TRẬT TỰ THẾ GIỚI VÀ CHỦ NGHĨA ĐƠN PHƯƠNG

Sau hơn hai thập kỷ, hệ thống Chiến Tranh Lạnh trong vùng Trung Đông Nới Rộng, cơ sở trên quyền kiểm soát của hai đại cường bất cân xứng, Hoa Kỳ và Liên Bang Xô Viết, cuối cùng cũng đang trên đà tan rã.

Từ Tunisia và Ai Cập đến Syria và Libya, Mùa Xuân Á Rập là một chuổi trổi dậy của quần chúng, nhưng đồng thời cũng là một chuổi rạn vỡ.

Lò sát sinh Syria có thể xem như phần đóng góp của người Nga vào tình trạng hỗn loạn hiện nay.

Ai Cập, với tổng thống Morsi bị vây bũa, các fans túc cầu giận dữ ngoài đường phố trong các thị xã dọc kênh đào Suez, và tư lệnh quân đội đang nói đến một nhà nước có thể sụp đổ, được xem như phần đóng góp lớn lao và tai hại hơn nhiều của Hoa Thịnh Đốn. (Hệ thống của Mỹ trong vùng Trung Đông Nới Rộng bao gồm ba quốc gia thành viên then chốt: Ai Cập, Do Thái và Saudi Arabia).

Trong mọi trường hợp, đó là do công đầu của phe đơn phương chủ nghĩa trong thập kỷ 1990 — những “thành phần thánh chiến tài chánh” của Mỹ (American financial jihadis).  Phe nầy, với giấc mơ một trật tự thế giới do giới tài phiệt Hoa Kỳ kiểm soát, đã giữ vai trò khởi động cuộc “khủng hoảng 2008”.

Một thập kỷ sau, George W. Bush và phe tân bảo thũ, với giấc mơ một hệ thống quân sự tương đương, đã mang lại hệ lụy không kém phần tai họa.

Nếu phe tân tự do đã giúp tạo dựng “thế giới 1%” áp đặt bá quyền  trong vùng Trung Đông Nới Rộng, một trật tự bắtđầu  lâm nguy  bởi ngọn lửa tự thiêu của một thanh niên Tunisia, phe quân sự thấm nhuần viễn kiến của Bush, với cuộc xâm lăng và chiếm đóng  Iraq, còn gây tai họa lớn lao hơn nhiều.

Giữa hai phe tài chánh và quân sự, họ đã đưa nước Mỹ vào con đường, Amr Moussa, lãnh tụ Liên Đoàn Á Rập, năm 2004, đã gọi là các cánh cửa đi vào địa ngục — nhưng họ luôn tin là các cánh cửa đi vào thiên đường đế quốc.

Ngày nay, từ Pakistan và Yemen đến Mali và Niger, các phi cơ không người lái của Hoa Thịnh Đốn, các cuộc hành quân của  lực lượng biệt kích, và các đội-quân- chuyên-gia-vi tính đang trong quá trình bất-ổn-hóa “vòng cung bất ổn”, ngay cả khi họ  đang xói mòn ảnh hưởng và uy quyền của chính Hoa Kỳ trong vùng.

Thế giới hậu-Mùa-Xuân-Á-Rập và tình trạng khủng hoảng của siêu cường Hoa Kỳ đang là các đề tài được giới bình luận, đặc biệt là học giã nổi danh Noam Chomsky, đề cập và phân tích.

TÀI NGUYÊN NĂNG LƯỢNG TRUNG ĐÔNG

Các xứ sản xuất năng lượng quan trọng vẫn còn dưới quyền kiểm soát của các chế độ độc tài được Tây Phương hậu thuẩn. Tác động của Mùa Xuân Á Rập, vì vậy, còn hạn chế, nhưng không phải không có ý nghĩa. Hệ thống các chế độ độc tài do Tây Phương kiểm soát đang có nhiều dấu hiệu lung lay.

Trong thực tế, hệ thống đã bị xói mòn trong một thời gian khá dài. Thực vậy, 50 năm trước đây, hầu hết các tài nguyên năng lượng, mối bận tâm hàng đầu của các nhà hoạch định Hoa Kỳ, đã bị quốc hữu hóa. Đã hẳn, chúng ta luôn chứng kiến những nỗ lực lật ngược thế cờ, nhưng vẫn không thành công.

Kế hoạch xâm lăng Iraq của Hoa Kỳ là một bằng chứng. Đối với mọi người, ngoại trừ những thành phần ý thức hệ cực đoan, Hoa Kỳ đã xâm lăng Iraq rõ ràng không phải vì  yêu thích dân chủ, nhưng vì Iraq là nguồn dầu lửa lớn thứ hai hay thứ ba trên thế  giới, và tọa lạc ngay trung tâm một vùng sản xuất năng lượng tối quan trọng. Tuy vậy, bạn không nên nói ra sự thật nầy. Đó là điều được xem như một lý thuyết âm mưu che đậy, a conspiracy theory, không nên nhắc đến.

Ở Iraq, Hoa Kỳ đã gặp nhiều  thất bại nặng nề trước chủ nghĩa quốc gia — phần lớn qua hình thức đề kháng bất bạo động. Người Mỹ có thể sát hại các chiến binh trỗi dậy, nhưng không thể đối phó với hàng trăm nghìn người biểu tình trên các đường phố. Từng bước một, Iraq đã có đủ khả năng gỡ bỏ sự kiểm soát do các lực lượng chiếm đóng áp đặt.

Đến tháng 11-2007, tình hình đã chứng tỏ rõ ràng người Mỹ thật sự khó lòng đạt được mục tiêu. Và vào thời điểm đó, các chủ đích thực sự của Hoa Kỳ cũng đã được minh thị biểu lộ.

Thực vậy, trong tháng 11-2007, chính quyền George W. Bush đã chính thức tuyên bố chiều hướng của bất cứ một sắp xếp tương lai nào ở Iraq . Hai đòi hỏi chính của người Mỹ:

(1) Hoa Kỳ phải được tự do hành quân từ các căn cứ quân sự họ sẽ duy trì; và

(2) “khuyến khích dòng đầu tư của các nước ngoài vào Iraq, đặc biệt là đầu tư của Hoa Kỳ.”[1]

Tháng 1-2008, Bush đã làm sáng tỏ điều nầy trong một bản tuyên bố. Vài tháng sau, trước sức đề kháng của Iraq, Hoa Kỳ đã phải chịu từ bỏ mục đích vừa nói. Trong tầm nhìn của người Mỹ, mục tiêu kiểm soát Iraq giờ đây đã tan thành mây khói.

Nói một cách khác, Iraq là một nổ lực tái-thiết-chế bằng vũ lực một cái gì tương tự với hệ thống kiểm soát xa xưa, nhưng đã gặp phải thất bại.

Tuy vậy, theo Noam Chomsky, chính sách của Hoa Kỳ vẫn không thay đổi. Người Mỹ vẫn tìm cách trở lại thời Đệ Nhị Thế Chiến.  Dù sao, ngày nay khả năng thực thi cũng đã lúc một suy yếu dần.

KINH TẾ SUY SỤP?

Một phần chính vì thế giới ngày một trở nên đa cực hay có nhiều trung tâm quyền lực khác nhau.

Vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến, quyền lực của Hoa Kỳ đã ở mức tuyệt đỉnh. Hoa Kỳ nắm trong tay phân nửa tài phú thế giới và mọi quốc gia cạnh tranh đã bị thiệt hại hay tàn phá nặng nề. Và Hoa Kỳ đã giữ một vị trí an toàn khó tưởng tượng và đã khai triển các kế hoạch ngự trị thế giới — một ước mơ không mang tính xa rời thực tế vào thời điểm đó.

MỘT KẾ HOẠCH VĨ ĐẠI?

Đúng vậy. Ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến, George Kennan, trưởng ban hoạch định chính sách Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, và các cộng sự viên, đã phác họa chi tiết của kế hoạch, và các chính sách liên hệ đã được đem ra thực hiện.

Những gì đang xẩy ra hiện nay ở Trung Đông và Bắc Phi, trong một chừng mức nào đó, và ở Nam Mỹ, một phần lớn, đã manh nha từ cuối thập kỷ 1940.

Đề kháng thành công đầu tiên đối với bá quyền Hoa Kỳ đã diễn ra trong năm 1949. Đó là lúc một biến cố quyết định đã được ghi nhận, và đã được gọi một cách ngộ nghĩnh “sự đánh mất Trung Quốc” — “the loss of China” — một cụm từ nghịch lý, nhưng chưa hề bị thử thách.

Người Mỹ đã bàn luận khá nhiều về vấn đề ai là người phải chịu trách nhiệm về sự kiện “đánh mất Trung Quốc”, một sự kiện đã trở thành một đề tài đối nội khổng lồ. Nhưng đó vẫn chỉ là một cụm từ ngộ nghĩnh: bạn chỉ có thể đánh mất một cái gì bạn sở hữu.

Ở đây, người Mỹ đã xem như một sự thật hiễn nhiên: người Mỹ sở hữu Trung Quốc.  Và nếu TQ đã trở thành một xứ độc lập, người Mỹ đã đánh mất TQ.

Sau đó, cũng đã đến lúc phải âu lo về sự kiện “đánh mất Mỹ La Tinh” — “the loss of Latin America;” “sự kiện đánh mất  Trung Đông” — “the loss of the Middle East;” “sự kiện đánh mất”một vài xứ khác…, tất cả đều cơ sở trên tiền đề người Mỹ sở hữu thế giới và bất cứ điều gì làm suy yếu quyền kiểm soát của người Mỹ là một sự mất mát đối với người Mỹ, và người Mỹ đã tự hỏi phải làm gì để chiếm lại, để tái sở hữu vật mất mát.

Ngày nay, khi đọc một nhật báo chuyên về chính sách đối ngoại,  hay dưới một hình thức khôi hài khác, khi lắng nghe các cuộc thảo luận trong nội bộ đảng Cộng Hòa ở Hoa Kỳ, bạn thường gặp câu hỏi : “Làm cách nào để chúng ta tránh được các mất mát khác?”[2]

Một mặt khác, khả năng duy trì quyền kiểm soát đã suy giảm quá rõ ràng.

Đến năm 1970, trên bình diện kinh tế, thế giới đã trở thành “tam cực” với  trung tâm kỹ nghệ Bắc Mỹ cơ sở trên Hoa Kỳ; trung tâm Âu Châu cơ sở trên Đức Quốc, với một kích cỡ ít nhiều tương đương; và trung tâm Đông Á cơ sở trên Nhật Bản, lúc đó là vùng tăng trưởng năng động nhất thế giới.

Từ đó, trật tự kinh tế toàn cầu đã trở thành đa cực. Vì vậy, người Mỹ khó lòng thực thi các chính sách của mình. Tuy vậy, các nguyên tắc căn bản cũng chẳng thay đổi nhiều.

Thử ôn lại chủ thuyết Clinton. Theo chủ thuyết nầy, Hoa Kỳ có quyền đơn phương sử dụng vũ lực “để đảm bảo quyền tiếp cận không bị hạn chế các thị trường then chốt, các nguồn năng lượng, và các tài nguyên chiến lược.”[3]

Điều nầy đã vượt quá bất cứ những gì George W. Bush đã nói. Nhưng Clinton lại âm thầm, không kiêu ngạo, và không xúc phạm… nhờ vậy, đã không gây các phản ứng ồn ào.

Trong mọi trường hợp, niềm tin vào quyền hạn đó vẫn tiếp tục cho đến ngày nay và đã trở thành một phân bộ trong văn hóa trí thức .

Ngay sau vụ ám sát Osama bin Laden, trong không khí vui mừng và hoan hĩ, giới quan sát cũng đã ghi nhận một số bình luận và chỉ trích, nghi ngờ tính hợp pháp của hành vi.

Từ nhiều thế kỷ, nhân loại vốn tin tưởng vào tính cần thiết của “giả thiết vô tội”“presumption of innocence”. Nếu một nghi phạm bị bắt giữ, nạn nhân phải được xem như một nghi can cho đến khi tội phạm được chứng minh. Nghi phạm phải được đưa ra tòa xét xử.

Đó là cốt lõi của luật pháp Hoa Kỳ. Bạn có thể truy nguyên giả thiết nầy đến Hiến Chương Nhân Quyền hay Magna Carta. Chính vì vậy, một số người đã lên tiếng: có thể người Mỹ đã không nên vứt bỏ “toàn bộ cơ sở của luật pháp Anh-Mỹ” hay “the whole basis of Anglo-American law.”

Điều nầy đã đưa đến nhiều phản ứng giận dữ. Nhưng phản ứng lý thú nhất, như thường lệ, đã đến từ phía cực tả tự do. Matthew Yglesias, một nhà bình luận tả khuynh và tự do được kính nể và nổi danh, đã viết một bài chỉ trích những quan điểm như thế.

Yglesias  nói:  họ “quá ngây thơ” —  ngớ ngẩn. Nhưng ngay tức khắc  ông đã đưa ra lý do. Eglesias nói: “một trong những chức năng chính yếu của trật tự- định chế-quốc tế là nhằm chính đáng hóa việc sử dụng lực lượng quân sự giết người bởi các cường quốc Tây Phương.”[4]

Đã hẳn, Yglesias đã không có ý nói đến Na Uy. Ông ta chỉ muốn nói đến Hoa Kỳ. Nguyên tắc cơ bản của hệ thống quốc tế là Hoa Kỳ có quyền sử dụng bạo lực theo ý muốn. Vì vậy, khi chỉ trích Hoa Kỳ đã vi phạm luật quốc tế hay một điều gì tương tự, đó quả thật là một việc làm ngớ ngẩn, ngây thơ — hoàn toàn ngây ngô.

Ở đây, chúng ta cũng cần nhắc lại thái độ của Noam Chomsky. Chomsky cũng đã cho biết, “Tôi  đã là mục tiêu của những nhận định như thế, và tôi rất hạnh phúc khi thú nhận tội lỗi của mình. Tôi thực sự nghĩ, Magna Carta và luật quốc tế xứng đáng được lưu tâm.”[5]

Noam Chomsky chỉ nhắc đến điều nầy để minh họa: trong văn hóa trí thức, ngay cả điều được gọi là phía tả tự do cực đoan của quang phổ chính trị, các nguyên tắc nòng cốt cũng đã thay đổi rất ít. Nhưng khả năng thực thi  đã suy giảm khá rõ ràng. Chính vì vậy, bạn đã được nghe bàn luận nhiều về sự kiện tuột dốc của Hoa Kỳ.

Thử đọc lại Foreign Affairs số cuối năm, một tạp chí căn bản của phe cầm quyền. Trang bìa đầu với hàng chữ lớn đậm nét là câu hỏi: “Hoa Kỳ Đã Hết Thời?”–“Is  America Over?”.

Đó là lời phàn nàn chuẩn mực của những ai tin tưởng mãnh liệt họ phải có mọi thứ. Nếu bạn tin bạn phải có mọi thứ và bất cứ cái gì thoát khỏi tầm tay của bạn, đó là một bi kịch, một thế giới đang sụp đổ.

Như vậy, phải chăng Hoa Kỳ đã hết thời?

Cách đây khá lâu, người Mỹ đã đánh mất Trung Quốc, người Mỹ đã đánh mất Đông Nam Á, người Mỹ đã đánh mất Nam Mỹ. Rất có thể người Mỹ sẽ đánh mất các xứ ở Trung Đông và Bắc Phi. Phải chăng Hoa Kỳ đã hết thời?

Đây là một hoang tưởng —  thứ hoang tưởng của những người cực giàu và cực mạnh. Nếu bạn không có mọi thứ, đó là một tai họa.

BA MỤC TIÊU CỦA MỸ

Báo The New York Times đã mô tả trạng thái tiến thối lưỡng nan trong quá trình định hình chính sách đối phó với Mùa Xuân Á Rập: “Làm cách nào để dung hòa các lực thúc đẩy trái ngược của Hoa Kỳ: hậu thuẩn thay đổi dân chủ, ước muốn ổn định, và cảnh giác đối với các tín đồ Hồi giáo đã trở thành một lực lượng chính trị mạnh mẽ.”[6]

Tờ Times đã nhận diện được ba chủ đích của Hoa Kỳ.

Theo Noam Chomsky, hai trong ba chủ đích là xác đáng. Hoa Kỳ luôn ước muốn ổn định.  Nhưng bạn cần nhớ ổn định có nghĩa gì. Ổn định có nghĩa thích hợp với trật tự hay mệnh lệnh của Hoa Kỳ.

Do đó, một trong những lời buộc tội Iran, một đe dọa lớn lao về chính sách đối ngoại, là Iran đang gây bất ổn ở Iraq và Afghanistan qua nỗ  lực bành trướng ảnh hưởng đến các xứ nầy.

Về phía mình, người Mỹ đang “ổn-định-hóa” các xứ khác khi xâm lăng và hủy hoại các xứ nầy.

Noam Chomsky thỉnh thoảng trích dẫn một trong số những minh họa ưa thích về điểm nầy, một minh họa từ một nhà phân tích chính sách đối ngoại tự do nổi tiếng, James Chace, nguyên biên tập viên báo Foreign Affairs.

Khi bàn về sự kiện lật đổ chế độ Salvador Allende và áp đặt chế độ độc tài Augusto Pinochet năm 1973, James Chace đã viết: “Chúng ta phải “bất ổn hóa” Chile vì lợi ích của “ổn định.”Điều đó đã không được nhận thức như một mâu thuẩn — và đó cũng không phải là một mâu thuẩn. Chúng ta đã phải hủy diệt hệ thống đại nghị để đổi lấy ổn định, có nghĩa họ làm những gì chúng ta nói. Vì vậy, vâng, chúng ta ủng hộ ổn định theo nghĩa kỹ thuật nầy.”[7]

Âu lo về một Hồi Giáo chính trị cũng giống như âu lo về bất cứ một quá trình triển khai độc lập nào khác. Bất cứ cái gì đang trở nên độc lập bạn cũng phải âu lo, bởi lẽ nó có thể phương hại đến quyền lợi của bạn.

Trong thực tế, điều nầy cũng mang tính ít nhiều mỉa mai, bởi lẽ, theo truyền thống, Hoa Kỳ và Anh Quốc luôn hậu thuẩn phe “Hồi Giáo Cực Đoan Chính Thống”, không phải phe “Hồi Giáo chính trị”, như  lực lượng chặn đứng chủ nghĩa quốc gia thế tục — một mối lo thực sự.

Vì vậy, Saudi Arabia, chẳng hạn, là một nhà nước chính thống cực đoan nhất trên thế giới — một nhà nước Hồi Giáo cực đoan. Saudi Arabia luôn có nhiệt tâm truyền giáo, và đang truyền bá Hồi Giáo cực đoan đến Pakistan, tài trợ khủng bố… Nhưng Saudi Arabia là một pháo đài, một thành lũy bảo vệ chính sách của Hoa Kỳ và Anh Quốc. Hoa Kỳ và Anh Quốc luôn hậu thuẩn Saudi Arabia chống lại đe dọa bởi chủ nghĩa quốc gia thế tục từ Ai Cập với Gamal Abdel Nasser và từ Iraq với Abd al-Karim Qasim, trong số nhiều lãnh tụ khác.

Anh và Mỹ không ưa Hồi Giáo chính trị vì lẽ Hồi Giáo chính trị rất có thể trở thành độc lập.

Mục tiêu đầu trong ba mục tiêu của Hoa Kỳ — yêu chuộng dân chủ, cũng không mấy khác với chủ đích của Joseph Stalin, khi Stalin cam kết tôn trọng tự do, dân chủ, và tự do cho thế giới. Đó là loại tuyên bố khiến bạn mỉm cười diễu cợt khi nghe từ các chính trị viên hay từ hàng giáo phẩm Iran, nhưng bạn sẽ lễ phép gật đầu và ngay cả phục tòng khi nghe từ các đối tác Tây Phương.

Nếu bạn nhìn vào thành tích, ước ao dân chủ là một trò đùa bỉ ổi. Điều nầy được công nhận ngay cả bởi các học giả hàng đầu, mặc dù họ thường không nói ra như thế.

Một trong số các học giả phát huy dân chủ nổi danh là Thomas Carothers, một học giả tương đối bảo thủ và được trọng vọng — một học giả tân-Reaganite, không phải một học giả thuộc khuynh hướng tự do đầy nhiệt huyết. Carothers đã làm việc trong Bộ Ngoại Giao dưới thời Reagan, và đã viết vài tác phẩm thẩm định quá trình phát huy dân chủ khá nghiêm túc.

Carothers nói, vâng, đây là lý tưởng đã thẩm thấu và bám rễ lâu đời trong lịch sử Hoa Kỳ — một lịch sử khá khôi hài. Lịch sử của lý tưởng là hầu hết các chính quyền Hoa Kỳ đều bị ” phân liệt tâm thần “ (schizophrenia). Họ chỉ hậu thuẩn hình thức dân chủ chịu tuân thủ một số quyền lợi kinh tế và chiến lược nhất định. Tác giả đã mô tả lý tưởng nầy như một bệnh lý kỳ lạ, tuồng như Hoa Kỳ đang cần được điều trị về tâm thần.

Đã hẳn, còn có một cách giải thích khác, nhưng đó là cách giải thích không thể chấp nhận nếu bạn là một trí thức, học cao và ứng xử đứng đắn.

HOSNI MUBARAK VÀ CÁC CẤP LÃNH ĐẠO HOA KỲ

Suốt trong mấy tháng tiếp theo sự sụp đổ của chế độ độc tài ở Ai Cập, Tổng Thống Hosni Mubarak đã liên tục bị cáo buộc trọng tội và truy tố. Tuy vậy, không một ai có thể tin: cấp lãnh đạo Hoa Kỳ cũng có thể bị đòi hỏi phải trả lời về các trọng tội ở Iraq và nhiều nơi khác trên thế giới, như ở châu Mỹ La Tinh và Đông Nam Á chẳng hạn.

Câu hỏi cần được đặt ra là liệu tình trạng nầy có thể nào thay đổi trong nay mai?

Ngay trong căn bản, đó chính là nguyên tắc Yglesias:  nền móng của trật tự thế giới tự nó đã hàm ngụ Hoa Kỳ có quyền sử dụng bạo lực tùy tiện. Vì vậy, không ai có thể buộc tội bất cứ cá nhân nào trong giới lãnh đạo Hoa Kỳ. Và cũng chẳng có một ai khác có quyền đó.

Tuy nhiên, cũng có vài ngoại lệ đối với vài quốc gia khách hàng của Mỹ. Chẳng hạn, nếu Do Thái xâm lăng hay “xâm thực” Lebanon và giết hại hàng nghìn thường dân và tiêu hũy phân nửa xứ nầy, điều đó cũng dễ chấp nhận đối với Mỹ.

Nhưng sau đây mới là điều thú vị. Barack Obama là một Nghị Sĩ Liên Bang trước khi làm Tổng Thống. Như một Nghị Sĩ Thượng Viện, Obama đã chẳng làm gì nhiều, nhưng cũng đã làm vài việc, kể cả một việc ông ta đã đặc biệt hãnh diện.

Trong thực tế, nếu bạn đọc trang mạng của Barack Obama trước các cuộc bầu cử sơ bộ, Obama đã tô đậm sự kiện Do Thái xâm lăng Lebanon năm 2006: Obama đã đồng bảo trợ một nghị quyết Thượng Viện đòi hỏi Hoa Kỳ không được làm bất cứ điều gì gây trở ngại cho các hành động quân sự của Do Thái, cho đến khi Do Thái đã thành đạt được các mục tiêu, và phải lên án Iran và Syria vì hai xứ nầy đã hậu thuẩn phong trào chống đối các hành động hũy diệt miền Nam Lebanon,  lần thứ năm trong vòng 25 năm.

Như vậy, Do Thái đã được thừa hưởng quyền nầy. Vài quốc gia khách hàng khác cũng vậy.

Tuy nhiên, tất cả các quyền hạn nói trên đều nằm trong tay Hoa Thịnh Đốn. Và đó chính là điều mang ý nghĩa “sở hữu thế giới”. Tương tự như không khí các bạn đang thở. Các bạn không thể nghi ngờ.

Tác giả chính của lý thuyết quan hệ quốc tế đương đại — contemporary IR [international relations], Hans Morgenthau, một nhân vật thực sự đứng đắn, một trong số các khoa học gia chính trị và chuyên gia về các vấn đề quốc tế, đã chỉ trích cuộc chiến Việt Nam trên bình diện đạo lý, không phải trên bình diện chiến thuật. Một thái độ thật sự hiếm hoi!

Morgenthau đã viết cuốn The Purpose of American Politics (Chủ Đích của Chính Trị Hoa Kỳ). Như các bạn đều biết, các quốc gia khác không có chủ đích. Vả chăng, chủ đích của Mỹ  còn có nghĩa siêu nghiệm hay siêu việt  (transcendent): mang tự do và công lý đến phần còn lại của thế giới.

Cũng như Carothers, Morgenthau  là một học giả tốt. Vì vậy, ông đã xem xét kỷ các thành tích. Morgenthau đã phát biểu, khi bạn nghiên cứu thành tích, bạn sẽ thấy hình như Hoa Kỳ đã không xứng đáng với chủ đích siêu việt.

Nhưng rồi Morgenthau lại nói tiếp: chỉ trích chủ đích siêu việt của người Mỹ là đã “rơi vào sai lầm vô thần, một sai lầm phủ nhận giá trị đích thực của tôn giáo trên cùng những lý do tương tự”[8] một so sánh xác đáng. Đó là một tín điều tôn giáo đã bám trụ sâu xa. Sâu xa đến độ sẽ khó lòng gỡ rối.

Và nếu kẻ nào nghi ngờ, sự kiện đó có thể kích động cuồng loạn và thường khi dẫn đến những cáo buộc“chống-Mỹ” hay “thù ghét Mỹ” — những ý niệm nghịch lý không thể hiện hữu trong các xã hội thực sự dân chủ, ngoại trừ trong các xã hội toàn trị chuyên chế  hay ngay ở Hoa Kỳ, nơi những thứ đó cũng chỉ là những chuyện thường tình hay đương nhiên.

Hay bạn cũng có thể nói: mọi sự, khi do chính Hoa Kỳ làm, đều “hợp pháp và hợp đạo lý”.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

23-02-2013


[1] …”encouraging the flow of foreign investments to Iraq, especially American investments.”

[2] …How do we prevent further losses?

[3] …”to ensure uninhibited access  to key markets, energy supplies, and strategic resources.”

[4] …”one of the main functions of the international institutional order is precisely to legitimate the use of deadly military force by western powers.”

[5] Incidentally, I was the target of those remarks, and I’m happy to confess my guilt. I do think that Magna Carta and international law are worth paying some attention to.

[6] How to square contradictory American impulses that include support for democratic change, a desire for stability, and wariness of Islamists who have become a potent political force?

[7] …We had to “destabilize” Chile in the interests of “stability.”That’s not perceived to be a contradiction — and it isn’t. We had to destroy the parliamentary system in order to gain stability, meaning that they do what we say. So yes, we are in favor of stability in this technical sense.

[8] …to criticize [American] transcendent purpose “is to fall into the error of atheism, which denies the validity of religion on similar grounds”.

 

Advertisements