CUỘC CHIẾN VIỆT NAM CỦA HOA KỲ: HƯ CẤU VÀ CHÂN LÝ

Trong suốt nửa thế kỷ vừa qua, người Mỹ luôn có dịp thảo luận về Cuộc Chiến Việt Nam. Có thể nào họ thực sự không hiểu họ đã bàn luận những gì?  Sau hơn 30.000 tác phẩm về cuộc chiến, điều nầy hình như khó thể xẩy ra. Tuy nhiên, đó vẫn là một sự thật.

Ngày nay, trong tác phẩm mới “Giết Bất Cứ Cái Gì Nhúc Nhích”– “Kill Anything that Moves”, Nick Turse lần đầu tiên đã tóm tắt tất cả những gì lực lượng quân sự Mỹ đã làm ở Việt Nam trong một bức tranh toàn diện. Những gì Nick Turse tìm thấy đã phơi bày một sự thật hầu như khó thể nói ra.

Tỉ mỉ sắp xếp tất cả các thông tin đã được giải mật, các tài liệu của các tòa án quân sự, các phúc trình của Ngũ Giác Đài, và các cuộc phỏng vấn các nhân chứng ở Việt Nam và Hoa Kỳ, cũng như các phóng sự báo chí đương thời và nhiều tư liệu khác, Turse đã khám phá tình tiết những tàn phá, sát hại, hãm hiếp, và tra tấn, một thời được xem như những hành vi tội ác lẻ tẻ, nhưng trong thực tế đã luôn là thông lệ, tổng kê thành một dòng chảy liên tục các hành động tàn nhẫn, tiếp diễn năm nầy qua năm khác, trong một xứ sở nạn nhân thiếu may mắn.

Đây là một thành công lớn của Turse, do tính cách đặc biệt của cuộc chiến, khi thấy được thực tế căn bản — một chân dung tổng thể xác thực những gì đã thực sự diễn ra — chưa bao giờ được ráp nối; khi với trí tưởng tượng và nhiều năm làm việc khó nhọc đã làm được điều nầy — một điều, ngay cả khi một nửa thế kỷ sau ngày cuộc chiến bắt đầu, vẫn nên và còn cần làm.

Turse xác nhận, ngay cả cho đến bây giờ, người ta vẫn chưa thể đưa ra một bức tranh với đầy đủ các con số thống kê. Tuy vậy, Nick Turse cũng đã thu thập được khá nhiều dữ kiện — chẳng hạn các con số ước tính đáng kinh ngạc, như trong suốt cuộc chiến, khoảng 2 triệu thường dân đã thiệt mạng, 5 triệu người bị thương, 3,4 triệu phi vụ oanh kích, và 30 tỉ pounds  (13,636 tỉ tấn) bom đạn, tương đương với 640 bom hạt nhân thả xuống Hiroshima ở Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Tuy nhiên, chỉ tích lũy các bằng cớ mang tính giai thoại vẫn chưa đủ. Vì vậy, trong khi cung cấp khá nhiều nhân chứng và vật chứng, Nick Turse đã bổ túc cách tiếp cận nầy. Tương tự như một thớ vải, một thực thể xã hội — một thành phố, một đại học, một cuộc cách mạng, một cuộc chiến — luôn có một mô hình và một kết cấu. Không một sự kiện thực tế nào là một ốc đảo. Mỗi sự kiện đều hàm chứa nhiều ẩn liệu liên can nhiều sự kiện vây quanh. Khi vài sự kiện liên quan được xác nhận, tất cả bắt đầu phơi bày một mẫu mực và kết cấu liên hệ.

Nick Turse luôn mời mọc chúng ta tự hỏi loại hình ảnh lớn lao nào mỗi câu chuyện hàm ngụ. Chẳng hạn, Turse viết:

“Nếu một người và một tiểu đội có thể xác quyết đã giết được nhiều kẻ địch hơn cả toàn bộ một tiểu đoàn, mà cấp trên chẳng ai nghi ngờ; nếu một tư lệnh lữ đoàn có thể thổi phồng con số địch quân tử trận bằng cách tính thêm số thường dân tử vong đếm được từ phi cơ trực thăng của mình một cách vô tội vạ; nếu một vị tướng hàng đầu có thể định chế hóa sự tàn bạo qua quyết định cho phép sử dụng bừa bãi hỏa lực trong những khu đông thường dân — lúc đó những gì có thể chờ đợi từ thuộc cấp, nhất là trong số bộ binh trẻ tuổi được trang bị vũ khí nặng, hành quân hàng tuần, giận dữ, mệt nhọc, lo sợ, thường khi không thể định vị kẻ thù,và luôn bị cấp trên gây áp lực phải bắn giết ?”[1]

Như một mạng lưới thắt chặt, các câu chuyện và phúc trình lấy từ nhiều nguồn cô đọng thành một chân dung thuyết phục không thể tránh của cuộc chiến — một chân dung, như một người Mỹ, bạn không muốn thấy; một chân dung, khi đã thấy, bạn ước muốn có thể quên đi, nhưng bạn cũng không nên quên; và các sự kiện thực tế buộc bạn phải thấy, phải nhớ, và phải ghi nhận khi tự hỏi Hoa Kỳ đã làm gì và là gì trong nửa thế kỷ vừa qua, và vẫn còn tiếp tục.

VÙNG I TIÊU THỔ…

Góc nhìn của Jonathan Schell về những vấn đề trên là một góc nhìn hết sức đặc biệt. Vào đầu tháng 8 -1967, ông đã đến Vùng I, khu vực cực Bắc các cuộc hành quân của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Jonathan đến đó trong tư cách phóng viên của báo New Yorker, để tường trình về các “cuộc không chiến” — “the air war”. Thuật ngữ sử dụng thực ra là một cụm từ sai. Quả thật như vậy, Bắc Việt không hề gửi không lực vào miền Nam, và vì vậy, đã không có “không chiến”.

Do đó,  đối với người dân Nam Việt Nam, chỉ có không tạc đơn phương của Mỹ, từ các B-52 với mẫu tàn phá trải thảm — dài một mile và rộng khoảng vài sân chơi túc cầu; đến các phi cơ oanh tạc có thể dội bom 500 pounds và bom lửa “napalm”; đến DC-3 trang bị súng liên thanh có thể bắn hàng trăm băng đạn mỗi giây; đến các đội trực thăng  lớn nhỏ dày đặc bầu trời… Tất cả các vũ khí đó luôn được liên tục bổ túc bởi các đại pháo rót vào các vùng tác xạ tự do, hay free-fire zones, từ đất liền và từ các chiến hạm ngoài khơi.

Khi Jonathan Schell tới Việt Nam, sự tàn phá các làng mạc trong vùng và di dời dân chúng vào các trại tỵ nạn dơ bẩn, hầu như đã hoàn tất. Tuy nhiên, một số không ít người tỵ nạn thường trở về làng cũ giờ đây đã trở thành những vùng tác xạ tự do. Chỉ một số ít làng mạc còn sót lại. Jonathan đã tận mắt chứng kiến sự tàn phá nhiều làng như vậy trong hai tỉnh Quảng Ngải và Quảng Tín từ ghế ngồi phía sau các Cessnas đươc gọi là Forward Air Control planes (phi cơ Kiểm Soát Không Phận Tiền Phương).

Jonathan cho biết, trong khi bay lượn ngày nầy qua ngày khác, ông đã chứng kiến nhiều dãy dài nhà cửa bốc cháy khi quân đội hành quân đi qua. Trong lúc đó, Forward Air Conrollers gọi xin chiến đấu cơ oanh tạc yểm trợ theo yêu cầu của binh sĩ hành quân phía dưới.

Trong những cuộc hành quân trước đó, dân làng đã được lùa ra khỏi khu vực đến các trại tỵ nạn. Giờ đây, sau lệnh di dời, dân chúng đã phải trải nghiệm cơn giận dữ của các cuộc tấn công trên bộ và trên không. Một vùng nông thôn đang bị xé nát thành mảnh vụn dưới mắt Jonathan.

Kết quả sâu rộng của các hành động của Mỹ trong Vùng I như vậy thật đã rõ ràng và có thể đo lường được từ trên không. Không một chính sách tiêu thổ nào được loan báo, nhưng tiêu thổ luôn đã là kết quả.

Tuy vậy, một mảng lớn còn thiếu trong trận đồ.  Đã hẳn, Jonathan không thể đích thân chứng kiến hầu hết các động thái quan trọng trên địa bàn. Ông ta có thể  phỏng vấn một vài quân nhân, nhưng những quân nhân liên hệ thường từ chối trả lời, mặc dù một quân nhân đã  bóng bẩy ám chỉ một vài động thái hắc ám.

Anh ta đã nói với Jonathan Schell: “Ông không thể nào tin nỗi, vì vậy tôi sẽ không nói cho ông nghe. Không bao giờ ai đó sẽ tìm thấy vài sự việc, và sau khi chiến tranh trôi qua, và tất cả chúng ta đã trở về với gia đình, không bao giờ  một ai khác biết được .”[2]

Nói một cách khác, cũng như nhiều phóng viên ở Việt Nam, Jonathan phần lớn chỉ thấy một khía cạnh hay nhiều lắm cũng chỉ một mảng nhỏ của cuộc chiến.

Những điều Jonathan đã thấy, tuy vậy, cũng đã rất rùng rợn, nhưng không đủ để sử dụng như một căn bản để tổng quát hóa về phương cách tiến hành cuộc chiến nói chung.

Chỉ vài năm sau, năm 1969, nhờ ở những  nổ lực kiên trì của một quân nhân can đảm, Ron Ridenhour, và của một phóng viên, Seymour Hersh, một mảng sự thật bị che đậy về các cuộc hành quân bộ binh trong Vùng I đã được phơi bày ra ánh sáng.

Đó là vụ tàn sát ở Mỹ Lai, trong đó hơn 500 thường dân đã bị sát hại một cách lạnh lùng bởi Trung Đội Charlie, Tiểu Đoàn I, Sư Đoàn 20 Bộ Binh, thuộc Chi Đoàn Americal Division. Trong những năm sau đó, tin tức nhiều vụ tàn phá khác trong vùng cũng đã lọt ra cho báo chí, thường nhiều năm sau vụ việc. Chẳng hạn, trong năm 2003, tờ Toledo Blade đã tiết lộ vụ tra tấn hai người mù bởi một đội dò thám mang tên Tiger Force. Tuy vậy, không một bức tranh toàn cảnh về tổng quan các cuộc hành quân trên bộ trong khu vực được phơi bày.

Phải đợi đến khi tác phẩm của Turse xuất bản, lúc đó thực tế hàng ngày, trong đó các hành động tàn nhẫn nói trên chỉ là một phần, mới được mang ra ánh sáng. Hầu như ngay sau khi quân đội Mỹ đặt chân đến Vùng I, một khuôn mẫu tàn bạo mới đã  được thiết kế. Mỹ Lai, như sau nầy đã được biết, là một ngoại lệ đặc biệt, chỉ vì con số nạn nhân bị tàn sát.

Turse đề nghị sử dụng vụ tàn sát ở làng Triệu Ái trong tháng 10-1967 như một khuôn mẫu. Một quân nhân thuộc trung đội thủy quân lục chiến bị tử vong vì cạm bẫy gần một ngôi làng, trong thực tế, mấy hôm trước đó đã bị quân đội Mỹ hầu như hoàn toàn thiêu rụi. Tuy nhiên, vài dân làng đã trở về tìm kiếm tài sản còn sót lại. Giờ đây, trung đội Thủy Quân Lục Chiến, bức xúc trước sự thiệt mạng của một đồng đội, nhưng không tìm được kẻ thù, đã vào làng xả súng M-16 bừa bải, đốt phá các ngôi nhà còn sót lại, và đã ném lựu đạn vào các hầm trú ẩn hay tránh bom đạn.

Một thủy quân lục chiến dẫn một phụ nữ ra đồng trống và bắn chết. Một thủy quân lục chiến khác đã báo cáo có nhiều trẻ em trong các hầm tránh bom đạn và đã cho nổ tung. Cấp chỉ huy của anh ta đã trả lời, “Loại người bẩn thỉu đó, lớn lên chúng cũng trở thành VC [Việt Cộng].” Năm hay mười người khác chạy ra khỏi hầm trú ẩn khi một lựu đạn đã được ném vào hầm. Tất cả đều bị bắn hạ.

Turse đã bình luận:

“Trong câu chuyện làng Triệu Ái, người ta có thể thấy hầu như toàn bộ cuộc chiến thu gọn. Ở đây phi cơ dội bom và trọng pháo nhã đạn dồn dập… Ở đây nhà cửa dân quê cũng đều bị cố tình thiêu rụi và dân làng bị lùa vào các trại tỵ nạn…Quân nhân giận dữ sẵn sàng đánh phá, thường sau khi trải nghiệm một vài thương vong trong đơn vị; thường dân bị kẹt dọc đường; và các sĩ quan trong địa bàn ra lệnh mập mờ hay phi pháp cho các lính trẻ đã được điều kiện hóa để tuân lệnh — đó chính là phương thức căn bản đưa đến nhiều vụ tàn sát hàng loạt bởi lính bộ binh và thủy quân lục chiến trong nhiều năm.”[3]

Sự tàn bạo thường khi trải rộng đến độ tồi bại tột cùng: tra tấn vô cớ, sát hại như thực tập tác xạ các mục tiêu, tàn sát trẻ con và trẻ sơ sinh, hãm hiếp tập thể… Sau đây là hành động điển hình của Trung Đội B, Tiểu Đoàn I, Sư Đoàn Bộ Binh 35, bắt đầu trong tháng 10-1967:

“Trung đội tình cờ gặp một bé trai không có vũ khí. Ai đó đã gặp em bé trên cánh đồi, mang em xuống, và viên trung úy hỏi ai muốn giết đứa bé, … sau đó, một lính cứu thương, Jamie Henry, đã kể lại với các điều tra viên quân đội. Một quân nhân truyền tin và một lính cứu thương tình nguyện giết. Quân nhân truyền tin đá vào dạ dày đứa trẻ và người lính cứu thương dẫn đứa bé ra sau một tảng đá và tôi đã nghe một tràng đạn tự động nổ ran….”

“Vài hôm sau sự kiện bất ngờ nầy, thành viên của cùng đơn vị cũng đã đối xử tàn nhẫn một bô lão cho đến ngất xỉu, rồi liệng xác xuống sườn núi không cần biết ông lão còn sống hay đã chết…”

“Vài ngày sau, họ lại dùng một người đàn ông không võ trang làm mục tiêu để tập bắn…”

“Và khoảng hai tuần sau, thành viên của trung đội B cũng được biết đã sát hại năm phụ nữ không võ trang…”

“Các quân nhân trong đơn vị bàn tán về các hành vi tàn bạo khác bởi các quân nhân trong trung đội… [kể cả] một phụ nữ còn sống bị cắt một tai trong khi bé sơ sinh của bà bị liệng xuống đất và dẫm đạp…”[4]

THI PHNG S XÁC CHT…

Đối với Jonathan Schell, những khám phá của Turse đã hoàn tất bức chân dung cuộc chiến trong Vùng I. Dưới mắt Jonathan từ các phi cơ Forward Air Control, dù chính sách có thể đã là gì trên lý thuyết, thực tế trên đất liền hay trên không vẫn là tiêu thổ. Bất cứ điều gì người Mỹ đã làm ở Vùng I, trong thực tế cuộc chiến đã thực sự mang tính hệ thống, chống lại cư dân trong vùng.

Và như Turse đã cóp nhặt đầy đủ tư liệu, đó cũng là cuộc chiến trong toàn bộ Việt Nam. Chi tiết có thể khác từ vùng nầy qua vùng khác, nhưng chân dung chung cũng không mấy khác Vùng I.

Một trường hợp tiêu biểu là cuộc chiến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, với một số dân từ 5 đến 6 triệu trong một diện tích chưa đến 24.000 cây số vuông, chằng chịt bởi sông ngòi và kênh đào.

Trong tháng 2-1968, Tướng Julian Ewell, được người Việt và người Mỹ biết đến như “Tên Đao Phủ của khu vực Đồng Bằng”, đã được trao quyền tư lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh.

Tháng 12-1968, Ewell đã phát động cuộc hành quân Speedy Express. Chuyên môn của Ewell, đã trở thành một ám ảnh, là “gia tăng chuẫn mực số tử thi” hay “increasing the body count”, quy định bởi Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ ở Việt Nam như mực thước nòng cốt đo lường sự tiến bộ trong nổ lực đánh bại kẻ thù.

Trên lý thuyết, chỉ các quân nhân thiệt mạng mới được tính vào “body count.” Trong thực tế,  bất cứ ai, quân nhân hay phóng viên, chỉ cần bỏ ra khoảng nửa giờ ở tiền tuyến, là có thể nhanh chóng biết được: hầu như tất cả mọi người Việt Nam bị thiệt mạng, phần lớn là thường dân, đều được tính vào tổng số.

Số tử thi một sĩ quan Hoa Kỳ đếm được càng cao, sĩ quan đó sẽ có nhiều cơ may được thăng thưởng. Các binh sĩ nộp số tử thi cao cũng được thưởng bằng thời gian nghỉ phép.

Ewell bắt đầu với mục tiêu gia tăng tỉ lệ tử vong giữa binh sĩ địch /binh sĩ Mỹ. Áp lực thực hiện mục tiêu, vì vậy, ngày một gia tăng trong mọi cấp trong Sư Đoàn 9. Theo lời một tham mưu trưởng sau nầy, một trong số các tham mưu trưởng của ông đã  nổi cơn điên.

Các phương tiện đều đơn giản: gia tăng hỏa lực có thể sử dụng vốn đã lớn lao, và nới lỏng các quy luật tác chiến vốn sẵn mềm dẽo, chẳng hạn, qua việc ra lệnh bố ráp ban đêm nhiều hơn. Trong một cuộc hành quân ban đêm điển hình, các tàu tuần tiểu đã bắn một bầy trâu nước và bảy trẻ em chăn trâu. Tất cả đều bị tàn sát, và các trẻ em được báo cáo như xác các địch quân tử trận.

Tỉ lệ tử vong đã gia tăng từ một mức cao đáng nghi ngờ, từ 24 “VC” cho mỗi quân nhân Mỹ, lên một tỉ lệ hoàn toàn không thể tin: 134 “VC” đối với một lính Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sự khó tin không những ở các con số tử thương được thổi phồng mà còn cả trong căn cước của các tử thi. Thật vậy, phần lớn con số tử vong về phía “Việt Cộng” không phải là binh sĩ mà là thường dân. Một “Trung Sĩ Quan Tâm,” người đã phản đối cuộc hành quân trong một thư nặc danh gửi bộ tư lệnh lúc đó, đã mô tả các kết quả như anh ta đã chứng kiến:

“Một tiểu đoàn có thể giết khoảng 15 đến 20 địch quân mổi ngày. Với 4 tiểu đoàn trong Lữ đoàn, con số có thể lên 40 đến 50 mỗi ngày hay 1200 đến 1500 mỗi tháng, dễ dàng. (Một tiểu đoàn tự cho đã giết gần 1000 “VC” môt tháng) Nếu tôi chỉ đúng 10%, và thực ra cao hơn thế rất nhiều, như vậy tôi đang nói với quý vị khoảng 120-150 bị tàn sát, hay một My Lay [Mỹ Lai] mỗi tháng trong hơn một năm.”[5]

Con số ước lượng đã được xác nhận trong những phân tích sau nầy. Các cuộc hành quân trong Vùng I có lẽ lệ thuộc nhiều hơn vào các cuộc tấn công bộ binh được chiến đấu cơ yểm trợ, trong khi cuộc hành quân Speedy Express tùy thuộc nhiều hơn vào các cuộc oanh kích của trực thăng và đòi hỏi số tử thi đếm được phải cao hơn, nhưng kết quả vẫn chỉ chừng ấy: chiến tranh không phân biệt địch quân với dân thường, không bị kiềm hãm trong tính toán hay tình nhân đạo, đối với toàn thể nhân dân Nam Việt Nam.

Turse cũng đang nhắc nhở chúng ta ngay trong những khu vực bên ngoài chiến trường, sự thật cũng không kém vô nhân đạo. Chẳng hạn, sử dụng xe tải quân sự cán chết thường dân Việt trên đường lộ, như một trò tiêu khiển, cũng khá phổ biến…

Những từ phổ thông, mang tính kỳ thị chủng tộc, đã thường được sử dụng để gọi riêng dân địa phương, đặc biệt trong vùng nông thôn, như “gooks,” “dinks,””slopes.”… Và guồng máy quân sự của Hoa Kỳ cũng đã được bổ túc bởi hệ thống lao tù dã man Mỹ-Nam Việt Nam, nơi tra tấn, ngược đãi… là thũ tục chuẫn và xử tử ngoại-pháp-lý là chuyện thường tình.

Do đâu tình trạng đó đã xẩy ra? Do đâu một quốc gia, luôn tin tưởng ở những nguyên tắc nghiêm chỉnh, lại cho phép một lối đối xử dã man như thế xảy ra và rồi liên tục dung túng tình trạng đó trong hơn một thập kỷ?

Tại sao, người lính thủy quân lục chiến đầu tiên đến Vùng I hầu như lập tức gạt qua một bên các quy luật chiến tranh cũng như bất chấp mọi luân thường đạo lý thường tình và chìm đắm trong lối xử sự man rợ thấp kém nhất? Những dây chuyền nhân quả nào đã nối kết “các phần tử tốt nhất và thông minh nhất” trong các đại học và các công ty hàng đầu của Mỹ điều khiển cuộc chiến, với tội sát nhân các trẻ chăn trâu trong Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long?

Bằng cách nào cánh cửa địa ngục đã rộng mở? Đây là một câu hỏi khác với câu hỏi thường gặp: bằng cách nào người Mỹ đã đi vào cuộc chiến?

Jonathan Schell không có ý định phán đoán Hoa Kỳ trong tác phẩm của ông. Tình trạng say sóng về đạo đức và nhận thức đi kèm với cuộc chiến Việt Nam ngay từ đầu, đến nay vẫn còn đè nặng lên người Mỹ.

Dù sao, tác phẩm “Kill Anything that Moves” của Nick Turse cuối cùng ít ra cũng đã cho phép chúng ta đặt lại câu hỏi trong ánh sáng các sự kiện thực tế của cuộc chiến.

Đã hẳn, suy ngẫm có thể là việc làm cần thiết đối với Hoa Kỳ, một quốc gia, từ cuộc chiến Việt Nam, đã tìm mọi cách để quên đi ngay cả các bài học như đã rút tỉa được từ sự thảm bại, trong quá trình chuẩn bị cho các cuộc chiến sai lầm khác — các cuộc chiến Iraq và Afghanistan.

Tuy nhiên, sau đây là một vài suy nghĩ, đưa ra theo lối “tư duy thành tiếng”  hay  “thinking aloud”.

CUỘC CHIẾN HƯ CẤU VÀ CUỘC CHIẾN ĐÍCH THỰC

Ít ra từ khi vụ tàn sát ở Mỹ Lai được tiết lộ, nhiều người đã thảo luận chung quanh đề tài: phải chăng các hành động dã man trong chiến tranh là sản phẩm của các quyết định của các quân nhân lẻ tẻ khi lâm trận, hay do chính sách từ cấp lãnh đạo trên cao, dù chỉ là những ngoại lệ bất thường hay tác động bình thường của chiến tranh?

Trường phái thứ nhất rõ ràng đã cho đây chỉ là tư duy của những phần tử xấu xa bỉ ổi, quy trách nhiệm cho các cá nhân hay đơn vị lẻ tẻ, không do chính sách hay mệnh lệnh cấp trên. Trường phái thứ hai có khuynh hướng miễn tội cho cấp dưới  và quy lỗi cho cấp chỉ huy.

Tác phẩm của Nick Turse đã hoàn toàn bác bỏ trường phái “ngoại lệ bất thường”, hay “aberration” school. Tuy nhiên, tác phẩm của Turse cũng không hậu thuẩn hay quy lỗi hoàn toàn cho trường phái “mệnh-lệnh-từ-trên” hay “orders-from-the-top school”. Có lẽ vấn đề luôn là cả hai trường phái đã đóng khung các hình thức chiến tranh không mấy xác đáng. Quan hệ giữa chính sách và thực tế trong cuộc chiến  Việt Nam đã chứng tỏ tính đặc thù biệt lệ hơn hai trường phái gợi ý rất nhiều.

Người ta thường nói chân lý là nạn nhân đầu tiên của chiến tranh. Tuy nhiên, trong chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần nói một điều làm một nẻo. Chẳng hạn, tàn phá các làng mạc trong khi rêu rao bảo vệ chính các làng mạc nầy.

Quả thật như vậy! Xác thực hơn, chúng ta cần phải nói: ngay từ khi thai nghén, cơ cấu chiến tranh đã được định hình bởi một nổ lực áp đặt một “tường thuật chính thức giả tạo,” “a false official narrative”  lên “một thực tại,” “a reality,” mang bản chất hoàn toàn khác.

Trong tường trình cuộc chiến chính thức, Hoa Thịnh Đốn luôn đưa ra luận cứ: nhân dân Nam Việt Nam đang chống đối nổ lực chinh phục miền Nam của Bắc Việt nhân danh cộng sản quốc tế. Hoa Kỳ chỉ giúp nhân dân Nam Việt Nam trong sự đề kháng chỉ vì tinh thần ái quốc của họ.

Trong thực tế, đa số nhân dân Nam Việt Nam, trong phạm vi khả năng ý thức chính trị của họ, là những người theo quốc gia chủ nghĩa, luôn tìm cách chống lại các lực lượng xâm lăng từ bên ngoài: lúc đầu là người Pháp, rồi đến người Nhật, và sau đó người Mỹ, bên cạnh các nhà nước khách hàng do chính họ dựng lên — chính quyền Nam Việt Nam, một chính quyền chưa bao giờ có đủ khả năng khai triển một lực lượng độc lập trong một xứ sở độc lập.

Tường thuật chính thức hư cấu nầy (official fictitious narrative) không phải chỉ được tạo dựng thêm về sau để ngụy trang hay che đậy những thực tế tội lỗi; mà là một thành tố của các định chế hư cấu nguyên thủy theo mẫu mực của người Pháp, người Nhật và người Mỹ lần lượt giàn dựng.

Chính vì vậy, sự xung đột giữa hư cấu và thực tại trước đó đã diễn ra ở làng Triệu Ái và những nơi tương tự khác. Các lực lượng Hoa Kỳ, kể cả các tư lệnh địa phương của họ, đã đối mặt với một thực tại các nhà làm chính sách trước đó đã không phải đối diện và không muốn đối diện trong nhiều năm. Chờ đợi được nghênh đón như những vị cứu tinh, quân đôi Mỹ trong thực tế đã bị chìm đắm trong một biển thù nghịch gần như từ khắp mọi phía.

Không một tài liệu hướng dẫn từ Hoa Thịnh Đốn giúp họ đối phó với tình trạng bất  ngờ đó. Binh sĩ Mỹ phải tự mình quyết định những gì phải làm. Khắp nơi họ đã luôn phải tùy cơ ứng biến. Trong chừng mức đó, chính sách đã được quyết định  ngay tại hiện trường. Đã vậy, binh sĩ lại không đủ thẩm quyền lật ngược chính sách căn bản. Chẳng hạn, họ không thể tự rút khỏi “cuộc chiến từ đầu đã được quan niệm hoàn toàn sai lầm”. Họ chỉ có thể phản ứng trước các hoàn cảnh hoàn toàn bất ngờ chung quanh họ.

Kết quả có thể phối hợp một sứ mệnh không thể hiểu và không thể thực hiện theo lệnh từ cấp trên (tranh thũ cảm tình và thiện chí của một quần chúng vốn sẵn thù nghịch trong khi cùng lúc đập nát xã hội của họ) với các mệnh lệnh của cấp chỉ huy tại địa phương, thường phi pháp và thiếu minh bạch — một phối hợp dễ dàng đưa đến “các giải pháp tùy cơ ứng biến” trong tâm trạng bức xúc giận dữ ngay ở hiện trường. Trong bối cảnh xung đột giữa các chính sách hư cấu cao cả và thực tế dã man tàn bạo của chiến trường, các cuộc tấn công kinh tởm và vô bổ đối với quần chúng Nam Việt Nam đã nẩy sinh.

Như Nick Turse đã nhấn mạnh, tính cách tùy cơ ứng biến trong mọi tình huống thực tế có thể thấy được trong các hành vi bạo động, lăng mạ, tàn nhẫn, vô nhân đạo đối với dân thường khắp nơi, những động thái hoàn toàn bất nhất, mâu thuẫn, và phi lý.

Turse cũng đã tóm tắt những gì một dân làng trong một khu vực bị ngược đãi đã nói với ông nhiều thập kỷ sau: “Đôi khi binh sĩ Mỹ phân phát kẹo bánh. Đôi khi họ vô cớ bắn giết dân làng. Đôi khi họ đi qua làng không đụng đến bất cứ gì. Đôi khi họ đốt phá nhà cửa. ‘Chúng tôi đã không thể hiểu lý do nào đã khiến họ hành đông như thế.’ “[6]

Nói một cách ngắn gọn, bên cạnh cuộc chiến chính thức hư cấu là cuộc chiến thực sự vô luân trên khắp chiến trường — một cuộc chiến Nick Turse là người đầu tiên đã mô tả một cách nghiêm chỉnh và đầy đủ.

Cần phải nói: đây không phải là một biện minh cho những gì đã xẩy ra khi nêu rõ, đối với các binh sĩ, không những mệnh lệnh từ trên đưa xuống, mà ngay cả hoàn cảnh của chính họ, đã đưa đến thái độ tùy cơ ứng biến đồi trụy của họ — những gì Robert J. Lifton đã gọi “những tình cảnh gây ra tội ác,”  “atrocity-producing situations”.

Những minh giải trên đây cũng không cung cấp một lối thoát khỏi trách nhiệm cho các kiến trúc sư cuộc chiến: nếu không vì các chính sách mù quáng sai lầm của họ thì cũng đã không có các tình cảnh địa ngục lan tràn mô tả trên đây.

Trong một tình cảnh éo le chua xót hơn nữa, cuộc chiến thực sự, đến một thời điểm nào đó, đã được các tướng lãnh, các tư lệnh hệ thống hóa để trở thành những quy luật, những chính sách, và từ đó, những mệnh lệnh từ trên xuống. Thực vậy, các tướng lãnh dần dà  — dù một cách phi lý, và trong ánh sáng của những gì được hiểu như các mục tiêu của cuộc chiến  — đã phê chuẩn và phát huy “cuộc chiến  thực tế”, “the de facto war,” chống lại chính nhân dân Việt Nam.

Chúng ta đang nói đến cuộc chiến “đếm xác chết” hay “body counts” của Tướng Ewell .

Nói một cách khác, “tùy cơ ứng biến” đã từ từ đi ngược dòng lên bộ tư lệnh tối cao cho đến khi binh sĩ đã tuân theo lệnh trên tàn sát thường dân, mặc dù, như trong trường hợp của Ewell, những mệnh lệnh đó hiếm khi đội hình thức những mệnh lệnh.

Tuy nhiên, các tướng lãnh đôi khi đã đi quá xa trong nhiệm vụ hình thành các quy luật mới, ngay cả khi họ rõ ràng đã hành động trái với các chính sách chính thức.

Chẳng hạn, chúng ta có thể lấy một ví dụ do chính Nick Turse cung cấp. Năm 1965, Tướng William Westmoreland, người đã đảm nhiệm vai trò tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ ở Việt Nam từ năm 1964, đã mặc nhiên tuyên chiến với dân quê Việt Nam. Westmoreland đã nói:

“Cho đến bây giờ cuộc chiến đã được đặc trưng bởi một quần chúng vẫn còn trung lập. Trong năm rồi, chúng ta đã chứng kiến một sự leo thang trong cường độ chiến tranh. Điều nầy sẽ đem đến một thời khắc quyết định đối với nông dân trong các vùng thôn quê. Người dân sẽ phải lựa chọn nếu muốn tiếp tục sống còn.”[7]

Giống như các thuộc cấp, Westmoreland cũng đang tùy cơ ứng biến. Thực vậy, chính sách mới, nhằm khủng bố người dân quê muốn sống thì phải phục tùng, hoàn toàn mâu thuẫn với phương châm hay khẩu hiệu của Hoa Thịnh Đốn cần phải giành lấy tình cảm (heart) và tinh thần (mind) của người dân, nhưng hoàn toàn nhất trí với mọi thứ các lực lượng dưới quyền đang thực sự làm ở Vùng I và trong khắp miền Nam Việt Nam.

DỐI TRÁ, DỐI TRÁ, VÀ DỐI TRÁ

Một giai tầng xung đột khác cũng cần được nhắc tới trong bối cảnh nầy. Tài liệu cũng cho thấy, vào giữa thập kỷ 1960, phần đông chính giới ở Hoa Thịnh Đốn đã hiểu rõ các giả thiết cơ bản của cuộc chiến đã sai lầm: kẻ thù Việt Nam là cánh tay nối dài của cộng sản quốc tế; cuộc chiến Việt Nam là mặt tiền của Chiến Tranh Lạnh hơn là một giai đoạn trong phong trào dài lâu giải thể chủ nghĩa thực dân của thế kỷ 20; người dân Nam Việt Nam rất hồ hỡi với vai trò cứu rỗi của Hoa Kỳ.

Nhưng một giả thiết khác vẫn không được xem là sai lầm: bất cứ chính quyền nào  “đánh mất Việt Nam” cũng đều dễ dàng thất cử trong lần bầu cử tới.

Đúng hay sai, tất cả các tổng thống Hoa Kỳ cũng đều sống trong âu lo thất bại trong cuộc chiến, và do đó, sự nghiệp chính trị của họ sẽ tiêu tan trước các phong trào thuộc loại Thượng Nghị Sĩ Joe McCarthy đã từng khởi động, sau khi “người Mỹ đánh mất Trung Quốc” năm 1949.

Thực vậy,  McGeorge Bundy, cố vấn an ninh quốc gia của Lyndon Johnson, đã mô tả ông đã hiểu rõ tâm trạng của tổng thống vào lúc đó:

“LBJ không quá quan tâm ai đang cầm quyền ở Ai Lao, hay ai đang cầm quyền ở Nam Việt Nam — ông ta chỉ đặc biệt quan tâm những gì các cử tri Mỹ trung bình nghĩ tổng thống đã làm ra sao trong canh bài Chiến Tranh Lạnh. Cuộc tranh tài vô địch Chiến Tranh Lạnh đang diễn ra trong sân vận động lớn nhất ở Hoa Kỳ, và ông ta, Lyndon Johnson, là tiền vệ, và nếu thua, ông có thể làm được gì trong lần bầu cử tới? Vì vậy, đừng để thua. Giờ đây, điều đó quá đơn giản, nhưng đó là chỗ ông đang đứng. Ông đang sống với sự thượng tồn chính trị của chính ông mỗi khi ông ta nhìn các vấn đề vừa nói.”[8]

Trong bối cảnh đó, các lý do chính trị đối nội đã áp đảo lập luận cốt lõi: tính phù phiếm và kinh dị của chiến tranh Việt Nam, một khi đã được tiết lộ, rất có thể đã dẫn đến một chấm dứt của cuộc chiến.

Cuộc chiến Việt Nam đã mỗi lúc một được hiểu rõ hơn như một trò đùa giết người, nhưng chính trị đã buộc phải tiếp tục. Chừng nào đó là thực tế chính trị, lúc đó không tin tức từ Việt Nam đã có thể đưa đến một sự đảo ngược các chính sách chiến tranh.

Cuộc chiến Việt Nam là tầng cao tột cùng của ngôi nhà chọc trời của dối trá. Chính trị nội bộ của Hoa Kỳ là bằng chứng quan trọng và lớn nhất của các “tình huống sản xuất ra bạo tàn” — “the largest and most fact-proof of the atrocity-producing situations”.

Năm mươi  năm sau, liệu người Mỹ có tưởng tượng được điều nầy đã thay đổi?

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

29-01-2013


[1] If one man and his tiny team could claim more KIA [killed in action] than an entire battalion without raising red flags among superiors; if a brigade commander could up the body count by picking off civilians from his helicopter with impunity; if a top general could institutionize atrocities through the profligate use of heavy firepower in areas packed with civilians — then what could be expected down the line, especially among heavily armed young infantrymen operating in the field for weeks, angry, tired, and scared , often unable to locate the enemy and yet relentlessly pressed for kills?

[2]  You wouldn’t believe it so I’m not going to tell you. No one’s ever going to find out about some things, and after this war is over, and we’ve all gone home, no one is ever going to know.

[3] In the story of Triệu Ái one can see virtually the entire war writ small. Here was the repeated aerial bombing and artillery fire…Here was the deliberate burning of peasant homes and the relocation of villagers to refugee camps… Angry troops primed to lash out, often following losses within the unit; civilians trapped in their paths; and officers in the field issuing ambiguous or illegal orders to young men conditioned to obey — that was the basic recipe for many of the mass killings carried out by army soldiers and marines over the years.

[4] The company stumbled upon an unarmed young boy. ‘ Someone caught him up on a hill, and they brought him down and the lieutenant asked who want to kill him..’ medic Jamie Henry later told army investigators. A radioman and another medic volunteered for the job. The radioman…’kicked the boy in the stomach and the medic took him around behind a rock and I heard one magazine go off complete on automatic…’

A few days after this incident, members of that same unit brutalized an elderly man to the point of collapse and then threw him off a cliff without even knowing whether he was dead or alive…

A couple of days after that, they used an unarmed man for target practice…

And less than two weeks later, members of Company B reportedly killed five unarmed women…

Unit members rattled off a litany of other brutal acts committed by the company…[including] a living woman who had an ear cut off while her baby was thrown to the ground and stomped on…

[5] A battalion would kill maybe 15 to 20 a day. With 4 battalions in the Brigade that would be maybe 40 to 50 a day or 1200 a month 1500, easy. (One battalion claimed almost 1000 body counts one month!) If I am only 10% right, and  believe me its lots more, then I am trying to tell you about 120-150 murders, or a My Lay [Mỹ Lai] each month for over a year.

[6] Sometimes U.S. troops handed out candies. Sometimes they shot at people. Sometimes they passed through a village hardly touching a thing. Sometimes they burned all the homes. ‘We didn’t understang the reasons why they acted in the way they did’.

[7] Until now the war has been characterized  by a substantial majority of the population remaining neutral. In the past year we have seen an escalation to a higher intensity in the war. This will bring about a moment of decision for the peasant farmer. He will have to choose if he stays alive.

[8] LBJ isn’t deeply concerned about who governs Laos, or who governs South Vietnam — he’s deeply concerned with what the average American voter is going to think about how he did in the ball game of the Cold War. The great Cold War championship gets played in the largest stadium in the United States  and he, Lyndon Johnson, is the quarterback, and if he loses, how does he do in the next election? So don’t lose. Now that’s too simple, but it’s where he is. He’s living with his own political survival every time he looks at these questions.

Advertisements