Á CHÂU, TĂNG TRƯỞNG, ỔN HAY BẤT ỔN ĐỊNH (?)

 

“Đại Ổn Định”[1] là tên gọi dành cho kỷ nguyên kinh tế bình lặng ở Hoa Kỳ và nhiều nơi trong thế giới giàu trước khủng hoảng tài chánh.

Liệu tên gọi nầy ngày nay có thể áp dụng cho các quốc gia Á châu?

Các nền kinh tế Á châu được biết đến nhiều nhờ tốc độ tăng trưởng hơn là tỉ suất tăng trưởng ổn định qua thời gian. Chẳng hạn, từ 1996 đến 1998, tỉ suất tăng trưởng trong năm xứ lớn ở Đông Nam Á — Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam — đã thay đổi từ 7,5% xuống còn -8,3%, cho đến khi cuộc khủng hoảng tài chánh Á châu bộc phát.

Ngay cả hiện nay, các nền kinh tế tương đối mở cửa , như Đài Loan, Singapore và Thái Lan, vẫn còn giao động nhiều hơn mức trung bình toàn cầu. Đón nhận những dòng thương mãi quốc tế, sản lượng kỹ nghệ trong các xứ nầy luôn biến chuyển theo những đổi thay trong  số cầu nhập khẩu quốc tế.

Tuy nhiên, Á châu đang phát triển — có nghĩa ngoại trừ các nền kinh tế giàu như Hong Kong, Singapore,  Nam Hàn và Đài Loan — đang chịu ảnh hưởng áp đảo của các xứ đông dân với kinh tế cơ sở trên sức cầu nội địa.

Tiêu thụ của các hộ gia đình đã đóng góp phân nửa tỉ suất tăng trưởng trên 6% trong tám quý liên tiếp tính đến quý ba trong năm 2012 ở Indonesia. Kim ngạch xuất khẩu đã sụt giảm từ khoảng 35% GDP cách đây 10 năm xuống còn chưa đến 25% trong năm 2011. Thặng dư trong cân thương mãi hữu hình tính chung cho khu vực Á châu đang phát triển, phản ảnh trình độ lệ thuộc vào sức cầu ngoại quốc, đã sụt giảm hơn 50% từ 2008 đến 2011 và còn tiếp tục trong năm 2012.

Tình trạng kinh tế ổn định của Á châu cũng đã nhờ vào khả năng quản lý số cầu. Trong suốt thời gian khủng hoảng tài chánh Á châu vào cuối thập kỷ 2000, các nhà làm chính sách đã phải đối diện một thế lưỡng nan. Họ có thể bảo vệ hối suất đơn vị tiền tệ qua biện pháp nâng cao lãi suất. Nhưng biện pháp nầy gây quá nhiều khó khăn cho giới vay mượn. Hoặc có thể để giá trị đơn vị tiền tệ quốc gia sụt giảm và hạ thấp lãi suất. Nhưng biện pháp nầy có thể làm gia tăng gánh nặng nợ nước ngoài, và vì vậy, cũng trói tay giới vay mượn.

Vào cuối cuộc khủng hoảng, Á châu đã thoát khỏi vấn nạn. Hầu hết các quốc gia Á châu đã tích lũy được một số ngoại tệ dự trữ ấn tượng và thoát dần khỏi các món nợ nước ngoài nhờ ở số đầu tư ngoại quốc và trái phiếu ngân khố. Bởi lẽ những tiêu sản hay trái phiếu đều tính  bằng đơn vị tiền tệ quốc gia hay nội tệ, những món nợ giờ đây không gia tăng khi giá trị đơn vị tiền tệ quốc gia sụt giảm.

Nhờ đó, các nhà làm chính sách có thể cắt giảm lãi suất khi kinh tế có dấu hiệu suy thoái. Chẳng hạn, ngân hàng trung ương Indonesia đã cắt giảm lãi suất đến 3% từ tháng 12-2008 đến tháng 8-2009; và cắt giảm lãi suất một lần nữa, 1% từ tháng 10-2011 đến tháng 2-2012.  Một phần nhờ ở khả năng của ngân hàng trung ương lúc đó đã có thể đáp ứng các tín hiệu của nền kinh tế, tỉ suất tăng trưởng từ năm nầy qua năm khác của Indonesia trong 20 quý vừa qua đã ổn định nhất  trên thế giới.

Chính sách tiền tệ khôn ngoan cũng là một trong những lý do đã được đơn cử để giải thích” Đại Ổn Định” của các nền kinh tế G7. Một lý do khác là chiều sâu và trình độ tinh vi của các hệ thống tài chánh của thế giới giàu, một hệ thống nhiều người tin đã cho phép các hộ gia đình duy trì mức chi tiêu ổn định, các xí nghiệp có thể vay mượn từ nhiều nguồn vốn, và các ngân hàng cải thiện đối chiếu biểu.

Cả hai trụ cột của ổn định trên đây trong thực tế đã tỏ ra chỉ là những bề ngoài giả tạo. Các kinh tế gia vẫn chưa thể đồng ý về một giải thích nghiêm túc  Đại Ổn Định trước khi lâu đài trên cát sụp đổ.

Điều đáng lo ngại là Đại Ổn Định Á châu cũng đã đi kèm với bong bóng tín dụng  gia tăng nhanh chóng. Theo Fred Neumann thuộc HSBC, lực đòn bẫy hiện nay đang lên cao hơn bất cứ lúc nào kể từ cuộc khủng hoảng tài chánh Á châu. Đà bành trướng tín dụng có thể phản ảnh một thẩm thấu tài chánh sâu xa và lành mạnh, một thực tế nhiều kinh tế gia tin là nguyên do giúp đem lại tăng trưởng và ổn định.

Nhưng lực đòn bẫy gia tăng cũng có thể là một đe dọa cho sự ổn định. Một số kinh tế gia khác đưa ra luận cứ một sự giảm bớt tính thay đổi bất thần hay khó tiên liệu cho phép các xí nghiệp và các hộ gia đình vay mượn nhiều hơn để đầu tư. Theo họ, ổn định cũng rất có thể trở thành bất ổn. Lực đòn bẩy thái quá không đòi hỏi phải quá lạc quan, mà chỉ một sự tin tưởng thái quá, không phải tăng trưởng nhanh, mà chỉ tăng trưởng bền vững.

May thay, các nhà làm chính sách Á châu không hề chia sẻ niềm tin Tây phương ở hệ thống tài chánh có khả năng tự điều chỉnh. Á châu đã đi tiên phong trong các quy luật thận trọng vĩ mô, được thiết kế để ngăn ngừa tín dụng thái quá và các dòng chảy tư bản, ngay cả khi không  nâng cao lãi suất. Chẳng hạn, trong tháng 3-2012, Indonesia đã thắt chặt “tỉ suất tín dụng-giá trị bất động sản” (loan-to-value ratios on mortgages), và áp đặt mức tiền mặt tối thiểu phải trả trước khi cấp tín dụng mua xe.

Tuy nhiên, Neumann vẫn nghi ngờ thắt chặt quy luật thận trọng vĩ mô hoàn toàn hữu hiệu. Chừng nào lãi suất còn quá thấp, tín dụng vẫn có thể rất dễ  gia tăng quá đáng. Chẳng hạn, nếu các định chế giám sát hạ thấp “tỉ suất vay mượn-giá trị trong bất động sản”, các ngân hàng chỉ cần định giá bất động sản cao hơn. Nếu các giới chức điều hành ngăn cản người ngoại quốc tậu mãi các bất động sản, như Hong Kong đã làm gần đây, các nhà đầu tư ngoại quốc sẽ tìm các cách sáng tạo để tránh né các quy luật.

Tự do nâng cao các tỉ suất của Hong Kong đang bị hạn chế, vì lẽ đơn vị tiền tệ của Hong Kong hiện đang được nối kết với đồng mỹ kim theo một tỉ suất cố định, một trong số ít trường hợp nối kết còn thượng tồn qua cuộc khủng hoảng tài chánh Á châu. Các ngân hàng trung ương khác không có lối thoát đó. Tính uyển chuyển của đơn vị tiền tệ đã đem lại cho các quốc gia sự tự do cắt giảm lãi suất khi tăng trưởng chậm lại. Nó cũng có thể cho phép nâng cao lãi suất khi tín dụng giao động quá đáng đe dọa  — ngay cả khi lãi suất đang ở gần số không như ở Hoa Kỳ, Âu châu và Nhật Bản. Nếu tăng trưởng kinh tế ổn định cho phép giới cho vay hay vay mượn hành động quá trớn, tình trạng nầy rất có thể gieo mầm tự diệt.  Và cũng chẳng có gì hay ho trong trường hợp nầy.

THẾ GIỚI TRONG NĂM 2060

Trong các xứ giàu với gánh nặng nợ nần, phạm vi làm chính sách chỉ mang tính ngắn hạn: hồi phục là ưu tiên. Những dự phóng dài hạn từ OECD có thể là một toan tính không thích ứng. Tuy nhiên, những dự phóng như thế là một nhắc nhở hữu ích về các lực  kinh tế và nhân khẩu luôn vận hành sau hậu trường.

Những dự báo của OECD cho năm 2060 (tính theo mãi lực tương đồng không thay đổi — at constant purchasing-power parities) đặc biệt cho thấy tăng trưởng  trong các xứ đang phát triển với dân số đông thường có tác động bắt kịp nhanh chóng (fast catch-up growth). Quyền lực kinh tế sẽ dịch chuyển mang tính quyết định từ thế giới giàu qua thế giới đang phát triển.

Trong năm 2011, các thành viên OECD tính gộp đã chiếm tới 65% sản lượng toàn cầu, so với 24% của hai quốc gia TQ và Ấn Độ họp lại. Đến năm 2060, sản lượng gộp của hai quốc gia khổng lồ nầy sẽ lên đến 46% của GDP thế giới, và của các thành viên OECD co rút lại còn 42%. Kinh tế Ấn Độ sẽ lớn hơn kinh tế Hoa Kỳ chút ít và kinh tế TQ sẽ lớn hơn kinh tế Hoa Kỳ rất nhiều.

Mặc dù vậy, người TQ và người Ấn sẽ còn nghèo hơn người Mỹ. Cũng cùng những dự báo cho thấy GDP tính theo đầu người ở TQ chỉ bằng 59% so với người Mỹ; và Ấn Độ chỉ bằng 27% ở Hoa Kỳ. Và người Mỹ cũng sẽ giàu hơn so với người dân trong vài xứ phát triển như Pháp và Ý.

AI LAO

Ai Lao, một xứ nghèo với một dân số vỏn vẹn 6 triệu, tiếp giáp với Việt Nam và Thái Lan, nằm sâu trong lục địa, xa các đại dương, và chẳng được thế giới  quan tâm nhiều. Tuy vậy, gần đây, Ai Lao cũng đang trải nghiệm một thời kỳ sáng sủa dưới ánh sáng mặt trời.

Trong tháng 9-2012, Ai Lao đã gia nhập Tổ Chức Thương Mãi Quốc Tế (World Trade Organization — WTO). Trong tuần lễ  đầu tháng 11-2012, Ai Lao  là nước chủ nhà có trách nhiệm tổ chức phiên họp Á-Âu thứ 9, quy tụ cấp lãnh đạo từ các vùng ít năng động nhất cho đến năng động nhất thế giới.

Một nền kinh tế nước nhỏ , xuất khẩu vàng, đồng, và thủy điện, đã phơi bày được những nét đặc trưng của chính ḿnh, và là một trong những quốc gia có tỉ suất tăng trưởng không những cao nhất mà còn bền vững nhất.

Từ 2002 đến 2011, tăng trưởng kinh tế lên xuống trong một giới hạn nhỏ hẹp, chưa bao giờ dưới 6,2% và trên 8,7%. Chỉ có ba quốc gia Á Châu đã ghi nhận một tỉ suất tăng trưởng với độ sai lệch chuẩn (standard deviation) ổn định. Hai  quốc gia kia là Indonesia và Bangladesh.

Tăng trưởng kinh tế trong một Á châu đang phát triển ngày nay ổn định và nhanh hơn tăng trưởng trong các nền kinh tế phát triển thuộc nhóm G7. Tỉ suất tăng trưởng trong thập kỷ 2002-11 ổn định hơn bất cứ thập niên nào kể từ 1988-97.

CAMBODIA

Mười thành viên trong Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) luôn tìm cách ngăn ngừa các cường quốc Tây Phương xen vào nội bộ của một số thành viên.

Trong những năm gần đây, thành tích nhân quyền của Myanmar (Miến Điện) là vấn đề nhức nhối nhất. Tuy nhiên, trong khi lãnh đạo ASEAN tập trung tới Phnom Penh, thủ đô của Cambodia, đễ tham dự hội nghị thượng đỉnh thường niên từ 18 đến 20-11-2012, Myanmar, bắt đầu tự do hóa và mở cửa, đã được Tây Phương hồ hởi đón nhận. Trong lúc đó, nước chủ nhà Cambodia lại là cái đích của mọi phê bình chỉ trích.

Kể từ ngày gia nhập ASEAN năm 1999, Phnom Penh đã thay đổi và trở thành một thành phố nhộn nhịp. Nền kinh tế, một phần nhờ xuất khẩu đồ may mặc, đang tăng trưởng ổn định 6% mỗi năm. Thủ tướng Hun Sen có nhiều thứ để khoa trương tại hội nghị thượng đỉnh Đông Á, đang diễn ra song song với hội nghị thượng đỉnh ASEAN, với sự tham dự của Barack Obama và nhiều lãnh đạo thế giới khác. Đây là đỉnh cao trong năm dưới quyền chủ tọa luân phiên của Cambodia. Phnom Penh đã được tân trang để đón tiếp. Nhưng đánh bóng hình ảnh của Hun Sen không phải là việc dễ làm.

ASEAN vẫn còn nhức nhối với tai họa trong diễn đàn an ninh thường niên và hội nghị cấp ngoại trưởng tại Phnom Penh hồi tháng 7-2012. Lần đầu tiên, hội nghị đã không thể nhất trí ngay cả thông qua một thông cáo chung. Philippines và Việt Nam muốn ASIAN nhắc đến những tranh chấp với TQ trong vùng Biển Nam Hải. Cambodia, rõ ràng do gợi ý  của TQ, đã chống đối. Hun Sen hiện nay hình như đang chịu ảnh hưởng nặng nề của TQ. Tháng 9-2012, TQ  loan báo dành cho Cambodia vay nhẹ lãi 500 triệu mỹ kim.

Bất đồng trong nội bộ ASEAN đang kéo dài. Đại sứ Cambodia ở Philippines đã phải rời khỏi Manila và vẫn chưa được thay thế. Đây là lần thứ hai Cambodia đã xung đột nghiêm trọng với một thành viên sáng lập ASEAN.  Trong năm 2011, thế giới đã chứng kiến xung đột quân sự giữa Cambodia vàThái Lan vì tranh chấp biên giới.

Đối với các nhà hoạt động nhân quyền, hội nghị thượng đỉnh là cơ hội để nhắc nhở thế giới về thành tích đàn áp của Hun Sen. Là thành viên của Khmer Rouge trước đây, Hun Sen đã thành công vươn lên từ chế độ được Việt Nam hậu thuẩn và đã tái xây dựng Cambodia từ đổ nát bởi chế độ diệt chủng Pol Pot trong các năm 1975-79. Năm 1985, Hun Sen đã trở thành thủ tướng một nhà nước theo mô hình độc đảng. Sau các thỏa ước hòa bình Paris năm 2001, Liên Hiệp Quốc đã tìm cách “gieo mầm dân chủ đa đảng”[2] trong quốc gia cằn cỗi thiếu may mắn nầy. Kể từ đó, Hun Sen hình như luôn tìm cách diệt sạch các mầm non dân chủ. Sau khi thất bại trong cuộc bầu cử đầu tiên trong năm 1993,  Hun Sen đã tranh đấu thành đạt một hình thức liên hiệp. Tuy nhiên, chia quyền không phải là sở trường của Hun Sen, và năm 1977 ông ta đã giàn dựng một cuộc đảo chánh.

Hầu hết các làng mạc, nơi 4/5 trong số 14 triệu dân Cambodia sinh sống, đều có trường học mang tên Hun Sen, cùng với trụ sở của Đảng Nhân Dân Cambodia (Cambodian People’s Party — CPP). Đã hẳn, CPP cũng giữ địa vị độc tôn áp đảo như thời độc đảng trước đó, và đã biến Hun Sen thành lãnh tụ nắm quyền lâu dài nhất ở Á châu. Đảng kiểm soát hầu hết các phương tiện truyền thông và sách nhiễu phe đối lập dưới quyền lãnh đạo của Sam Rainsy, người đang đối diện với một án tù 11 năm về nhiều tội phạm không mấy rõ ràng và đã phải sống lưu vong.

Một phúc trình mới của Human Rights Watch, một nhóm vận động nhân quyền có trụ sở ở New York, đã ghi nhận: từ 1991 đến nay, hơn 300 nạn nhân đã tử vong trong các cuộc tấn công chính trị. CPP luôn dễ dàng thắng cử, ngay cả khi không có bằng chứng vi phạm luật bầu cử.

Phe đối lập, nay được gọi là Đảng Cứu Nguy Quốc Gia (National Rescue Party), hậu thân của Đảng Sam Rainsy (SRP) gần đây đã sát nhập với một đảng khác, đã đe dọa tẩy chay cuộc bầu cử sắp tới vào tháng 7-2013, trừ phi Rainsy có thể ra tranh cử (một điều khó thể xẩy ra vì Rainsy đã bị tước quyền bỏ phiếu bởi án tù) và ủy hội bầu cử phải được hoàn toàn độc lập. Trong thực tế, các thành phần đối lập gợi ý một cuộc tẩy chay rất có thể là biện pháp cuối cùng.

Vài nhà phê bình đã chỉ trích cuộc bầu cử sắp tới vì chiến dịch đàn áp mới đây. Mam Sonando, một nhà báo được nhiều người biết tiếng và đối lập với Hun Sen, đã bị tuyên án 20 năm tù trong tháng 10-2012, vì tội lãnh đạo một cuộc dấy loạn trong tháng tư với 13 phụ nữ sau đó đã bị tống giam. Cuộc dấy loạn thực ra chỉ là một cuộc biểu tình phản đối một vụ chiếm đất, trong đó một bé gái 14 tuổi đã bị nhà cầm quyền bắn chết.

“Chiếm đoạt đất đai — hay thực thi chương trình nhượng đất kinh tế”[3] — là một âu lo nhân quyền khác,  như đám mây mù làm lu mờ u ám những ngày nắng đẹp của Hun Sen. Trên nguyên tắc, một ý tưởng với nhiều ý nghĩa đem “lợi ích kinh tế nhờ kích cỡ lớn”[4]đến vùng nông thôn qua hình thức xã hội hóa đất canh tác —  một chương trình dễ biến thành một “ác mộng  giải tỏa cưởng bách và không được bồi thường thỏa đáng”[5].

Các cuộc phản kháng đã bị đàn áp bằng bạo lực và vài người trong nhóm tổ chức đã bị giết hại. Một lệnh tạm ngưng chương trình nhượng đất kinh tế  đã được thi hành từ tháng 5 -2012, khi kế hoạch cấp bằng khoán sở hữu đang được tiến hành.

Dù sao, các cơ quan thiện nguyện NGO và các doanh nhân luôn xem đây như một chương trình “giả hiệu”[6]. Việc “giải tỏa” trong thực tế vẫn tiếp tục đối với những nhượng địa đang trong quá trình được chấp thuận.

Mậu Dịch Công Bằng?

Vào cuối tháng 10-2012, một số dân biểu Hạ Viện Hoa Kỳ đã viết thư thỉnh cầu TT Obama phải lên án Hun Sen khi đến Phnom Penh. Nghị Viện Âu châu cũng kêu gọi chấm dứt chương trình xã hội hóa đất kinh tế và phóng thích tù nhân chính trị. Một chiến dịch vận động hủy bỏ chế độ hàng xuất khẩu của Cambodia vào Liên Hiệp Âu Châu được miễn thuế quan đã được đẩy mạnh. Mục tiêu đặc biệt  là đường-từ-mía của Cambodia xuất khẩu qua EU, hay “đường máu” (blood sugar), được sản xuất từ “đất kinh tế giải tỏa”[7].

Myanmar (Miến Điện) đang trong tiến trình được tái thụ hưởng chế độ đặc ân quan thuế nầy. Khi chế độ đặc ân quan thuế được áp dụng, Myanmar có thể trở thành một xứ cạnh tranh đáng ngại đối với kỹ nghệ hàng may mặc xuất khẩu của Cambodia.

Hun Sen chắc phải xem những chiến dịch vận động trên đây là cực kỳ bất công. Trên nhiều phương diện như  hạ tầng cơ sở, pháp luật và quy lệ, cũng như ổn định chính trị, Cambodia là quốc gia có điều kiện thuận lợi cho đầu tư ngoại quốc hơn Myanmar rất nhiều. Và Cambodia cũng không có chính sách kỳ thị sắc tộc đáng ghê tởm như đã xẩy ra ở  Rakhine thuộc Myanmar trong tháng 10-2012. Các quốc gia thành viên ASEAN khác cũng coi thường các “nguyên tắc dân chủ” [của Tây phương], nhưng rõ ràng “ít ghê tởm hơn nhiều”.

Tuy vậy, đó là bài học Hun Sen đã không ngừng thuyết giảng phe đối lập Cambodia trong suốt ba thập kỷ vừa qua: cuộc sống luôn bất công.

MYANMAR

T T Barack Obama chỉ đến thăm Myanmar chưa đến một ngày. Tuy vậy, khi đến Myanmar ngày 19-11-2012,  chặng đầu trong chuyến thăm ba quốc gia Đông Nam Á, đây vẫn là thời khắc đáng ghi nhớ: lần đầu tiên một tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm đã đến thăm và chính thức chuẩn nhận sự quy phục của một quốc gia thù nghịch với Hoa Kỳ trước đây.

Cách đây không lâu, Hoa Kỳ đã gọi Myanmar là một “tiền đồn chuyên chế và một đe dọa bất thường và đặc biệt đối với an ninh quốc gia và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ”[8]. Nhưng đó là trước khi Aung San Suu Kyi được phóng thích sau nhiều năm bị quản thủ tại gia vào cuối năm 2010; và Thein Sein, tổng thống mới của Myanmar, cũng đã hứa hẹn đưa đất nước của ông theo con đường mở cửa và cải cách.

Ngày nay hai bên đã vô cùng thân thiện. Tuy nhiên, sự kiện chỉ vài tháng trước đó tên của Thein Sein đã  được vội vã xóa khỏi “danh sách chiếu khán đen” lâu ngày, để giúp ông dễ dàng gặp “các bạn mới trong chính quyền Obama ở New York”, cho thấy các biến cố đã xẩy ra khá nhanh chóng.

Quá nhanh, đối với một số người. T T Obama tuyên bố ông đến Myanmar để tưởng thưởng chế độ về “những đổi thay dân chủ” trong hai năm qua, và để khuyến khích đẩy mạnh cải cách. Vài nhà tranh đấu và người Miến Điện lưu vong đã chỉ trích sự vội vã của tổng thống. Họ công nhận Myanmar đã có tiến bộ, nhưng lập luận, hiện còn quá sớm để một tổng thống Hoa Kỳ phải ban cấp danh dự của một cuộc thăm viếng chính thức và tưởng thưởng  một chính quyền đang giam giữ các tù nhân chính trị và theo đuổi những cuộc chiến bẩn thỉu chống lại nhân dân của chính mình, như sắc dân Kachin.

Ngoài ra, gần đây hơn, trong các biến động phe phái trong vùng Rakhine ở miền Tây Myanmar, nạn nhân chính yếu là sắc dân thiểu số Hồi giáo Rohingya. Kể từ khi biến động xẩy ra trong tháng sáu, số nạn nhân đã lên đến hàng trăm thương vong  và trên 300.000 người vô gia cư. Sự bất lực hay thiếu ý chí của chính quyền chận đứng các cuộc tấn công vào nhóm Hồi giáo Rohingya, một sắc dân vô quốc tịch mặc dù nhiều thế hệ đã sống liên tục trên lãnh thổ Myanmar, đã gieo nghi ngờ về thành tích nhân quyền và đãi ngộ các sắc dân thiểu số bên trong Myanmar.

Nhiều quan ngại tương tự đã là nguyên nhân của những than phiền về chuyến thăm ngắn ngũi của T T Obama đến Cambodia. Tổng Thống đã đến Phnom Penh trong hai ngày 19 và 20 tháng 11 để tham dự phiên họp thượng đỉnh Đông Á thường niên. Nhưng nhiều người, kể cả các dân biểu Cộng Hòa và Dân Chủ, đã nghi ngờ về sự khôn ngoan của một lập trường quá gần gũi với một Hun Sen độc tài, một thủ tướng trị vì với bàn tay sắt trong gần ba thập kỷ. Chỉ ở Thái Lan, quốc gia Obama cũng đã thăm viếng, là nơi cuộc công du của  tổng thống đã ít gây ra tranh cãi.

Tuy nhiên, lý do chính để gạt bỏ mọi quan ngại và chỉ trích phê bình là “chốt Á châu” của Hoa Kỳ và sự tranh đua địa chính trị giành chư hầu và ảnh hưởng với một TQ đang đi lên. Myanmar, có chung một biên giới dài 2.000 cây số (1.250 miles) với TQ, đang được xem như phần thưởng huyết mạch trong vụ tranh đua. Quyết định viếng thăm Myanmar sớm sủa của Obama đã gửi một thông điệp rõ ràng về ý định của Hoa Kỳ.

Cuộc viếng thăm cũng sẽ được sử dụng để biện minh cho chính sách đối ngoại hòa hoãn hơn, một chính sách Obama đã hứa hẹn trong bài diễn văn bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống trong tháng giêng 2009, tiếp theo sau vị tổng thống tiền nhiệm hiếu chiến — George W. Bush.

Năm 2009, Obama đã dang tay chào đón “những chế độ ngoài vòng pháp luật”  nhưng đã sẵn sàng “mở nắm tay” (unclench their fists) đón nhận. Chính sách đã đem lại rất ít hiệu quả từ phía Bắc Triều Tiên và Iran; nhưng lần nầy Obama ít ra cũng đã có thể xiết chặt một “bàn tay đẫm mồ hôi” đang hồi hộp chờ đợi từ phía Myanmar.

Trước kia, Hoa Kỳ luôn chú tâm cô lập hóa chế độ quân sự với các chế tài kinh tế toàn diện được áp đặt sau sự đàn áp phong trào dân chủ vào đầu thập kỷ 1990 và quản thúc tại gia lãnh đạo của phong trào, Suu Kyi. Chính quyền Obama hứa sẽ thực thi các biện pháp chế tài, nhưng cùng lúc cũng nói chuyện trực tiếp với giới lãnh đạo Myanmar, với sự đồng tình của Suu Kyi.

Chính sách can dự thực tế  rõ ràng đã đem lại kết quả. Các cuộc viếng thăm và đề nghị trợ giúp của Mỹ đã được đáp ứng tích cực với những nhượng bộ của chế độ: phóng thích tù nhân (thêm một đợt ngay trước ngày Obama đến), các cuộc bầu cử phụ tự do và công bằng, nới lỏng các biện pháp kiểm duyệt đối với các cơ quan truyền thông. Tốc độ thay đổi cũng đã lúc một nhanh tiếp theo sau chuyến viếng thăm của ngoại trưởng Hillary Clinton vào cuối năm 2011. Một cử chỉ mang tính khá quan trọng khác đối với Hoa Kỳ: Thein Sein đã từ chối đề nghị  liên kết quân sự với Bắc Triều Tiên.

Cũng may, các tướng lãnh Myanmar đang thật sự mong muốn can dự. Quy chế ngoài vòng pháp luật của họ trong thế giới Tây phương và nền kinh tế rách nát là những nổi nhục lớn lao mỗi khi sánh vai với lãnh đạo các quốc gia Đông Nam Á khác. Họ cũng mong muốn chấm dứt tình trạng lệ thuộc ngày một sâu xa hơn vào TQ.

Khi người Mỹ hiểu rõ các chế tài chỉ đơn thuần xô đẩy Myanmar vào vòng tay của TQ, và vì vậy, các tướng lãnh lúc một thêm phần phẫn uất. Giới doanh thương TQ  đã đến để thống trị, nhất là trong khu vực Bắc Myanmar, khu vực bị xâu xé giữa các dự án phát triển không được người dân hậu thuẩn.

Trong bối cảnh đó, Hoa Kỳ và Myanmar đã có đủ lý do để tìm đến với nhau.

Khi Hoa Kỳ tìm cách thắt chặt quan hệ với quốc gia láng giềng, TQ đã giữ thái độ  im lặng một cách bất thường trước hành động tái định hướng của Myanmar xích lại gần với Tây Phương. Có lẽ vì Myanmar là xứ rất quan trọng đối với TQ, nhất là trong địa hạt chuyển vận dầu khí và hơi đốt thiên nhiên trong tương lai, các kế hoạch liên hệ đến hệ thống ống dẫn hơi đốt đang được xây cất vẫn được xúc tiến.

Riêng đối với Suu Kyi, người TQ hầu như không biết nhiều về bà. Tuy nhiên, một khi ảnh hưởng của bà gia tăng và được đặc biệt chú ý, tình hình sẽ thay đổi. Khuynh hướng thân Anh quốc của Suu Kyi, với người chồng, tuy đã quá cố, nhưng lúc sinh tiền, đã rất thiết tha với việc duy trì văn hóa Tây Tạng, là những yếu tố không dễ gì giúp giảm thiểu những hoài nghi ngày một gia tăng của người TQ đối với bà.

Trong lúc đó, các chuyên gia chính sách đối ngoại TQ cũng không dễ bị ru ngũ bởi những khẩu hiệu tuyên truyền ồn ào của người Mỹ về dân chủ và nhân quyền. Zhu Feng, một chuyên gia quan hệ quốc tế thuộc Đại Học Bắc Kinh, đã than phiền, “Hoa Kỳ luôn có một quan tâm chiến lược đối với TQ trong khu vực, luôn tin người Mỹ đang muốn sử dụng Myanmar như một ván nhún để nhảy vào Ấn Độ Dương”[9]. Đã hẳn, Zhu Feng không phải không có lý do.

Nói một cách khác, cuộc viếng thăm của Obama rất có thể chỉ làm tăng thêm cảm nghĩ của người TQ như một nỗ lực bao vây âm ỉ của người Mỹ. Các chuyên gia TQ đang chăm chú theo dõi lời loan báo khác thường trong tháng trước — trong năm tới quân đội Miến Điện sẽ có thể tham dự, với tư cách quan sát viên, các cuộc tập huấn quân sự thường niên trong khu vực với các quốc gia bạn, được biết dưới tên gọi Cobra Gold. Cuộc tập huấn trong năm 2012 ở Thái Lan bao gồm các quân nhân từ Nam Hàn, Indonesia, Nhật và Singapore. Nếu Myanmar tham dự, lúc đó Bắc kinh có thể  hiểu như những âm mưu trong “chốt Á châu”của Obama. Đó là điều hiễn nhiên và rất dễ hiểu.

Thử  tưởng tượng TQ đang vun quén các đồng minh quân sự trong khắp Tây Bán Cầu. Thử tưởng tượng TQ đang thành công lôi cuốn Mexico và Canada, các quốc gia vùng Caribbean và Trung Mỹ vào quỹ đạo của mình. Thử tưởng tượng TQ đã bắt đầu bán các kỹ thuật quân sự tiền tiến cho các quốc gia vừa nói.

Đến đây, các bạn sẽ rất dễ dàng tưởng tượng được phản ứng của giới lãnh đạo Hoa Kỳ!

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

11-12-2012

 

 


[1] Great Moderation…

[2] …the United Nations tried to plant a multiparty democracy in this infertile soil…

[3] …Land grabs — or the enforcement  of economic land concessions…

[4] …economies of scale…

[5] …abusive, uncompensated eviction…

[6] …as a sham.

[7] …blood sugar — Cambodian sugarcane allegedly produced on grabbed land.

[8] …an outpost of tyranny and an unusual and extraordinary threat to the national security and foreign policy of the United States.

[9] America always had a strategic concern with China in the region, assuming that it wants to use “Myanmar as a springboard to the Indian Ocean”.

Advertisements