SÓNG GIÓ THÁI BÌNH DƯƠNG

Trong nhiều tháng gần đây, điều kiện chính trị trong vùng Tây Thái Bình Dương ngày một xấu đi. Tình hình rõ ràng ngày một căng thẳng, với hậu quả cực kỳ nghiêm trọng và mang tính tai họa đối với kinh tế toàn cầu.

Ở Hoa Thịnh Đốn, nhiều người bàn luận về giả thiết một đối đầu với tham vọng hạt nhân của Iran sẽ là khủng hoảng lớn đầu tiên có thể nhận chìm bộ trưởng quốc phòng sắp tới — dù đó là nguyên nghị sĩ Chuck Hagel, như T T Obama chờ đợi, hay một nhân vật nào khác nếu Hagel không được Thượng Viện phê chuẩn. Với rất ít dấu hiệu một khai thông trong quá trình thương nghị nhằm giải quyết khủng hoảng  một cách hòa bình, nhiều nhà phân tích tin: một hành động quân sự — nếu không phải do Do Thái, thì bởi Hoa Kỳ — có thể được lên nghị trình trong năm 2013.

Tuy nhiên, phía sau tình trạng phức tạp ở Iran là cuộc khủng hoảng tiềm tàng với kích cỡ lớn lao hơn nhiều, và có nhiều khả năng dễ xẩy ra, hơn là đa số chúng ta có thể tưởng tượng. Sự quyết chí của TQ khẳng định chủ quyền trên các quần đảo giàu tiềm năng dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên trong vùng Đông Nam Biển Nam Hải, trước sự đối kháng mãnh liệt từ phía Nhật Bản và Philippines, song song với sự khẳng định quyền lợi và uy lực của Hoa Kỳ trong khu vực, đang gây sóng gió không những ở Á Châu-Thái Bình Dương, mà rất có thể trên toàn cầu.

TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRONG NHIỀU QUẦN ĐẢO

Tiềm năng một khủng hoảng Iran đang âm ĩ trên sân khấu chính trị, với nguy cơ va chạm trong vùng Trung Đông Nới Rộng và các đe dọa đối với quá trình sản xuất và vận chuyển năng lượng toàn cầu.

Tuy nhiên, một khủng hoảng trong vùng biển Hoa Đông và Hoa Nam có thể là nguy cơ lớn hơn vì khả năng va chạm quân sự TQ-Hoa Kỳ đang đe dọa ổn định kinh tế Á Châu.

Hoa Kỳ, với một hiệp định ràng buộc, sẽ phải trợ giúp Nhật hay Phi Luật Tân khi một trong hai hay cả hai bị một quốc gia thứ ba tấn công. Vì vậy, bất cứ một va chạm vũ lực nào giữa TQ và các lực lượng của Nhật hay của Philippines cũng có thể khởi động sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ.

Với phần lớn mậu dịch quốc tế tập trung ở Á Châu, và các nền kinh tế Hoa Kỳ, TQ, và Nhật Bản đan xen trong nhiều phương cách quá thiết yếu để có thể làm ngơ, một sự va chạm dưới bất cứ hình thức nào trong những tuyến đường biển sinh tử đó cũng có thể làm tê liệt thương mãi quốc tế và khởi động một suy thoái toàn cầu hay tệ hơn nữa.

Tất cả những khả dĩ trên đây đã khá rõ ràng, và vì vậy, đã đến lúc phải tìm mọi cách để loại bỏ. Tuy vậy, khả năng có thể xẩy ra một xô xát như thế lại gia tăng trong những tháng gần đây, khi TQ và các xứ láng giềng tiếp tục leo thang khẩu chiến và tăng cường lực lượng quân sự trong những khu vực hiện đang tranh chấp.

Các lời tuyên bố liên tục từ Hoa Thịnh Đốn về các kế hoạch hiện hữu của một chốt Á Châu hay tái cân bằng các lực lượng trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương chỉ làm tăng thêm lâp trường không khoan nhượng của TQ và gia tăng không khí khủng hoảng trong vùng.

Các cấp lãnh đạo liên quan tiếp tục khẳng định quyền bất khả xâm phạm của riêng mình đối với các hải đảo đối tượng tranh chấp, và quyết tâm  sử dụng mọi phương tiện cần thiết để đề kháng mọi vi phạm bởi các nước đối nghịch. Trong lúc đó, sự kiện TQ gia tăng tần số và kích cỡ các cuộc thao diễn hải quân trong các vùng Nhật, Việt Nam, và Philippines đang đòi hỏi chủ quyền, đã làm gia tăng hơn nữa tình trạng căng thẳng trong khu vực.

Tranh chấp rõ ràng đang xoay quanh vấn đề chủ quyền một số các hải đảo không cư dân.

Trong vùng biển Hoa Đông, các hải đảo tranh chấp mang tên Diaoyus bởi TQ và Senkakus bởi người Nhật. Hiện nay, các hải đảo nầy đều do Nhật quản lý, nhưng cả hai quốc gia Nhật-Trung đều đòi hỏi  chủ quyền.

Trong vùng biển Hoa Nam, một vài nhóm hải đảo cũng đang trong vòng tranh chấp, kể cả dãy Hoàng Sa và Trường Sa, TQ gọi là Nam Sa (Nansha) và Tây Sa (Xisha). TQ đòi chủ quyền đối với tất cả các hải đảo lớn nhỏ, trong khi Việt Nam đòi chủ quyền đối với Paracels và Spratlys. Brunei, Malaysia và Philippines cũng đòi chủ quyền một vài hải đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Đã hẳn, tranh chấp không chỉ liên hệ đến chủ quyền một số hải đảo không dân cư, mà còn vì các hải đảo tọa lạc trong một khu vực chứa nhiều trữ lượng dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên rộng lớn. Chủ quyền các hải đảo đương nhiên đem lại chủ quyền các tài nguyên năng lượng thiết yếu đối với các xứ trong khu vực.

Quốc gia chủ nghĩa đang được TQ vận dụng tối đa. Với tinh thần hăng say của quần chúng lên cao, người TQ tin các hải đảo là một phần lãnh thổ của chính họ, và bất cứ một đòi hỏi chủ quyền bởi một quốc gia nào khác cũng chỉ phản ảnh một tấn công trực diện vào chủ quyền tối thượng của TQ.

Sự kiện Nhật Bản — một quốc gia xâm lược tàn bạo và chiếm đóng TQ trong Đệ Nhị Thế Chiến, đòi hỏi chủ quyền trên một số hải đảo — chỉ làm tăng thêm tinh thần quốc gia, và do đó, thái độ bất khả khoan nhượng của TQ.

Cũng không mấy khác, đối với người Nhật, người Việt, người Philippines, vốn sẵn cảm nhận bị đe dọa bởi địa vị giàu có và quyền lực đang lên của TQ, niềm tin và thái độ không kém khoan nhượng cũng là một biểu hiện hùng mạnh của tinh thần quốc gia.

Khỏi cần phải nói, các tranh chấp nói trên đã leo thang trong những ngày gần đây. Tháng 5-2011, chẳng hạn, Việt Nam đã lên tiếng tố cáo các tàu chiến TQ đã quấy nhiễu các tàu thăm dò địa chấn của Petro Việt Nam trong vùng biển Hoa Nam. Nhà cầm quyền Việt Nam cho biết, đã hai lần, dây cáp nối kết các trang thiết bị thăm dò địa chấn đã bị cố tình cắt đứt. Tháng 4-2012, tàu giám sát có vũ trang của TQ cũng đã chặn đứng nổ lực các tàu Philippines khám xét các ngư thuyền TQ, nghi ngờ đang đánh cá phi pháp ngoài khơi Scarborough Shoal, một hải đảo nhỏ trong vùng biển Hoa Nam cả hai quốc gia đang đòi hỏi chủ quyền.

Vùng biển Hoa Đông gần đây cũng đã chứng kiến nhiều vụ xô xát căng thẳng. Tháng 9-2012, chẳng hạn, nhà cầm quyền Nhật Bản đã bắt giữ 14 công dân TQ tìm cách đổ bộ lên một trong những hải đảo Diaoyus/Senkaku đòi chủ quyền, một biến cố đã khởi động các cuộc biểu tình phản đối Nhật Bản khắp TQ và một chuổi các cuộc thao diễn hải quân từ cả hai phía trong vùng biển tranh chấp.

Ngoại giao cấp khu vực, phương cách cổ điển để giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình, gần đây đã trở nên lúc một căng thẳng vì các tranh chấp hàng hải và các vụ xô xát quân sự đi kèm.

Trong tháng 7-2012, tại phiên họp hàng năm của ASEAN, các lãnh đạo Á Châu đã không thể đồng ý về một thông cáo chung, dù chỉ để làm dịu bớt tình hình — lần đầu tiên trong lịch sử 46 năm của tổ chức. Theo tường trình báo chí, sự đồng thuận trên tài liệu cuối cùng đã bị cản trở khi Cambodia, một đồng minh gần gũi của TQ, đã từ chối chấp thuận lời lẽ dung hòa của dự thảo các nguyên tắc ứng xử nhằm giải quyết các tranh chấp trong vùng biển Hoa Nam.

Hai tháng sau, ngoại trưởng Hillary Clinton, trong cuộc viếng thăm Bắc Kinh để tìm cách thúc đẩy các cuộc thương nghị về các vụ tranh chấp, đã bị báo chí TQ kịch liệt đả kích. Kết quả, các quan chức trong chính quyền TQ đã từ chối bất cứ một nhượng bộ dù nhỏ nhoi đến cỡ nào.

Vào cuối năm 2012 và đầu năm 2013, tình hình vẫn tiếp tục xấu đi. Ngày 1-12-2012, các quan chức tỉnh Hainan, giữ quyền quản lý các hải đảo tranh chấp trong vùng biển Hoa Nam, đã loan báo chính sách mới cho năm 2013: Từ nay, các tàu chiến TQ có quyền chặn đứng, kiểm soát, hay xua đuổi các tàu nước ngoài xâm nhập vào hải phận, TQ xem như thuộc chủ quyền của mình, và nghi ngờ đang theo đuổi các hoạt động phi pháp từ đánh cá cho đến khoan dầu.

Động thái nầy trùng hợp với một sự gia tăng trong kích cỡ và tần số triển khai hải quân TQ trong các khu vực đang tranh chấp.

Ngày 13-12-2012, giới quân sự Nhật đã gây nhiễu các phản lực cơ và một phi cơ giám sát bay vào không phận quần đảo Diaoyu/Senkaku. Một sự cố đáng lo ngại đã xẩy ra ngày 8-01-2013 khi bốn tàu giám sát TQ đi vào vùng biển do Nhật kiểm soát chung quanh quần đảo, trong 13 tiếng đồng hồ liên tiếp. Hai ngày sau, các phản lực cơ chiến đấu của Nhật một lần nữa bị nhiễu khi một phi cơ giám sát TQ trở lại quần đảo, và các chiến đấu cơ TQ cũng đuổi theo.

Lần đầu tiên các phi cơ siêu thanh của hai bên đã bay vào vùng biển tranh chấp. Người TQ rõ ràng không có ý định nhường bước, và họ đã chứng tỏ sẽ gia tăng các hoạt động hải và không quân trong khu vực, tương tự như người Nhật đang làm.

BÌNH THUỐC SÚNG THÁI BÌNH DƯƠNG

Trong khi mây mù chiến tranh lúc một dày đặc trên không phận Thái Bình Dương, câu hỏi cần được đặt ra: Tại sao các biến cố lại liên tiếp xẩy ra như hiện nay?

Một vài yếu tố hình như đang kết hợp nâng cao nguy cơ va chạm, kể cả các thay đổi trong cấp lãnh đạo của hai quốc gia TQ và Nhật Bản, và động thái tái thẩm định địa chính trị của người Mỹ.

Ở Trung Quốc, lớp lãnh đạo mới hiện vẫn tiếp tục tăng cường và canh tân quân đội và thái độ khẳng định quốc gia. Tại Bắc Kinh, trong tháng 11 vừa qua, Đại Hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc thứ 18 đã cử Xi Jinping giữ chức vụ tổng bí thư đảng và chủ tịch Ủy Hội Quân Sự Trung Ương, trong thực tế, lãnh đạo dân sự và quân sự tối cao của quốc gia. Ngay sau đó, Xi Jinping đã nhiều lần viếng thăm một số đơn vị quân sự đủ kích cỡ, chủ ý chứng tỏ quyết tâm của Đảng Cộng Sản, dưới sự lãnh đạo của chính ông, tăng cường khả năng và uy tín của bộ binh, hải quân, và không quân quốc gia. Xi đã liên kết nỗ lực nầy với lòng tin xứ sở của ông phải giữ một vai trò khẳng định và mạnh mẽ hơn nữa trong khu vực và trên thế giới.

Trong một bài nói chuyện với binh sĩ trong thành phố Huizhou, Xi đã nói đến giấc mơ của ông về canh tân quốc gia: “Giấc mơ nầy có thể xem như giấc mơ của một quốc gia hùng mạnh; và đối với giới quân sự, đó là giấc mơ một lực lượng quân sự hùng mạnh.”[1] Trong một cử chỉ đầy ý nghĩa, Xi đã dùng chuyến đi để viếng thăm Haikou, một khu trục hạm hải quân, được bổ sung vào hạm đội có nhiệm vụ tuần tiểu vùng biển Hoa Nam. Trong khi ông đang thăm viếng, phi cơ giám sát của TQ đã bay vào không phận quần đảo Diaoyu/Senkaku trong vùng biển Hoa Đông đang tranh chấp, khiến Nhật đã phải gây nhiễu các phản lực cơ F-15 nầy.

Ở Nhật, cũng vậy, một lớp lãnh đạo mới cũng đang nhấn mạnh đến sức mạnh quân sự và khẳng định quyền lực quốc gia. Ngày 16-12-2012, Shinzo Abe, một chính trị gia theo dân tộc chủ nghĩa, đã trở lại cầm quyền trong tư cách thủ tướng. Mặc dù Abe đã vận động tuyển cử dựa trên các đề tài kinh tế, hứa hẹn vực dậy nền kinh tế đang ngưng trệ, Abe cũng không che đậy ý định tăng cường guồng máy quân sự của Nhật và sẽ theo đuổi lập trường cứng rắn hơn về vấn đề tranh chấp trong vùng biển Hoa Đông.

Trong mấy tuần lễ đầu sau khi nhận chức, thủ tướng Abe đã loan báo các kế hoạch gia tăng chi tiêu quốc phòng và tái thẩm định một lời xin lỗi chính thức bởi một quan chức chính quyền tiền nhiệm đối với các phụ nữ bị buộc làm nô lệ tình dục bởi giới quân sự Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến. Những  động thái nầy hẳn đã làm vui lòng cánh hữu ở Nhật, nhưng cùng lúc chắc chắn đã làm sôi động thái độ chống Nhật ở TQ, Triều Tiên, và nhiều quốc gia khác Nhật Bản đã từng chiếm đóng.

Trong một động thái đáng lo ngại khác, Abe cũng đã nhanh chóng thương nghị một thỏa ước với Philippines tăng cường hợp tác an ninh hàng hải  trong vùng Tây Thái Bình Dương, nhằm đối phó với thái độ khẳng định ngày một gia tăng của TQ trong khu vực. Đã hẳn, điều nầy sẽ khởi động một đáp ứng cứng rắn hơn từ TQ.

Và vì Hoa Kỳ đang có những hiệp ước an ninh hổ tương với cả hai quốc gia Nhật và Philippines, điều nầy cũng sẽ làm gia tăng nguy cơ một can thiệp quân sự của Mỹ vào các xung đột tương lai trong vùng Tây Thái Bình Dương.

Ở Hoa Kỳ, các quan chức cao cấp đang bàn thảo việc thực thi chốt Thái Bình Dương T T Obama đã loan báo trong một bài nói chuyện trước Quốc Hội Úc cách đây hơn một năm. Trong bài nói chuyện, T T Obama đã hứa tăng thêm lực lượng quân sự của Hoa Kỳ trong vùng, ngay cả nếu điều nầy đòi hỏi phải cắt xén ở những nơi khác. Ông tuyên bố: “Chỉ thị của tôi đã rõ ràng. Khi chúng tôi hoạch định và chuẩn bị ngân sách cho tương lai, chúng tôi sẽ phân phối tài nguyên cần thiết để duy trì sự hiện diện quân sự mạnh mẽ của chúng tôi trong vùng nầy.”[2]

Mặc dù Obama chưa bao giờ nói rõ cách tiếp cận của ông đang nhằm ngăn ngừa sự trỗi dậy của TQ, rất ít các nhà quan sát nghi ngờ một chính sách “đắp bờ” đã trở lại vùng Thái Bình Dương.

Thực vậy, giới quân sự Hoa Kỳ đã có những bước đầu theo hướng nầy. Chẳng hạn, người Mỹ đã  loan báo: vào năm 2017, cả ba loại phi cơ tàng hình, F-2, F-35, và B-2, sẽ được triển khai đến các căn cứ tương đối gần TQ, và vào năm 2020, 60% lực lượng hải quân Mỹ sẽ được triển khai ở Thái Bình Dương, thay vì 50% hiện nay.

Tuy nhiên, những khó khăn trong ngân sách quốc gia đã khiến nhiều nhà phân tích đặt nghi vấn: liệu Ngũ Giác Đài, trong thực tế, có còn đủ khả năng thực thi phần quân sự của bất cứ chiến lược chốt Á Châu nào một cách có ý nghĩa?

Một nghiên cứu của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (Center for Strategic and International Studies — CSIS), theo chỉ thị của Quốc Hội, được công bố trong mùa hè 2012, đã kết luận: “Bộ Quốc Phòng vẫn chưa quan niệm một cách hoàn hảo chiến lược bên sau kế hoạch triển khai lực lượng quân sự [trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương], và cũng chưa thích ứng chiến lược với tài nguyên trong phương cách phản ảnh đứng đắn thực tế ngân sách hiện nay.” [3]

Tình trạng nầy cũng đã khởi động một chiến dịch của phe diều hâu quân sự gây áp lực với chính quyền dành một ngân sách lớn hơn cho các lực lượng triển khai trong khu vực Á Châu-Thái Bình Dương và giữ một vai trò mạnh mẽ hơn trong nổ lực chống lại thái độ hù dọa của TQ trong các vùng biển Hoa Đông và Hoa Nam.

Như nguyên Bộ Trưởng Hải Quân và Thượng Nghị Sĩ James Webb đã viết trên báo Wall Street Journal, “[Các đồng minh Á Châu của Hoa Kỳ] đang chờ xem Hoa Kỳ sẽ giữ đúng vai trò, không mấy thoải mái nhưng cần thiết, như một quốc gia thực sự bảo đảm ổn định trong vùng Đông Á, hay vùng nầy một lần nữa sẽ bị áp đảo bởi giao tranh và hù dọa.”[4]

Mặc dù chính quyền Hoa Kỳ đã đáp ứng những thách thức mang tính nhạo báng trên đây qua việc xác quyết sẽ tăng cường lực lượng trong vùng Thái Bình Dương, hành động nầy cũng không đủ để chận đứng các lời kêu gọi một lập trường cứng rắn hơn bởi Hoa Thịnh Đốn. Obama cũng đã bị chỉ trích đã không hậu thuẩn đủ cho Do Thái trong quá trình đấu tranh chống lại Iran trong vấn đề vũ khí hạt nhân.

Và chúng ta cũng có thể đúng khi giả thiết Obama sẽ đối diện với áp lực lúc một lớn hơn trong việc hổ trợ các đồng minh của Mỹ ở Á Châu nếu họ bị các lực lượng TQ đe dọa.

Tổng kết tình hình của cả ba phía trên đây (TQ, Nhật, Hoa Kỳ), chúng ta có đủ các yếu tố của một thùng thuốc súng — ít ra có tiềm năng bùng nổ và nguy hiểm cho kinh tế toàn cầu như bất cứ một cuộc đối đầu nào với Iran.

Hiện nay, trước tình hình lúc một căng thẳng, cuộc chạm trán khả dĩ tệ hại nhất đầu tiên, như nổ súng bất ngờ và thiệt hại nhân mạng, hay một tàu biển, một phi cơ lâm nạn, không khác  châm ngòi một thùng chất nổ trong một căn phòng đông người trang bị quá nhiều vũ khí. Một biến cố tình cờ như vậy có thể xẩy ra bất cứ lúc nào.

Báo chí Nhật đã phúc trình các quan chức chính quyền đang sẵn sàng cho phép các phi công chiến đấu cơ nổ súng cảnh cáo nếu phi cơ TQ xâm nhập bầu trời trên quần đảo Diaoyu/Senkaku. Một tướng lãnh TQ cũng đã trả lời: một hành động như thế có thể xem như điểm khởi đầu của trận chiến thực sự.

Một sự thiếu duy lý của một biến cố tương tự, bất cứ ai cũng có thể tưởng tượng khi xem xét các quan hệ kinh tế chồng chéo phức tạp giữa ba đại cường với lịch sử đế quốc, có thể khó trở thành một vật cản cho một tình thế tương đương với lúc khởi đầu của cuộc Thế Chiến Thứ Nhất — vòng xoáy trôn ốc đơn thuần thoát khỏi tầm kiểm soát của bất cứ ai.

Một câu hỏi khác cũng cần được nêu lên: có thể nào tránh được một khủng hoảng như thế? Vâng, nếu các lãnh đạo TQ, Nhật Bản, và Hoa Kỳ, những quốc gia can dự chính yếu, đủ sáng suốt và bình tỉnh lấy những quyết định tháo gở những lời tuyên bố chủ chiến và theo chủ kiến quốc gia quá khích hiện đang chi phối tất cả ba đại cường, cùng nhau bắt đầu tìm kiếm những bước thực tế kế tiếp để giải quyết các tranh chấp.

Trong cùng chiều hướng, một cử chỉ bất ngờ mang tính cảm xúc — chẳng hạn, Thủ Tướng Abe có sáng kiến khởi động một cuộc công-du-thiện-chí-kiểu-Nixon đến Trung Quốc, một cuộc công du rất có thể thay đổi được bầu không khí thù nghịch và dẫn đến những bước tiến thực tế mang tính giải tỏa.

Ngược lại, nếu lãnh đạo của cả ba đại cường không thể ngăn chặn các tranh chấp trong vùng Thái Bình Dương thoát khỏi tầm tay kiểm soát, lúc đó không những chỉ ba quốc gia trực tiếp liên hệ mà cả hành tinh sẽ phải nhìn sự thất bại của giới lãnh đạo của cả ba đại cường với đau buồn và kinh dị.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

08-02-2013


[1] This dream can be said to be a dream of a strong nation; and for the military, it is the dream of a strong military.

[2] My guidance is clear. As we plan and budget for the future, we will allocate the resources necessary to maintain our strong military presence in this region.

[3] …The Department of Defense has not adequately articulated the strategy behind its force posture planning [in the Asia-Pacific] nor aligned the strategy with resources in a way that reflects current budget realities.

[4] [America’ s Asian allies] are waiting to see whether  America will live up to its uncomfortable but necessary role as the true guarantor of stability in East Asia, or whether the region will again be dominated by belligerence and intimidation.

Advertisements