CỬ TRI MỸ CẦN HIỂU RÕ CÁC CUỘC CHIẾN NHÂN DANH HỌ

Trong một cuộc phỏng vấn, Phạm Tô (?), 78 tuổi, đã kể lại cho Nick Turse những gì một người dân nông thôn như ông đã phải trải nghiệm trong suốt cuộc chiến Việt Nam.  Và sau đây là tóm tắt câu chuyện.

Vào năm 1965, phi cơ oanh tạc và trọng pháo Hoa Kỳ đã chính thức ghi dấu những ngày đầu của chiến tranh Việt Nam qua các phi vụ dội bom cùng lúc với pháo kích. Không một ai có thể biết chính xác bao nhiêu thường dân Việt Nam đã phải thiệt mạng hay bị thương trong những năm sau đó. Theo nhiều gia đình nạn nhân trong vùng nông thôn, con số không thể nào kể xiết. Quá nhiều thường dân thương vong!

Tình hình lúc một tệ hại hơn. Thuốc khai quang trải thảm, phi cơ trực thăng bắn giết thường dân khắp các vùng nông thôn. Cho đến năm 1969, các cuộc tấn công bằng oanh tạc cơ và trọng pháo đã diễn ra suốt ngày đêm. Dân quê phải trốn tránh. Một số đã phải vào lánh nạn tận rừng sâu. Một phần nào họ đã tránh được đạn bom, nhưng đổi lại đã phải thiếu ăn thiếu mặc. Một số khác buộc lòng đã phải đến tạm cư trong các khu vực ngoại ô các thành phố lớn nhỏ hay các trại tỵ nạn hoàn toàn thiếu vệ sinh. Những ai bám lấy làng mạc ruộng đồng, dĩ nhiên, đã phải trải nghiệm đủ thứ nguy cơ mỗi khi quân đội chính quyền đại diện  đến càn quét — nhà cửa vườn tược bị đốt phá,  đàn ông bị bắt bớ bắn giết, đàn bà bị hãm hiếp…

Đó là chiến tranh Việt Nam đối với dân chúng trong vùng nông thôn.

NHIỀU XỨ KHÁC CŨNG CÙNG CHUNG SỐ PHẬN

Khi cuộc chiến Iraq bắt đầu, và trong nhiều năm kế tiếp, giới quân nhân, các nhà bình luận, các chính trị gia, và người dân Hoa Kỳ đã đặt câu hỏi: phải chăng sự thảm bại của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á đang tái diễn?  Liệu sẽ có một Việt Nam khác? Và cuộc chiến sẽ trở thành một vũng lầy?

Một trường hợp tương tự cũng đang xẩy ra ở Aghanistan. Nhiều năm sau biến cố 11/9, khi cuộc chiến đã và đang gặp nhiều khó khăn, câu hỏi “một Việt Nam của Obama?” luôn được đặt ra.

Trong thực tế, mãi cho đến tháng 10-2009, đa số người Mỹ mới thực sự tin, chiến tranh Trung Đông đang trở thành “một Việt Nam khác”. Quả thật, Iraq và Afghanistan đã chứng tỏ một tương đồng lưỡng diện với Việt Nam,  sau khi các tướng lãnh ít ra cũng đã bắt đầu đọc và viện dẫn các sách báo xét lại cuộc chiến. Họ xác quyết, mặc dù đã có rất nhiều bằng chứng trái ngược, giới quân sự Mỹ đã thắng ở Việt Nam trước khi các chính trị gia, các cơ quan truyền thông, và phong trào phản chiến đánh mất  thắng lợi của họ.

Giờ đây, họ nhấn mạnh, cùng một phương thức vẫn có thể được sử dụng để đem lại chiến thắng. Và vì vậy, một giải pháp đã thất bại từ một cuộc chiến đã thất bại, giải pháp chống dấy loạn, hay COIN, đã được phô trương như một vạn ứng linh đơn chặn đứng tai họa đang đợi chờ.

Các so sánh, đối tượng của làn sóng tranh luận — giữa hai cuộc chiến đang tiếp diễn với cuộc chiến Việt Nam, một cuộc chiến vẫn còn từ chối lùi vào lịch sử và quên lãng — đầy dẫy trên các nhật báo, các tạp chí, và trên mạng internet, cho đến khi David Petraeus, vị tướng COIN hàng đầu, người đã viết luận án tiến sĩ về những bài học của Chiến Tranh Việt Nam, được giao phó trách nhiệm áp dụng các bài học được rút tỉa để đem lại chiến thắng trong hai cuộc chiến đang tiếp diễn.

Và như mọi người đều biết, quân đội Hoa Kỳ cuối cùng cũng đã phải triệt thoái khỏi Iraq, trong khi cuộc chiến Afghanistan vẫn tiếp tục, đang rơi vào bế tắc, và quân Mỹ đang phải đối mặt với các cuộc tấn công “green-on-blue” do các lực lượng an ninh  nước chủ nhà.

Và rồi tướng Petraeus đã được triệu hồi về Hoa Thịnh Đốn đảm nhiệm chức vụ Giám Đốc CIA và lãnh đạo hai cuộc chiến ngụy trang ở Pakistan và Yemen, trước khi từ chức về hưu trí trong nhục nhã, sau vụ “scandal” tình dục.

Tuy đã phung phí nhiều giấy mực và thì giờ để bàn luận về những tương đồng với Việt Nam, hầu như không một phóng viên báo chí, một nhà bình luận, một sử gia, một tướng lãnh, một chính trị gia nào… nhắc đến cuộc chiến Việt Nam như chính nạn nhân nông thôn, Phạm Tô, đã trải nghiệm. Họ đã bỏ sót một điểm tương đồng giữa các cuộc chiến của Hoa Kỳ trong cả 3 xứ: những tang tóc đau thương của người dân trong vùng nông thôn.

Với tất cả các khác biệt, những tương đồng gò ép và vá víu, và những so sánh gượng gạo, một sợi dây nối kết các cuộc chiến ở nước ngoài của Hoa Thịnh Đốn trong nửa thế kỷ vừa qua đã  luôn cho thấy người Mỹ, ít ra trong những năm gần đây, cũng vẫn tỏ ra rất ít quan tâm: những khổ đau mất mát của người dân bản xứ.

Trong thực tế, sự đau khổ của thường dân,  điểm đặc trưng định hình  chiến tranh hiện đại , rất hiếm khi được thảo luận trong các hành lang quyền lực hay các cơ quan truyền thông dòng chính.

SỐ TỬ VONG NGOÀI SỨC TƯỞNG TƯỢNG

Phạm Tô đã may mắn. Phạm Tô và Phạm Thắng, một nạn nhân khác và một người láng giềng, đã nói với Nick Turse: trong số khoảng 2.000 dân làng trước chiến tranh, vỏn vẹn chi còn trên dưới 300 người sống sót. Bom đạn do phi cơ và trọng pháo, các cuộc tàn sát, bệnh hoạn, đói rách… gần như đã tiêu diệt trọn vẹn dân làng. Phạm Thăng cho biết: “Quá nhiều người đói khát. Thiếu áo cơm, nhiều người đã chết.  Nhiều người khác bệnh hoạn, thiếu thuốc thang,  họ cũng đã chết. Nhưng bom đạn còn giết nhiều người hơn nữa. Tất cả đều chết vì chiến tranh”.[1]

Theo các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại Học Y Khoa Harvard và Đại Học Washington,  không kể những nạn nhân của bệnh tật, đói rét, thiếu săn sóc y tế, ít ra 3,8 triệu dân Việt đã chết thê thảm vì chiến sự. Theo ước lượng của Nick Turse, 2 triệu trong số nầy là thường dân. Sử dụng phương pháp dự phóng hết sức bảo thủ, khoảng 5,3 triệu nạn nhân đã bị thương tích trong suốt cuộc chiến trên tổng số 7,3 triệu thường dân tàn phế vì chiến tranh.

Ngoài những con số trên đây, còn cần phải tính thêm 11,7 triệu người Việt Nam đã  phải rời bỏ nhà cửa ruộng vườn đi lánh nạn, khoảng 4,8 triệu bị nhiễm chất độc da cam, từ 800.000 đến 1,3 triệu trẻ mồ côi, và một triệu quả phụ.

Các con số trên đây quả thực quá kinh khủng, những khổ đau không thể tả và hầu như  không thể hiểu nổi đối với người Mỹ, nhưng có lẽ sẽ không mấy xa lạ đối với người dân Iraq.

Không ai có thể biết rõ số dân Iraq đã thiệt mạng sau khi người Mỹ phát động cuộc chiến tranh xâm lược năm 2003. Trong một xứ với một dân số ước tính vào khoảng 25 triệu vào thời điểm đó, một nghiên cứu được thảo luận khá nhiều  — kết quả đã được đăng trên tạp chí y khoa Anh quốc  “The Lancet” — đã cho biết trên 601.000 tử vong hay “violent ‘excess deaths’ ” tính đến năm 2006.

Một nghiên cứu khác cho thấy hơn 1,2 triệu thường dân Iraq đã chết, kể cả các xung đột nội bộ bắt nguồn từ chiến tranh, tính đến năm 2007. Hảng Thông Tấn Associated Press đã thu thập hồ sơ của 110.600 tử vong tính đến đầu năm 2009. Một  nghiên cứu y tế gia đình ở Iraq đã cho biết khoảng 151.000 tử vong tính đến tháng 6-2006. Hồ sơ chính thức do Wikileaks tiết lộ đã ghi nhận 109.000 tử vong, kể cả 66.081 thường dân từ 2004 đến 2009. Iraq Body Count cũng đã xác nhân có đầy đủ hồ sơ của 121.220 trường hợp thường dân bị sát hại.

Ngoài ra còn phải kể 3,2 triệu dân Iraq đã rời bỏ nơi ăn chốn ở ngay bên trong Iraq hoặc sang các nước lân cận lẫn tránh bạo lực, để chỉ tìm thấy bất trắc, thiếu ăn thiếu mặc trong những xứ như Jordan, Iran, và ngày nay ở Syria cũng đang bị chiến tranh tàn phá.

Tính đến năm 2011, trên 9% hay  khoảng 1 triệu phụ nữ Iraq đã trở thành góa phụ, một con số đã gia tăng nhanh chóng trong những năm sau ngày chiến tranh chiếm đóng của Mỹ. Một nghiên cứu gần đây cho biết từ 800.000 đến 1 triệu trẻ em Iraq đã mất cha hoặc mẹ hay cả hai, một con số tiếp tục gia tăng với tình trạng bạo động do người Mỷ phát động nhưng chưa bao giờ dẹp tắt.

Ngày nay, Iraq,  một xứ đã trải nghiệm nạn mất máu chất xám các ngành, đang có khoảng 200 cán bộ xã hội và bác sĩ tâm thần để săn sóc toàn bộ số nạn nhân, võ trang hay không võ trang, đang trải nghiệm đủ loại chấn thương kinh tởm. Để so sánh, chỉ trong vòng 7 năm vừa qua, Cơ Quan Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ đã phải tuyển dụng 7.000 cán bộ và chuyên gia tâm thần để đáp ứng nhu cầu những người Mỹ đã bị chấn thương tâm thần do cuộc chiến.

Nhiều người Afghanistan cũng đang ở trong hoàn cảnh tương tự. Dĩ nhiên, họ cũng  đã có đủ kinh nghiệm và khả năng để thông cảm với Phạm Tô và hàng triệu nạn nhân chiến tranh Việt Nam. Từ hơn 30 năm nay, với rất hiếm ngoại lệ, Afghanistan đã luôn sống trong chiến tranh. Tất cả đều bắt đầu với cuộc xâm lăng của người Xô Viết năm 1979 và sự hổ trợ của Hoa Thịnh Đốn đối với các chiến binh Hồi giáo quá khích, những người chống đối sự chiếm đóng của người Nga.

Gần đây nhất, chiến tranh lại tái diễn, bắt đầu với cuộc xâm lăng bởi Hoa Kỳ  và các lực lượng đồng minh trong năm 2001, và từ đó, đã sát hại nhiều nghìn thường dân trong các cuộc bỏ bom từ trên không và dọc vệ đường, các cuộc tấn công cảm tử, các cuộc tấn công bằng trực thăng, các cuôc hành quân bố ráp trong đêm khuya và tàn sát không trá hình.

Vô số người Afghanistan cũng đã thiệt mạng do thiếu săn sóc y tế, bom đạn, màn trời chiếu đất, kể cả các phúc trình kinh hoàng về số trẻ con chết vì lạnh trong các trại tỵ nạn trong mùa đông 2011 và 2012.

Tất cả các nạn nhân đó cùng hàng trăm nghìn người Afghanistan di tản vì chiến tranh và mất nhà cửa ngay bên trong quê hương của họ. Hàng triệu người khác sống như những người tỵ nạn bên ngoài Afghanistan, phần lớn ở Iran và Pakistan.

Trong số phụ nữ còn sống trong nước, ước tính có tới 2 triệu góa phụ. Thêm vào đó, con số trẻ em mồ côi được ước tính lên khoảng 2 triệu. Một cuộc nghiên cứu Gallup trong mùa hè vừa qua cho thấy 96% người Afghanistan sống trong khổ đau lây lất, và chỉ khoảng 4% đang sống bám vào chiến tranh.

NGƯỜI MỸ TỴ NẠN Ở MEXICO

Đối với hầu hết người Mỹ, loại đau-thương-không-dứt-do-chiến-tranh nầy là điều không thể hiểu thấu. Rất ít người Mỹ trực tiếp trải nghiệm những gì tiền thuế của họ đã gây ra ở Đông Nam Á, Trung Đông, và Tây Nam Á trong nửa thế kỷ vừa qua.

Trong khi một số khá đông đáng ngạc nhiên người Hoa Kỳ đang phải trải nghiệm nghèo khó và thiếu thốn, rất ít người Mỹ có thể hiểu được những đau khổ tủi nhục của những nạn nhân đã phải sống qua một năm, nói gì đến 10 năm, như Phạm Tô, thường xuyên trải nghiệm và bị đe dọa bởi phi cơ oanh tạc, đạn trọng pháo, và bạo lực do bộ binh nước ngoài gây nên.

Tuy vậy, như một thử nghiệm đơn thuần trong chốc lát những gì tương tự trong tư duy của người Mỹ, thử tưởng tượng người Mỹ đã thực sự trải nghiệm một sự chiếm đóng bởi lực lượng quân sự nước ngoài.

Thử tưởng tượng hàng triệu hay ngay cả hàng chục triệu thường dân Mỹ bị tử vong hay thương tích vì hậu quả của cuộc xâm lăng và những xung đột nội bộ luôn đi kèm. Thử tưởng tượng một xứ trong đó nhà cửa của bạn bị đạp đổ trong đêm tối bởi những người ngoại quốc trẻ tuổi với súng ống, quân phục khác thường, mũ sắt, áo giáp, la ó dọa nạt bằng những thứ tiếng không thể hiểu. Thử tưởng tượng những tên ngoại quốc đó  xả súng vào các hộc bàn, hộc tủ, bàn ghế, giường chiếu, chăn mùng, hành hung vợ, chồng, anh em, con cháu trong gia đình bạn, áp dẫn những người thân của bạn ra khỏi nhà trong đêm khuya. Tưởng tượng các người nước ngoài nầy giết những “người Mỹ chống đối hay dấy loạn,” lột trần truồng, và đôi khi tiểu tiện lên thể xác, quây phim hay chụp hình những cảnh tượng đó như chiến lợi phẩm; phân thây và đứng chụp hình chung với các xác chết  của người Mỹ; và lắm  khi hiếp dâm hay sát hại bạn bè và láng giềng của họ.

Thử tưởng tượng trong chốc lát sau những cảnh bạo động tột độ nói trên, bạn và hàng triệu người như bạn đã phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn đến sống chen chúc trong những lều trại bẩn thỉu, những nhà ổ chuột chung quanh những thành phố lân cận. Thử tưởng tượng bạn phải bỏ nhà cửa của mình đến sống trong những lều trại không được sưởi ấm, không có điện nước. Và thử tưởng tượng bạn phải sống như thế  trong nhiều tháng, nếu không phải nhiều năm.

Thử tưởng tượng sự tình ngày một tồi tệ đến đổi bạn đã phải quyết định vượt biên qua Mexico,  sống một cuộc sống bất định, luôn lo lắng xứ chủ nhà có thể trục xuất bạn bất cứ lúc nào, hay liệu bạn sẽ có cơ may trở về quê quán ở Hoa Kỳ.

Thử tưởng tượng bạn phải sống như thế ngày nầy qua ngày khác cho đến một thập kỷ.

Sau các thiên tai như Bảo Sandy hay Katrina, một số người Mỹ trong một thời gian ngắn đã phải trải nghiệm một cuộc sống tương tự như hàng triệu nạn nhân chiến tranh — người Việt, người Iraq, người Afghanisan, và người nhiều xứ khác đã thường phải chịu đựng hầu như trong suốt phần lớn cuộc đời của họ.

Đối với các nạn nhân trong các vùng chiến tranh của Hoa Kỳ, không môt cơ quan hay một nhân vật quan trọng nào đứng ra tổ chức, quyên góp, gây quỹ giúp đỡ họ…

Phạm Tô và Phạm Thăng đã phải chôn xác các người thân trong gia đình, bạn bè, và láng giềng, sau khi những nạn nhân nầy bị quân đội Mỹ tàn sát trong những  cuộc  bố ráp làng xóm quê hương của chính họ; phải xây lại nhà cửa và đời sống sau cuộc chiến, không được một ai giúp đỡ.

Một điều chắc chắn đối với họ cũng như với người Iraq và Afghanistan, dưới thời quân đội Mỹ chiếm đóng: không một ngôi sao điện ảnh Hollywood nào đứng ra gây quỹ trợ giúp.  Không bao giờ.

Như Phạm Thắng đã nói với Nick Turse: “Chúng tôi đã mất mát quá nhiều người, và nhiều thứ khác. Và đất nước chúng tôi cũng đã bị ô nhiễm bởi chất độc da cam. Ngài đã đến đây để viết về cuộc chiến, nhưng ngài không bao giờ có thể hiểu được trọn vẹn câu chuyện. Hiện nay, cả hai chính quyền, hai xứ của chúng ta, đang chung sống trong hòa bình và hòa hợp. Và chúng tôi chỉ muốn phục hồi cuộc sống của chúng tôi trước đây, tại đây. Chúng tôi đã phải gánh chịu nhiều mất mát lớn lao. Chính quyền Hoa Kỳ nên đem đến sự hổ trợ, giúp cải thiện mực sống, cung cấp các dịch vụ y tế tốt hơn, xây dựng hạ tầng cơ sở như đường sá tốt hơn.”[2]

Đã hẳn, sau nhiều thất bại trong chương trình “xây dựng-quốc gia,”hay nation-building tại các vùng chiến tranh của Hoa Kỳ trong thập kỷ vừa qua, nhiều người Iraq và Afghanistan có thể  cũng cùng chung  những tâm tình cảm nghĩ. Có lẽ họ cũng sẽ sẵn sàng bày tỏ những cảm nghĩ tương tự với các nhà báo Mỹ nhiều thập kỷ sau.

Nick Turse cũng đã thú nhận, trong nhiều năm qua, ông đã phỏng vấn hàng trăm nạn nhân chiến tranh như Phạm Thắng, và Phạm Thắng cũng đã nói đúng: “Có lẽ không bao giờ tôi có thể tiếp cận đủ để thấu hiểu cuộc sống đã như thế nào đối với những người, thế giới của họ đã bị đảo lộn bởi các cuộc chiến tranh nước ngoài của Hoa Kỳ. Tôi không phải là người duy nhất. Hầu hết người Mỹ sẽ không bao giờ đặt chân đến vùng chinh chiến, và ngay cả các binh sĩ Hoa Kỳ cũng chỉ được gửi đến trong  những khoảng thời gian phục vụ có hạn kỳ, và đối với các phóng viên mặt trận và các nhân viên cứu trợ, cánh cửa ra đi vẫn luôn rộng mở. Nhưng những người dân quê vô tội, như Phạm Thắng, không bao giờ có một  lựa chọn nào khác trong suốt thời gian cuộc chiến kéo dài.”[3]

Ở Hoa Kỳ trong thời kỳ chiến tranh , ít ra còn có phong trào phản chiến, với sự tham gia của  nhiều cựu quân nhân từng tham chiến ở Việt Nam, đã cùng nổ lực mô tả nổi khổ đau mất mát ngoài sức tưởng tượng của người dân trong các vùng nông thôn.  Ngược lại, trong hơn một thập kỷ kể từ biến cố 11/9, với vài ngoại lệ hiếm hoi, người Mỹ đã luôn tách biệt với các cuộc chiến xa xôi trên địa cầu, hoàn toàn không hay biết đến nỗi khổ đau mất mát của người dân bản xứ do các cấp lãnh đạo Hoa Kỳ gây nên,  nhân danh chính họ.

Vào cuối cuộc phỏng vấn, Phạm Thắng đã hỏi Nick Turse về mục đích của cuộc phỏng vấn dài hơn một tiếng rưỡi. Qua trung gian của thông dịch viên, Nick đã giải thích, đại đa số người Mỹ hầu như không biết và không hiểu gì về nỗi khổ đau của người dân Việt Nam trong suốt cuộc chiến. Và hầu hết sách báo ở Hoa Kỳ, khi viết về những năm tháng chiến tranh, đều đã làm ngơ trước thực tế đau thương do chiến tranh gây ra.

Nick Turse đã giải thích với Thắng: ông ta muốn đem lại cho người Mỹ cơ may tìm hiểu những kinh nghiệm đau thương của người dân Việt Nam lần đầu.

Và Phạm Thắng đã hỏi thêm: “Nếu nhân dân Mỹ biết được những gì đã thực sự xẩy ra, nếu họ hiểu được những đau thương thời chiến của dân tộc Việt Nam, ngài có nghĩ họ sẽ cảm thông ?”

Nick Turse đã viết: “Không phải  đợi lâu, cuối cùng tôi cũng cần biết câu trả lời cho câu hỏi của Phạm Thắng.”[4]

QUYỀN SỐNG VÀ QUYỀN TỰ QUYẾT

Vào hồi cuối tháng 12-2001, chẳng mấy lâu sau cuộc chiến tranh Afghanistan thứ hai của Hoa Thịnh Đốn bắt đầu, trong một lễ cưới ở miền Đông Afghanistan, 110 trong số 112 dân làng tham dự đã bị B-52 và B-1B hạ sát. Sau đó cũng có  40 người Iraq khác bị thiệt mạng trong một cuộc tấn công bởi không lực Hoa Kỳ vào  một lễ cưới trong một làng gần biên giới Syria trong tháng 5-2004. Và một đoàn đón dâu khoảng 70 đến 90 người Afghanistan khác cũng đã chết trong một vụ không kích bởi không lực Hoa Kỳ trên một con lộ gần biên giới Pakistan trong tháng 7-2008. Thêm vào danh sách trên đây, con số 34 dân quê Iraq, không trang bị vũ khí, gồm đàn ông, đàn bà, và trẻ con, từ 3 đến 76 tuổi, bị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ bắn hạ trong tháng 11-2005 trong vụ tàn sát Haditha đã bị quên lãng từ lâu. Và một bé gái 14 tuổi bị lính Mỹ hãm hiếp tập thể rồi giết chết cùng với toàn thể gia đình ở Mahmudiya, phía Nam Baghdad, trong năm 2006. Và một vụ thảm sát 16 thường dân kể cả 11 trẻ em, bởi viên hạ sĩ quan Robert Bales, trong hai làng phía Nam Afghanistan trong một cuộc hành quân bố ráp ban đêm vào tháng 3-2012.

Chúng ta cũng không nên quên vụ 12 người Iraq, kể cả hai nhân viên của hãng Thông Tấn Reuters, đã bị bắn chết trên đường phố Baghdad trong tháng 7-2007,  bởi phi hành đoàn trực thăng Apache đang đùa giởn, như một băng video Wikileaks đã tiết lộ. Một đoàn gồm 60 trẻ em và khoảng 30 người lớn khác cũng đã bị hạ sát trong một vụ không kích vào làng Azizabad ở Afghanistan, vào một buổi tối tháng 8-2008, khi đang dự lễ tưởng niệm một lãnh tụ bộ lạc chống-Taliban. Hay gần đây hơn nữa, 11 thường dân Yemen, kể cả đàn bà và trẻ em, trong một xe vận tải  Toyota, đã bị phi cơ Mỹ bắn chết, tình nghi là chiến binh al-Qaeda.

Đã hẳn, bản liệt kê trên đây cũng chỉ là mặt nổi của một thực tế người Mỹ chẳng mấy quan tâm và cũng chẳng cần phải bận tâm giải thích.

Khác với các nạn nhân trong biến cố 11/9, các nạn nhân trong các cuộc chiến của Hoa Kỳ ở hải ngoại sẽ không bao giờ có tượng đài tưởng niệm, không có gấu teddy bears, không có lễ lược đặc biệt hay trang nghiêm. Không có mọi thứ.

Nạn nhân các cuộc chiến hải ngoại của Mỹ trong các xứ nói trên hầu hết đều phải cam chịu trong yên lặng và vô danh, bởi những gì cộng đồng tình báo Mỹ thích gọi là “nhiệm vụ của siêu cường cuối cùng là nhiệm vụ một quốc gia cung cấp an ninh toàn cầu,” điều nhân dân các xứ nạn nhân luôn xem như cố ý gây tang tóc  tổn thương cho người dân bản xứ.

Thêm vào đó, một nét đặc trưng định hình loại an ninh quân lực Hoa Kỳ đem lại cho các quốc gia nói trên vẫn luôn tiếp diễn ngay cả sau khi quân đội Mỹ đã triệt thoái. Chẳng hạn, quân đội Hoa Kỳ đã triệt thoái khỏi Iraq, nhưng bạo động do cuộc chiến xâm lăng và chiếm đóng khởi động vẫn chưa bao giờ chấm dứt.

Iraq Body Count cũng vừa mới phổ biến một phúc trình về số tử vong gia tăng vì bạo lực trong năm 2012, cả đối với cảnh sát Iraq (922) và dân sự (4471). Phúc trình kết luận:”Một cách tóm tắt, bằng cớ sau cùng cho thấy [Iraq] vẫn còn trong tình trạng chiến tranh ở cấp độ thấp, rất ít thay đổi từ đầu năm 2009, với một mức độ bạo lực bằng vũ khí hàng ngày, đôi khi được đánh dấu bởi các cuộc tấn công cỡ lớn với mục đích sát hại nhiều người cùng lúc.”[5]

Hiễn nhiên, người Mỹ phải đơn thuần gánh chịu trách nhiệm về tình trạng nầy, nhưng trong thực tế, vẫn không chút quan tâm.

Tuy nhiên, tưởng cũng cần ghi nhận một việc làm thực sự rất tốt khi một người Mỹ đã quan tâm và đã dành cả một thập kỷ thu thập tài liệu giúp chúng ta ghi nhớ loại “an ninh” các cuộc chiến của Hoa Kỳ từ lâu đã đem đến cho các vùng xa xôi trên hành tinh. Tác phẩm mới của Nick Turse “Kill Anything that Moves: The Real American War in Vietnam” (Giết Bất Cứ Cái Gì Động Đậy: Cuộc Chiến Thực Sự của Mỹ ở Việt Nam), đã phác họa một chân dung đáng nhớ về cuộc chiến tranh người Mỹ hình như đã không thể quên —  không giống các cuộc chiến Iraq và Afghanistan.

Ngày nay, qua công việc nghiên cứu tiên phong của ông về nổi khổ đau của thường dân, Nick Turse đang cho thấy phương cách một “Việt Nam tương tự ” (Vietnam analogy) khả dĩ ứng dụng cho Iraq và Afghanistan.

Một nét đặc trưng khác trong các cuộc chiến ở hải ngoại của Mỹ cũng cần được quan tâm. Trước khi phát động bất cứ một cuộc chiến ở một nước ngoài nào, thế giới cũng thường được nghe  chính quyền Hoa Kỳ thuyết giảng về hiện trạng vi phạm nhân quyền, thiếu tự do dân chủ, độc tài, chuyên chế, thiếu tính đại diện, tham nhũng…  của chính quyền quốc gia đối tượng. Sau khi phát động chiến tranh với bộ binh, không quân, hay hải quân Mỹ, hay quân đội của chính quyền ủy nhiệm, hay lính đánh thuê… để thay đổi chế độ, và sau khi quân đội Mỹ đã triệt thoái, nhân dân nước sở tại chỉ cần hậu thuẩn chính quyền mới do người Mỹ dựng lên, và không còn  phải âu lo về  nhân quyền, tự do, hay dân chủ…, ngay cả quyền sống trong hòa bình và quyền tự giải quyết các vấn đề nội bộ.

Hoa Kỳ quả thật  là một quốc gia vĩ đại!

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

17-01-2013


[1] So many people were hungry. With no food, many died. Others were sick and with medications unavailable, they died, too. Then there was the bombing and shelling, which took still more lives. They all died because of the war.

[2] We lost so many people and so much else. And this land was affected by Agent Orange, too. You’ve come to write about the war, but you could never know the whole story. Now, our two governments, our two countries, live in peace and harmony. And we just want to restore life to what it once was here. We suffered great losses. The U.S. government should offer asssistance to help increase the local standard of living, provide better healthcare, and build infrastructure like better roads.

[3] I’ll probably never come close to knowing what life was like for those whose worlds were upended by America’s foreign wars. And I’m far from alone. Most Americans never make it to a war zone, and even U.S. military personnel arrive only for finite tours of duty, while for combat correspondents and aid workers an exit door generally remains open. Civilians like Phạm Tô, however, are in it for the duration.

[4] Soon enough, I should finally know the answer to his question.

[5] In sum the latest evidence sugests that the country remains in a state of low-level war little changed since early 2009, with a ‘background’ level of everyday armed violence punctuated by occasional larger-scale attacks designed to kill many people at once.

Advertisements