marvel that so much political and financial capital was invested in a [failed] green-energy revolution at the very moment a fossil fuel revolution was aborning.

[8] …a long-term average global temperature increase of 3,6 degrees C…

[9] …Bill McKibben: “Given those impacts, many scientists have come to think that two degrees is far too lenient a target.”…

[10] …Kerry Emanuel: “Any number much above one degree involves a gamble, and the odds become less and less favorable as the temperature goes up.”

[11] …Thomas Lovejoy: “If we’re seeing what we’re seeing today at 0,8 degrees Celsius, two degrees is simply too much.”…

Advertisements