KHỦNG HOẢNG TÊN LỬA CUBA: NGUYÊN NHÂN VÀ HỆ LỤY

Vào tuần lễ cuối tháng 10-1962, thế giới “đã bất động” ngay sau khi được tin Liên Bang Xô Viết đã triển khai các tên lửa với đầu đạn nguyên tử ở Cuba cho đến khi cuộc khủng hoảng chính thức chấm dứt, mặc dù quần chúng không hề hay biết.

Hình ảnh“thế giới bất động” — the world standing still –là lối nói của Sheldon Stern, nguyên sử gia tại Thư Viện Tổng Thống John F. Kennedy, người đủ thẩm quyền xuất bản các băng nhựa ghi âm các phiên họp ExComm giữa Kennedy và các cố vấn thân cận, thảo luận phương cách ứng phó với cuộc khủng hoảng. Các cuộc họp nầy đã được tổng thống bí mật ghi âm, có thể phản ảnh lập trường tương đối ôn hòa  của tổng thống so với các thành viên khác — những người không hay biết họ đang nói chuyện với lịch sử.

Sheldon Stern cũng vừa xuất bản một tái thẩm định trung thực và dễ tiếp cận tư liệu cực kỳ quan trọng nầy — một tư liệu cuối cùng đã được giải mật vào cuối thập kỷ 1990.

Theo Stern, “chưa bao giờ trước đó hay từ đó, sự thượng tồn của văn minh nhân loại đã bị đe dọa suốt thời gian thảo luận cực kỳ nguy hiểm trong mấy tuần lễ ngắn ngũi, lên đỉnh điểm trong tuần lễ thế giới bất động.”[1]

Đã hẳn, thế giới đã có đủ lý do để âu lo. Một cuộc chiến nguyên tử  đe dọa xẩy ra bất cứ lúc nào, một cuộc chiến có thể “hủy diệt Bắc Bán Cầu,”[2] như Tổng Thống Dwight Eisenhower đã cảnh báo trước đó.

Theo phán đoán riêng của J.F.Kennedy,  xác suất xẩy ra chiến tranh có thể đã lên đến 50%. Nhiều lượng định còn cao hơn khi sự đối đầu đã đạt đỉnh điểm và “kế hoạch bí mật ngày tận thế nhằm bảo đảm sự thượng tồn của chính quyền đã được thực thi ở Hoa Thịnh Đốn[3], như đã được mô tả bởi nhà báo Michael Dobbs trong “tác phẩm khảo cứu bestseller” về cuộc khủng hoảng.

Dobbs trích dẫn Dino Brugioni, “một thành viên nòng cốt của đội CIA theo dõi quá trình triển khai tên lửa của Xô Viết,” người đã không thấy có lối thoát nào khác ngoài “chiến tranh và hủy diệt hoàn toàn” khi kim đồng hồ nhích đến“một phút trước nửa đêm,”[4] nhan đề một tác phẩm của chính ông.

Sử gia Arthur Schlesinger, một phụ tá thân cận của Kennedy, đã mô tả các biến cố như “thời điểm nguy hiểm nhất trong lịch sử nhân loại.”[5] Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara cũng đã lên tiếng tự hỏi không biết ông ta “có thể sống sót  để thấy một tối thứ bảy khác,”[6] và về sau đã xác nhận “chúng ta đã may mắn thoát hiểm” — trong đường tơ kẻ tóc.

THỜI ĐIỂM NGUY HIỂM NHẤT

Một cái nhìn gần hơn những gì đã xẩy ra đã làm gia tăng âm hưởng nghiêm trọng của các phán đoán, âm vang cho đến ngày nay.

Thực vậy, nhiều bằng chứng đã cho thấy đó là “thời điểm nguy hiểm nhất.”

Bằng chứng thứ nhất là ngày 27-10, khi các diệt lôi hạm Hoa Kỳ thực thi việc khám xét các tàu lui tới quanh Cuba và đã thả chất nổ xuống các tiềm thủy đỉnh Xô Viết. Theo các báo cáo của phía Xô Viết, như đã được tường trình bởi Văn Khố An Ninh Quốc Gia, các tư lệnh tiềm thủy đỉnh “bối rối âu lo đến trình độ đã bàn đến khả năng phóng ngư lôi nguyên tử cỡ 15 kiloton chất nổ, tương đương với quả bom tàn phá Hiroshima trong tháng 8-1945.”

Trong một trường hợp, quyết định chuẩn bị một ngư lôi nguyên tử sẵn sàng tác chiến đã được ngăn chặn kịp thời vào phút chót bởi Phụ Tá Thuyền Trưởng Vasili Arkhipov, người có thể đã cứu thế giới khỏi tai họa nguyên tử. Chẳng ai nghi ngờ phản ứng của Hoa Kỳ có thể đã ra sao nếu thủy lôi được khởi động, hay người Nga đã có thể phản ứng như thế nào khi xứ sở của họ đã bị tấn công.

Theo nhà phân tích chiến lược uy tín, Graham Allison, thuộc Đại Học Harvard, viết cho báo Foreign Affairs, Kennedy đã ban hành lệnh báo động hạt nhân cao nhất, ngoại trừ lệnh phóng (DEFCON 2), cho phép “các chiến đấu cơ NATO với phi công Thổ Nhĩ Kỳ …[hay các phi công khác] ..cất cánh, bay đến Moscow, và dội bom.”[7]

Một bằng chứng khác là ngày 26-10. Đó là ngày đã được lựa chọn như “thời điểm nguy hiểm nhất” bởi phi công B-52, Thiếu Tá Don Clawson, người lái một trong những phi cơ NATO và cung cấp chi tiết rùng rợn của các phi vụ Chrome Dome (CD) trong cuộc khủng hoảng — “B-52 cất cánh trong tình trạng báo động” với vũ khí nguyên tử trên phi cơ sẵn sàng được sử dụng.”[8]

Ngày 26-10 là ngày “quốc gia gần với chiến tranh nguyên tử nhất”, ông ta viết trong “những giai thoại bất kính (irreverent anecdotes) của một phi công Không Lực,”: Có phải Đó là Điều Phi Hành Đoàn Cần Biết?

Vào ngày đó, chính Clawson đang ở trong địa vị tốt để khởi động một tai họa tận thế. Clawson kết luận, “Chúng ta đã cực kỳ may mắn, chúng ta đã không để thế giới nổ tung — và không có gì đáng cám ơn cấp lãnh đạo chính trị và quân sự của quốc gia nầy.”[9]

Những lầm lỗi, hỗn loạn, tai nạn, và hiểu lầm của giới lãnh đạo, như Clawson đã thuật lại, rất đổi ngạc nhiên, nhưng không gì đáng quan tâm hơn các quy luật chỉ huy và kiểm soát — hay sự thiếu vắng các quy luật nầy.

Như Clawson đã kể lại những kinh nghiệm trong suốt 15 phi-vụ-24-giờ của anh ta, mức tối đa, các tư lệnh chính thức đã không có khả năng ngăn ngừa một thành viên hay toàn bộ một phi hành đoàn với vũ khí hạt nhân, hay ngay cả “phổ biến một phi vụ vận dụng toàn bộ lực lượng không quân trong tình trạng báo động không một khả năng để chận đứng hay hủy bỏ.”[10]

Anh ta viết, môt khi phi hành đoàn đã cất cánh mang theo vũ khí nguyên tử, “phi hành đoàn có thể tự quyết định và ném tất cả bom mà chẳng cần thêm mệnh lệnh từ mặt đất. Không có gì có thể ngăn cản bất cứ hệ thống nào.”[11]

Theo Tướng David Burchinal, giám đốc kế hoạch nhân sự Bộ Tham Mưu Không Quân, khoảng 1/3 lực lượng đã cất cánh. Bộ Tư Lệnh Không Quân Chiến Lược (Strategic Air Command — SAC), chịu trách nhiệm kỹ thuật, đã chứng tỏ có rất ít quyền kiểm soát. Và theo Clawson, Cơ Quan Tư Lệnh Dân Sự Quốc Gia không được SAC giúp nắm vững tình hình, có nghĩa: các người quyết định ExComm nắm vận mệnh thế giới còn biết ít hơn.

Lịch sử “bằng lời” của Tướng Burchinal nghe càng rợn người hơn, đã tiết lộ: các tư lệnh dân sự còn bị khinh thường[12]. Theo Burchinal, không ai nghi ngờ khả năng đầu hàng của Xô Viết. Các cuộc hành quân CD đã được thiết kế để chứng tỏ với người Nga họ không đủ khả năng cạnh tranh trong một cuộc đối đầu quân sự, và có thể bị tiêu diệt nhanh chóng.

Dựa trên tài liệu của ExComm, Stern kết luận: ngày 26-10, T T Kennedy đã nghiêng về hành động quân sự để loại bỏ các tên lửa ở Cuba, được tiếp nối bởi một cuộc hành quân xâm lăng Cuba theo đúng các kế hoạch của Ngũ Giác Đài.

Lúc đó, rõ ràng hành động đã có thể đưa đến cuộc chiến cuối cùng, một kết luận được xác nhận bởi các tiết lộ sau nầy về các vũ khí nguyên tử chiến thuật đã được triển khai và lực lượng Xô Viết trong thực tế đã lớn lao hơn tin tức tình báo phúc trình rất nhiều.

Trong khi các cuộc họp ExComm sắp kết thúc lúc 6 p.m. ngày 26-10, một thư đến từ Thủ Tướng Xô Viết Nikita Khrushchev, gửi trực tiếp cho T T Kennedy. Stern viết: “Thông diệp [của Khruschev] hình như rất rõ ràng. Các tên lửa có thể được triệt thoái nếu Hiệp Chủng Quốc hứa sẽ không xâm lăng Cuba.”[13]

Ngày hôm sau, lúc 10 giờ sáng, tổng thống đã mở lại băng ghi âm bí mật. Tổng thống đọc lớn điện văn phúc trình đã được trao cho ông: “Thủ Tướng Khrushchev đã nói với T T Kennedy trong một thông điệp hôm nay, Thủ Tướng có  thể triệt thoái các vũ khí tấn công khỏi Cuba nếu Hoa Kỳ triệt thoái các tên lửa của Mỹ khỏi Thổ Nhĩ Kỳ”[14]– đó là các tên lửa Jupiter với đầu đạn nguyên tử. Báo cáo đã được chứng thực ngay sau đó.

Mặc dù mới nhận được một cách bất ngờ, nhưng trong thực tế, thông điệp cũng đã  được chờ đợi trước đó. T T Kennedy cũng đã tiết lộ: “Chúng ta đã biết điều nầy có thể đến từ một tuần nay.”[15] Kennedy hiểu: công khai bác bỏ là một điều rất khó. Đây là những tên lửa lỗi thời, sẽ được thay thế nay mai bởi tên lửa Polaris an toàn và hiệu quả hơn. Kennedy công nhận, Tổng Thống có thể lâm vào một vị thế khó xử nếu điều nầy trở thành đề nghị chính thức của Khrushchev, vì các tên lửa Thổ Nhĩ Kỳ đều là những vũ khí vô dụng và sắp bị thu hồi, và vì đối với bất cứ ai trong Liên Hiệp Quốc hay bất cứ một người duy lý nào, đề nghị của Khruschev cũng đã chứng tỏ là một trao đổi rất công bằng.

UY LỰC KHÔNG KIỀM CHẾ CỦA HOA KỲ

Các nhà hoạch định đã đối diện với một tình thế lưỡng nan nghiêm trọng. Họ nắm trong tay hai đề nghị ít nhiều khác nhau từ Khrushchev, nhằm chấm dứt sự đe dọa một cuộc chiến tai họa, và cả hai dưới mắt bất cứ một người duy lý nào cũng rõ ràng  là một tương nhượng  phải chăng và công bằng.

Người Mỹ phải phản ứng như thế nào?

Một phản ứng khả dĩ là thở phào nhẹ nhỏm vì văn minh nhân loại đã có thể thượng tồn và vồ vập chấp nhận cả hai giải pháp đề nghị; loan báo Hoa Kỳ sẽ tuân thủ luật quốc tế và chấm dứt  mọi đe dọa xâm lăng Cuba; thực thi việc gỡ bỏ các tên lửa lỗi thời khỏi Thổ Nhĩ Kỳ; tiếp tục nâng cấp đe dọa nguyên tử đối với Liên Bang Xô Viết như đã hoạch định  — đã hẳn, chỉ một phần trong chiến lược bao vây toàn cầu đối với Nga. Nhưng đó là điều khó thể tưởng tượng.

Lý do căn bản giải pháp khả dĩ đó đã không được cứu xét, đã được trình bày bởi Cố Vấn An Ninh Quốc Gia McGeorge Bundy, nguyên khoa trưởng Harvard và ngôi sao chói  lọi nhất trong nhóm Camelot. McGeorge Bundy nhấn mạnh: thế giới phải hiểu rõ, “đe dọa đối với hòa bình hiện nay không phải ở Thổ Nhĩ Kỳ, đó chính là ở Cuba,”[16] nơi hỏa tiển đang hướng đến Hoa Kỳ.

Một lực lượng tên lửa hùng mạnh hơn của Hoa Kỳ hướng đến kẻ thù Xô Viết yếu và dễ bị thương tổn hơn rất nhiều,  không thể được xem như một đe dọa đối với hòa bình, bởi lẽ Hoa Kỳ là “Ông Thiện”, như nhiều dân tộc trong Tây Bán Cầu và nhiều nơi khác có thể xác quyết.

Trong số đông các dân tộc khác, nạn nhân của cuộc chiến khủng bố đang tiếp diễn bởi người Mỹ chống lại Cuba, hay những dân tộc bị đe dọa bởi “chiến dịch hận thù” (campaign of hatred) trong thế giới Á Rập, một chiến dịch gây bối rối cho Eisenhower, nhưng không gây một băn khoăn nào đối với Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, như Hội Đồng đã giải thích rõ ràng.

Đã hẳn, ý niệm Hoa Kỳ cần được kiềm chế bởi luật quốc tế là lố lăng, không đáng được lưu ý. Như gần đây, một  bình luận gia thuộc phái tự do tả khuynh đáng trọng nể,  Matthew Yglesias, giải thích, “một trong những chức năng chính của trật tự định chế quốc tế chính là để xác nhận tính chính đáng cho việc sử dụng lực lượng quân sự gây tai họa thương vong  bởi các cường quốc Tây Phương [có nghĩa Hoa Kỳ], do đó, việc gợi ý cần phải tôn trọng luật quốc tế hay các điều kiện chúng ta áp đặt lên những dân tộc yếu thế là một việc làm quá ngây ngô, thật ra hoàn toàn điên khùng.”[17]

Đây là một mô tả bộc trực, thẳng thắn, và đáng khen các giả thiết hành động của Mỹ — operative assumptions — các thành viên ExComm luôn xem là những thực tế bình thường.

Trong những cuộc đàm luận sau đó, tổng thống đã nhấn mạnh “chúng ta” có thể đang ở trong một tư thế bất lợi nếu “chúng ta” lựa chọn phát động một tai họa quốc tế qua việc bác bỏ các đề nghị có vẻ khá phải chăng đối với những người sống sót (nếu có ai đó quan tâm). Lập trường thực tế nầy sẽ là tất cả những gì các lý do đạo đức có thể với tới.

Trong một tái thẩm định các tài liệu mới giải mật về khủng bố dưới thời Kennedy, một chuyên gia Mỹ La Tinh thuộc Đại Học Harvard, Jorge Dominguez, đã nhận xét: “Trong khoảng gần một nghìn trang tài liệu, chỉ một lần một quan chức Hoa Kỳ đã nêu lên một điều có vẻ như một đề kháng tinh thần yếu ớt đối với chủ nghĩa khủng bố do chính quyền Mỹ bảo trợ”: một thành viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia đã gợi ý, các cuộc bố ráp ngẫu nhiên và gây thương vong cho  nhiều nạn nhân vô tội .. có thể đem lại các phản ứng bất lợi trong giới truyền thông và báo chí trong vài quốc gia bạn.”[18]

Những thái độ tương tự đã chiếm ưu thế trong các cuộc thảo luận nội bộ trong thời gian khủng hoảng, như khi Robert Kennedy cảnh cáo một cuộc xâm lăng qui mô vào Cuba có thể “gây một số thương vong lớn cho thường dân và chúng ta sẽ phải đối đầu với những chỉ trích nặng nề.”[19] Và cho đến ngày nay, các thái độ tương tự vẫn còn thắng thế với rất hiếm ngoại lệ, và dễ dàng có thể chứng minh với đầy đủ tư liệu.

Người Mỹ cũng có thể lâm vào “một vị thế ngay cả tệ hại hơn nhiều” nếu thế giới biết được những gì Hoa Kỳ đã làm gần đây. Thực vậy, khoảng mười một tháng trước đây, Hoa Kỳ đã bí mật triển khai tên lửa đến Okinawa tương tự với các tên lửa người Nga đã gửi đến Cuba. Những tên lửa nầy đều nhằm vào TQ đúng  lúc tình hình trong khu vực hết sức căng thẳng.

Cho đến nay, Okinawa luôn là một căn cứ quân sự tiền phương quan trọng, trước phong trào cực lực chống đối của dân địa phương, một quần chúng hiện nay không chút sốt sắng đón nhận các trực thăng Osprey V-22 thường hay gây ra tai nạn, đã được gửi tới căn cứ quân sự Futenma, ngay giữa lòng một đô thị đông dân cư.

MỘT THÁI ĐỘ THIẾU TÔN TRỌNG NHÂN LOẠI

Những cuộc thảo luận tiếp theo còn cho biết nhiều điều khác, nhưng ở đây chúng ta chỉ cần quan tâm đến một kết luận. Hoa Kỳ đã cam kết triệt thoái các tên lửa lỗi thời ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng đã không làm như thế một cách công khai hay bằng văn bản: điều quan trọng [đối với Mỹ] là Khrushchev phải được [thế giới] thấy như đã đầu hàng.

Một lý do khá khôi hài đã được đưa ra, và được chấp nhận như phải chăng bởi giới học giả và bình luận gia. Như Dobbs đã nói: “Nếu để cho người ngoài nghĩ, Hoa Kỳ đang đơn phương tháo gỡ các căn cứ tên lửa, dưới áp lực của Liên Bang Xô Viết, các đồng minh NATO rất có thể rạn vỡ”[20] hay chính xác hơn, nếu Hoa Kỳ đã thay thế các tên lửa vô dụng bằng một đe dọa nguy hiểm hơn nhiều như đã được hoạch định trong một trao đổi với Nga Sô, một trao đổi bất cứ một người duy lý nào cũng có thể xem như rất công bằng, lúc đó  liên minh NATO rất có thể rạn vỡ.

Đã hẳn, khi Liên Xô đã triệt thoái vũ khí ngăn ngừa duy nhất chống lại nguy cơ một cuộc tấn công đang tiếp diễn của Hoa Kỳ — với lời đe dọa nghiêm trọng xúc tiến một cuộc xâm lăng trực tiếp  —  và lặng lẻ rút khỏi hiện trường, người Cuba có thể sẽ rất giận dữ (một điều khá dễ hiểu). Nhưng đối với người Mỹ, đó là một so sánh bất công vì những lý do chuẩn: “người Mỹ là những con người đáng giá, trong khi “chúng” chỉ là người-không-phải-người”[21] (unpeople), nhại theo lối nói của George Orwell.

Kennedy cũng đưa ra một lời hứa không chính thức là sẽ không xâm lăng Cuba, nhưng với điều kiện: không những Liên Xô phải triệt thoái các tên lửa, mà còn phải chấm dứt, hay ít ra phải giảm thiểu tối đa, bất cứ một  hiện diện quân sự nào khác. Theo lời của Kennedy, khi Cuba không còn là một “doanh trại quân sự, lúc đó “chúng ta có thể không xâm chiếm.”[22] Kennedy còn nói thêm, nếu [Cuba] hy vọng được tự do, khỏi bị đe dọa bởi một cuộc xâm lăng của Mỹ, Cuba phải chấm dứt mọi “phá hoại chính trị”(political subversion) ở Mỹ La Tinh.

Phá hoại chính trị đã là đề tài phổ thông trong những năm đó, chẳng hạn đã được nhắc đến khi Eisenhower lật đổ chính thể đại nghị ở Guatamala và đã nhận chìm xứ nầy trong vực thẳm mãi cho đến ngày nay. Và các chủ đề nầy đã luôn sống động qua các cuộc chiến khủng bố đồi bại của Ronald Reagan ở Trung Mỹ trong thập kỷ 1980. “Phá hoại chính trị” do Cuba bao gồm hậu thuẩn dành cho các lực lượng đề kháng các cuộc tấn công tàn sát của Mỹ và của các chế độ khách hàng.

Đó là phương thức hành động chuẩn mực. Như vậy, trong năm 1955, Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân đã vạch ra “ba hình thức xâm lược căn bản.”[23]

Thứ nhất: xâm lược quân sự xuyên qua biên giới, có nghĩa, tấn công theo đúng định nghĩa của luật pháp quốc tế.

Thứ hai: “xâm lược bằng vũ lực ngay bên trong lãnh thổ các quốc gia đầy đủ chủ quyền,”[24] như khi các lực lượng du kích công khai đề kháng bằng vũ lực một chế độ do Hoa Kỳ áp đặt hay hậu thuẩn; nhưng không, khi các “chiến sĩ tự do” đề kháng một kẻ thù chính thức.

Thứ ba: “xâm lược không bằng vũ lực, chẳng hạn, chiến tranh chính trị, hay phá hoại.” Ví dụ điển hình vào thời đó là Nam Việt Nam, nơi Hoa Kỳ đang bảo vệ một dân tộc tự do chống lại một cuộc “xâm lược nội bộ,” như Đại Sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc, Adlai  Stevenson, đã giải thích — “một cuộc xâm lược từ bên trong” theo ngôn từ của tổng thống.

Mặc dù  các giả thiết trên đây đã thẩm thấu trong chủ thuyết đang giữ ưu thế — đã trở  thành một thành tố vô hình, nhưng đôi khi cũng đã được diễn đạt mạch lạc trong hồ sơ nội bộ.

Trong trường hợp Cuba, Hội Đồng Hoạch Định Chính Sách Bộ Ngoại Giao đã giải thích “nguy cơ hàng đầu chúng ta đối diện ở Castro là…tác động của chính sư hiện diện của chế độ của ông trên phong trào tả khuynh trong nhiều xứ Mỹ La Tinh…Thực tế đơn thuần là Castro tượng trưng cho một thách thức thành công đối với Hoa Kỳ, một phủ định toàn bộ chính sách Tây Bán Cầu của chúng ta, đã kéo dài gần một thế kỷ rưởi,”[25] — kể từ khi Chủ Thuyết Monroe công bố ý định của Hoa Thịnh Đốn, lúc đó chưa thể thực hiện: khống chế toàn bộ Tây Bán Cầu.

Vào thời điểm đó, đối tượng không phải là người Nga, mà thực ra là “quyền khống chế”the right to dominate, một nguyên tắc hướng đạo trong chính sách đối ngoại của Mỹ có thể nhận diện ở khắp nơi, mặc dù được che dấu trong những từ ngữ mang tính tự vệ: trong những năm Chiến Tranh Lạnh, qua việc thường viện dẫn mối “đe dọa của Nga” — “Russian threat”, ngay cả khi không có sự hiện diện của người Nga.

Một ví dụ có tầm quan trọng lớn lao thời đó, được phơi bày trong tác phẩm quan trọng sắp tới của học giả Iran, Ervand Abrahamian, về cuộc đảo chánh do Hoa Kỳ-Anh Quốc giật dây, lật đổ chế độ đại nghị của Iran năm 1953. Với sự tra cứu  nghiêm túc các tư liệu và hồ sơ nội bộ, tác giả đã chứng minh một cách thuyết phục: các lối giải thích chuẩn mực trước đây không thể đứng vững.

Các nguyên nhân cơ bản không phải là các quan tâm Chiến Tranh Lạnh, không phải sự thiếu duy lý của người Iran phương hại đến các “ý định an lành vô hại”[26] của Hoa Thịnh Đốn, cũng không phải do nhu cầu tiếp cận dầu khí hay doanh lợi, mà thực ra là phương cách Hoa Kỳ đòi hỏi “quyền kiểm soát tổng thể” (overall controls) với các hệ quả rộng lớn hơn vì bá quyền toàn cầu — bị đe dọa bởi chủ nghĩa quốc gia độc lập.

Đó là những gì giới khảo cứu nghiêm chỉnh đã nhiều lần khám phá qua việc điều tra các trường hợp đặc biệt, kể cả Cuba, mặc dù sự cuồng tín trong trường hợp đặc biệt nầy có thể cần được cứu xét.

Chính sách đối với Cuba của Hoa Kỳ đang bị kết án nghiêm khắc trong khắp vùng Mỹ La Tinh và trên hầu hết thế giới, nhưng “một sự tôn trọng đứng đắn đối với ý kiến của nhân loại” chỉ được hiểu như những mỹ từ vô nghĩa chỉ được lặp lại một cách vô cảm trong ngày 4 tháng 7 hàng năm.

Kể từ khi có nhiều cuộc thăm dò công luận về đề tài nầy, một đa số đáng kể dân Mỹ đã hậu thuẩn bình thường hóa quan hệ với Cuba, nhưng điều đó cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Gạt bỏ công luận đã hẳn là chuyện khá bình thường ở Hoa Kỳ. Điều đáng lưu ý trong trường hợp nầy là gạt bỏ ý kiến của các quyền lực kinh tế hùng mạnh ở chính Hoa Kỳ, các lực lượng cũng hậu thuẩn bình thường hóa quan hệ với Iran và thường có nhiều ảnh hưởng trong địa hạt hoạch định chính sách: năng lượng, nông doanh, dược phẩm, và nhiều sản phẩm khác. Thực tế nầy đã được bộc lộ bên cạnh các yếu tố văn hóa như tính hiếu chiến và cuồng loạn của các bậc trí thức Camelot, còn có quyền lợi của nhà nước hùng mạnh bên sau các biện pháp trừng phạt Cuba.

CỨU THẾ GIỚI KHỎI TAI HỌA NGUYÊN TỬ

Cuộc khủng hoảng tên lửa đã chấm dứt ngày 28 tháng 10. Kết quả đã khá rõ ràng. Chiều hôm đó, trong giờ phát sóng bản tin đặc biệt của hảng CBS, Charles Collingwood đã tường trình “thế giới đã thoát khỏi đe dọa kinh khủng nhất của một tai họa nguyên tử kể từ Đệ Nhị Thế Chiến” với một ” thất bại nhục nhã cho chính sách của Xô Viết.”[27]

Dobbs bình luận, người Nga đã tìm cách gợi ý: kết quả là “một thắng lợi khác của chính sách đối ngoại yêu chuộng hòa bình của Mạc Tư Khoa đối với các phần tử đế quốc hiếu chiến,” và cấp lãnh đạo Xô Viết cực kỳ khôn ngoan, luôn phải chăng, đã cứu thế giới khỏi “sự đe dọa của một tai họa nguyên tử.”[28]

Tách các sự thật căn bản khỏi sự lố lăng thời thượng, thỏa hiệp đầu hàng của Khrushchev thực sự đã cứu thế giới khỏi một nguy cơ hủy diệt nguyên tử.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng vẫn chưa chấm dứt. Ngày 8 tháng 11, Ngũ Giác Đài đã loan báo tất cả các căn cứ tên lửa được biết của Xô Viết trước đó đã được tháo gỡ. Trong cùng ngày, Stern báo cáo, “một đội phá hoại đã thực hiện một cuộc tấn công vào một xưởng máy của Cuba,” mặc dù chiến dịch khủng bố của Kennedy , cuộc hành quân Mongoose, đã chính thức được giảm thiểu vào đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng.

Cuộc tấn công khủng bố ngày 8-11 đã củng cố nhận xét của Bundy: đe dọa đối với hòa bình là Cuba, không phải Thổ Nhĩ Kỳ, nơi người Nga không tiếp tục tấn công gây thương vong; và chắc hẳn đó  không phải là những gì Bundy đã nghĩ hay có thể đã hiểu.

Nhiều chi tiết đã được một học giả đầy uy tín, Raymond Garthoff, người có nhiều kinh nghiệm bên trong chính quyền, cung cấp bản tường trình đầy đủ và cẩn thận 1987 về cuộc khủng hoảng tên lửa.

Ngày 8-11, theo thư của chính quyền Cuba gửi Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, Garthoff viết: “một đội phá hoại bí mật, người Cuba lưu vong, được gửi tới từ Hoa Kỳ, đã thành công phá hũy một cơ sở kỹ nghệ Cuba bằng chất nổ,” giết chết 400 công nhân.

Garthoff bình luận:”Người Xô Viết chỉ có thể xem [cuộc tấn công] như một nổ lực hay một bước giật lùi trong vấn đề then chốt còn lại: các cam kết của phía Mỹ sẽ không tấn công Cuba,” nhất là khi cuộc tấn công đã được phát động từ Hoa Kỳ. Ông đã kết luận, những việc nầy và “những hành động của phe thứ ba” một lần nữa cho thấy  nguy cơ đối với cả hai phía đã có thể lên đỉnh điểm, và không loại trừ tai họa.

Garthoff cũng duyệt lại các cuộc hành quân gây thương vong và đổ nát  của chiến dịch khủng bố của Kennedy, những thứ “chúng ta chắc chắn có thể xem như  đủ để biện minh cho chiến tranh, nếu Hoa Kỳ và đồng minh hay các chính quyền khách hàng là nạn nhân, thay vì thủ phạm.”

Cũng từ cùng một nguồn tin, chúng ta còn được biết, vào ngày 23-8-1962, tổng thống đã ban hành VănThư Ghi Nhớ về An Ninh Quốc Gia số 181, “một chỉ thị hướng dẫn một cuộc dấy loạn nội bộ được tiếp nối bởi một can thiệp quân sự của Hoa Kỳ, liên quan đến các kế hoạch quân sự quan trọng, các cuộc thao diễn quân sự, và điều động quân đội và trang thiết bị,” — chắc chắn Cuba và Nga Xô đều biết rõ.

Cũng trong tháng 8, các cuộc tấn công khủng bố đã được tăng cường, kể cả các cuộc tấn công bởi các tàu tuần cao tốc — speed-boats, vào một khách sạn trên bờ biển “nơi các kỹ thuật gia quân sự Nga Sô thường lui tới, sát hại nhiều người Nga và Cuba”, các cuộc tấn công vào tàu chở hàng Anh và Cuba; gây ô nhiễm các tàu chở đường; và nhiều hành động tàn ác phá hoại khác, hầu hết đều do các tổ chức Cuba lưu vong, được chính quyền Mỹ cho phép tự do hoạt động ở Florida.

Vài tuần lễ sau, thế giới đã chứng kiến “thời khắc nguy hiểm nhất trong lịch sử nhân loại” —  cũng không hoàn toàn bất ngờ.

Kennedy đã chính thức tái tục các cuộc hành quân khủng bố sau khi cuộc khủng hoảng tên lửa đã chấm dứt. Mười ngày trước khi bị ám sát, Kennedy đã chấp thuận kế hoạch hành quân của CIA, do các lực lượng ủy nhiệm của Hoa Kỳ, phá hoại một nhà máy lọc dầu lớn và các cơ sở tồn trữ, một nhà máy điện lớn, nhiều nhà máy chế biến mía đường, các cầu hỏa xa, các cơ sở bến cảng, các bến tàu ngầm và thuyền bè. Một âm mưu ám sát Castro rõ ràng đã được khởi động ngay vào ngày Kennedy bị ám sát.

Chiến dịch khủng bố được hủy bỏ trong năm 1965, nhưng Garthoff đã tường thuật “một trong những hành động đầu tiên của Nixon sau khi nhận chức trong năm 1969 là ra lệnh cho CIA tăng cường các cuộc hành quân ngụy trang chống lại Cuba.”

Cuối cùng chúng ta có thể nghe tiếng nói của các nạn nhân trong tác phẩm của sử gia Canada, Keith Bolender, “Tiếng Nói Từ Phía Bên Kia” (“Voices From the Other Side”), lịch sử bằng lời đầu tiên về chiến dịch khủng bố — một trong nhiều tác phẩm khó thể được lưu tâm đầy đủ trong thế giới Tây Phương, bởi lẽ nội dung của tác phẩm đã phơi bày quá nhiều sự thật.

Trong tạp chí Political Science Quarterly, số tháng 10-2012, một tạp chí chuyên nghiệp của Hiệp Hội Các Khoa Học Gia Chính Trị Hoa Kỳ, Montague Kern đã nhận xét: cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba là “một trong những cuộc khủng hoảng lớn … trong đó  kẻ thù ý thức hệ (Liên Bang Xô Viết) đã được nhận thức một cách phổ quát (universally perceived)  là thủ phạm đã phát động tấn công , đưa đến hiệu ứng tập hợp dưới cờ giúp tăng cường hậu thuẩn và làm gia tăng các chọn lựa chính sách cho một tổng thống.”

Kern đã đúng khi nói, cuộc khủng hoảng đã được “nhận thức một cách phổ quát,” bên ngoài những kẻ đã thoát khỏi xiềng xích ý thức hệ để có thể lưu tâm phần nào đến các sự kiện thực tế. Thực vậy, chính Kern là một trong số nầy. Kern cũng đã đúng khi công nhận những gì giới ngoại lệ đó đã biết từ lâu.

Ngày nay chúng ta đã hiểu được giải thích nguyên thủy của Khrushchev về việc triển khai các tên lửa đến Cuba trong căn bản là đúng sự thật: “Lãnh tụ Xô Viết đã không bao giờ có ý định xem những vũ khí đó như một đe dọa đối với an ninh của Hoa Kỳ, nhưng chỉ quan niệm việc triển khai tên lửa như một hành động tự vệ nhằm bảo vệ các đồng minh của Nga Sô khỏi sự tấn công của Mỹ và như một nổ lực tuyệt vọng đem lại cho Liên Bang Xô Viết một bề ngoài ngang sức với Hoa Kỳ trong một thế cân bằng lực lượng nguyên tử.”

Dobbs cũng công nhận, “Castro và  các lãnh đạo Nga thực sự có đủ lý do để lo sợ các nổ lực thay đổi chế độ của Mỹ, kể cả xâm lăng Cuba như giải pháp cuối cùng … Khrushchev cũng đã thành thật trong ý muốn bảo vệ cuộc cách mạng Cuba chống lại quốc gia láng giềng hùng mạnh phía Bắc.”

KINH HOÀNG TRÊN ĐỊA CẦU

Trong giới bình luận ở Mỹ, các cuộc tấn công của Hoa Kỳ thường được bác bỏ như những trò đùa đã vượt khỏi tầm kiểm soát của CIA. Điều nầy hoàn toàn không đúng sự thật.

Những đầu óc lỗi lạc ở Hoa Kỳ đã phản ứng gần như điên dại trước sự thất bại ở Vịnh Con Heo, kể cả tổng thống, người đã long trọng loan báo với dân Mỹ: “những xã hội dễ bằng lòng, yếu mềm, tự mãn, sẽ bị cuốn trôi cùng với rác rưới của lịch sử. Chỉ những người kiên cường … mới có thể sống sót.”[29] Và tổng thống rõ ràng tin, họ chỉ có thể sống sót qua chính sách khủng bố rộng khắp  — mặc dù phần nói thêm nầy đã được dấu kín, ngay cả đối với các người trung thành, những thành phần đã nhận thức chính “kẻ thù ý thức hệ” “đã phát động tấn công.”

Sau vụ thất bại ở Vịnh Con Heo, nhà sử học Piero Gleijeses viết, JFK đã áp đặt các biện pháp cấm vận ngặt nghèo để trừng phạt người Cuba vì đã đánh bại cuộc xâm lăng do Mỹ lãnh đạo, và “đã yêu cầu người em, Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy, lãnh đạo một nhóm quan chức liên bộ hàng đầu giám sát Chiến Dịch Mongoose, một chương trình bán quân sự, chiến tranh kinh tế và phá hoại, phát động vào cuối năm 1961 như những đòn khủng bố kinh thiên động địa đối với Fidel Castro và, nói một cách sống sượng, để lật đổ Fidel Castro.”[30]

“Khủng bố kinh thiên động địa” (“terrors of the earth”) là cụm từ Arthur Schlesinger đã dùng khi viết một dạng tiểu sử của Robert Kennedy, người được trao trách nhiệm điều khiển chiến dịch khủng bố, và thông báo cho CIA: vấn đề Cuba “mang ưu tiên hàng đầu của chính quyền Hoa Kỳ — mọi vấn đề khác đều thứ yếu —  dù phải mất bao nhiêu thời gian, nổ lực, nhân lực” cần thiết trong nổ lực lật đổ chế độ Castro.

Người đứng đầu chiến dịch Mongoose, Edward Lansdale, là một người có đầy đủ kinh nghiệm “chống dấy loạn,” “counterinsurgency” — một từ chuẩn thay thế từ khủng bố,  khi do chính người Mỹ chủ động. Chính Lansdale là người đã cung cấp thời khắc biểu tổ chức “cuộc dấy loạn công khai và lật đổ chế độ Cộng Sản trong tháng 10-1962.” “Định nghĩa sau cùng” của chương trình đã công nhận “thành công cuối cùng sẽ đòi hỏi sự can thiệp quân sự quyết định của Hoa Kỳ,” sau khi “các hoạt động khủng bố và phá hoại đã tạo dựng nền móng căn bản.”[31]  Điều nầy có nghĩa: can thiệp quân sự của Hoa Kỳ có thể xẩy ra trong tháng 10 năm 1962 — khi cuộc khủng hoảng tên lửa bùng phát.

Các biến cố nói trên  giúp giải thích tại sao Cuba và Liên Xô đã có đủ lý do để tin các đe dọa của Hoa Kỳ là thật sự nghiêm chỉnh.

Nhiều năm sau, Robert McNamara đã công nhận Cuba đã chính đáng khi âu lo về một cuộc tấn công của Mỹ. McNamara đã đưa ra nhận xét trong một hội nghị quan trọng trong dịp kỷ niệm 40 năm cuộc khủng hoảng tên lửa: “Nếu tôi ở vào địa vị của Cuba hay Liên Xô, tôi có lẽ cũng đã nghĩ như thế.”[32]

Riêng đối với “những nổ lực gần như tuyệt vọng của Nga để tạo ra một bề ngoài bình đẳng” như Stern đã nhắc đến, chúng ta cần nhớ: sự kiện đắc cử tổng thống một cách sít sao của Kennedy năm 1960 một phần lớn đã nhờ ở hố cách biệt tên lửa giả tạo nhằm gây hoang mang hoảng sợ trong quần chúng Mỹ và lời buộc tội chính quyền Eisenhower đã quá mềm yếu trong phạm vi an ninh quốc gia.

Trong thực tế, sai biệt trong số tên lửa giữa Mỹ và Nga là có thật, nhưng lợi thế tuyệt đối do “hố cách biệt” đã thuộc về phía Hoa Kỳ, không phải phía Nga Sô.

“Tuyên bố công khai không mập mờ đầu tiên của chính quyền” về các sự kiện thực tế trung thực, theo nhà phân tích chiến lược Desmond Ball trong một nghiên cứu về chương trình tên lửa của Kennedy, đã được đưa ra trong tháng 10-1961, khi Thứ Trưởng Quốc Phòng Roswell Gilpatric thông báo cho Hội Đồng Doanh Thương: “Hoa Kỳ có thể còn có một hệ thống phóng tên lửa sót lại sau một cuộc tấn công bất thần lớn hơn lực lượng nguyên tử mà Liên Bang Xô Viết có thể sử dụng trong cuộc tấn công phủ đầu trước.”[33]

Đã hẳn, người Nga hiểu rất rõ thế bất lợi và dễ bị thương tổn của họ. Họ cũng hiểu phản ứng của Kennedy “khi Khrushchev đề nghị cắt giảm một phần lớn khả năng quân sự thế công và đã đơn phương thực thi quyết định nầy.”[34]  Tổng Thống Kennedy đã không đáp ứng , thay vào đó, còn tăng cường chương trình vũ trang của Mỹ.

LÀM CHỦ THẾ GIỚI, XƯA VÀ NAY

Sau đây là hai câu hỏi chủ yếu về cuộc khủng hoảng tên lửa: Phương cách cuộc khủng hoảng bắt đầu và phương cách chấm dứt?

Cuộc khủng hoảng đã bắt đầu với các cuộc tấn công khủng bố của Kennedy ở Cuba, và với đe dọa xâm lăng vào tháng 10 năm 1962.

Cuộc khủng hoảng đã chấm dứt khi tổng thống Kennedy đã bác bỏ các đề nghị của Nga, những đề nghị khá công bằng theo nhãn quan của những người duy lý, nhưng không thể nghĩ đến vì lẽ các đề nghị nầy có lẽ đã làm suy yếu các nguyên tắc nòng cốt: Hoa Kỳ có quyền đơn phương triển khai các tên lửa bất cứ ở đâu, nhằm Trung Quốc hay nhằm Nga hay bất cứ ai, và ngay ở biên giới của hai xứ nầy; và nguyên tắc đi kèm là Cuba không có quyền có tên lửa tự vệ đề phòng một đe dọa xâm lăng sẽ xẩy ra bất cứ lúc nào của Mỹ.

Thiết lập những nguyên tắc nầy một cách kiên quyết, có nghĩa sẵn sàng đối diện một nguy cơ chiến tranh với sức tàn phá hủy diệt không thể tưởng tượng, và đơn thuần loại bỏ các phương cách đơn giản và công bằng để chấm dứt nguy cơ đó.

Garthoff nhận xét, “ở Hoa Kỳ, phương cách giải quyết cuộc khủng hoảng của tổng thống Kennedy đã được đa số dân Mỹ chấp thuận.”[35]

Dobbs cũng đã viết:”Giọng điệu lạc quan không nao núng của sử gia chính thức nội bộ, Arthur M. Schlesinger, Jr., người đã viết, “Kennedy đã làm thế giới choáng ngợp qua một phối hợp cứng rắn và tự kiềm chế, kiên trì, can đảm và khôn ngoan, được phối trí một cách thông minh, với những liều lượng tuyệt vời.[36]

Stern, một phần nào ôn hòa hơn, cũng đồng ý, khi ghi nhận, Kennedy đã nhiều lần bác bỏ khuyến cáo mang tính gây hấn của các cố vấn và phụ tá, những người chủ trương dùng vũ lực và bác bỏ mọi giải pháp hòa bình. Các biến cố trong tháng 10 năm 1962 đã được đa số người Mỹ ngợi khen như những ngày giờ tốt đẹp nhất của Kennedy. Graham Allison cùng với một số đông đã mô tả những ngày giờ đó như “một phương cách giải quyết xung đột, quản lý các quan hệ giữa các đại cường, và lấy quyết định lành mạnh về chính sách đối ngoại nói chung.”

Trong một nghĩa hẹp, phán đoán trên đây hình như khá phải chăng. Các băng đĩa ExComm tiết lộ: tổng thống đã đứng ngoài mọi phe nhóm, đôi khi tất cả mọi người, khi bác bỏ các biện pháp dùng vũ lực một cách hấp tấp vội vã.

Tuy nhiên, vẫn còn một câu hỏi khác: Bằng cách nào sự ôn hòa tương đối của JFK trong vấn đề quản lý khủng hoảng cần được đánh giá trong một bối cảnh các trạng huống rộng lớn hơn như vừa xét duyệt trên đây?

Nhưng vấn đề đã không được đặt ra trong một văn hóa trí thức, đạo đức có kỷ luật, một văn hóa chấp nhận không đắn đo nguyên tắc căn bản: Hoa Kỳ đang thực sự nắm quyền sở hữu thế giới, và do định nghĩa, một lực lượng luôn làm việc thiện, việc tốt, mặc dù đôi khi có hiểu lầm hay sai quấy, một văn hóa trong đó rõ ràng hoàn toàn thích hợp để Hoa Kỳ triển khai lực lượng tấn công hàng loạt trên khắp thế giới, trong khi đó những quốc gia khác, ngoại trừ đồng minh hay khách hàng của Hoa Kỳ, chỉ cần có một cử chỉ nhỏ nhoi theo chiều hướng đó hay chỉ nghĩ đến ngăn ngừa một đe dọa dùng bạo lực bởi một “bá chủ toàn cầu nhân từ,” cũng đã là một vi phạm trắng trợn .

Chủ thuyết nầy cũng là một  buộc tội căn bản chính thức chống lại Iran ngày nay: Iran rất có thể đã tạo ra một vật cản nhằm làm nản lòng các lực lượng Hoa Kỳ hay Do Thái. Đó cũng là một lý do hay cũng là một điều cần được cứu xét trong cuộc khủng hoảng tên lửa. Trong các cuộc thảo luận nội bộ, anh em Kennedy đã biểu lộ một âu lo: các tên lửa Cuba có thể ngăn chặn một cuộc xâm lăng Venezuela của Hoa Kỳ, lúc đó đang được cứu xét. Vì vậy, JFK đã kết luận: vụ Vịnh con Heo là thực sự đúng.

Những nguyên tắc trên vẫn còn đóng góp vào nguy cơ triền miên của chiến tranh nguyên tử. Trong thực tế, từ cuộc khủng hoảng tên lửa 1962 cho đến nay, không hề thiếu những nguy cơ nghiêm trọng.

Chẳng hạn, mười năm sau, trong cuộc chiến Do Thái-Á Rập năm 1973, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger đã kêu gọi một báo động nguyên tử cấp cao (DEFCON 3) để cảnh cáo người Nga không được can thiệp, trong khi chính ông ta đã bí mật cho phép Do Thái vi phạm lệnh ngưng bắn do Hoa Kỳ và Liên Xô áp đặt.

Khi Reagan lên làm tổng thống một vài năm sau đó, Hoa Kỳ đã phát động các cuộc hành quân thăm dò các biện pháp phòng vệ của Liên Xô và các cuộc diễn tập tấn công không và hải chiến, trong khi triển khai các hỏa tiển Pershing đến Đức Quốc, chỉ mất 5 phút để bay đến các mục tiêu ở Nga, cung cấp cái mà CIA gọi là một khả năng-tấn công-phủ đầu trước-cực đột nhiên — super-sudden first strike.

Lẽ dĩ nhiên, điều nầy đã gây báo động lớn ở Nga, một quốc gia, khác với Hoa Kỳ, đã nhiều lần bị xâm lăng và hầu như bị hủy diệt. Điều nầy đã gây hoang mang lo sợ  một cuộc chiến lớn trong năm 1983.

Ngoài ra còn có hàng trăm trường hợp khác, khi tiếp theo sau các báo động lầm của hệ thống báo nguy tự động,  sự can thiệp của con người đã kịp thời chận đứng các cuộc tấn-công-trước — first strike, một vài phút trước khi tên lửa tự động rời dàn phóng. Chúng ta không có đủ tài liệu về phía Nga Sô, nhưng các hệ thống tự động của họ có lẽ còn thường bị tai nạn lầm lỗi nhiều hơn.

Trong khi đó, Ấn Độ và Pakistan cũng đã một vài lần xuýt xẩy ra chiến tranh nguyên tử, và các nguồn xung đột vẫn còn nguyên vẹn. Cả hai đều đã từ chối ký vào Thỏa Ước Cấm Phổ Biến Nguyên Tử  — NPT, và cùng với Do Thái, đã được Hoa Kỳ hậu thuẩn trong quá trình triển khai các chương trình vũ khí nguyên tử — cho đến ngày nay trong trường hợp của Ấn Độ, nay là một đồng minh của Mỹ. Nguy cơ chiến tranh ở Trung Đông, có thể sớm trở thành sự thực, và một lần nữa đang làm tăng tốc các nguy cơ.

Năm 1962, nhân loại đã tránh được chiến tranh nguyên tử, nhờ ở sự kiện Khrushchev  đã sẵn sàng chấp nhận các đòi hỏi bá quyền của Kennedy. Tuy nhiên, chúng ta khộng thể trông cậy vào sự sáng suốt và bình tĩnh của giới lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới mãi mãi như thế.

Cho đến nay, gần như  một phép lạ:  nhân loại đã tránh được chiến tranh nguyên tử.

Tuy nhiên,  chúng ta cũng vẫn có nhiều lý do để lưu tâm đến lời cảnh cáo của Bertrand Russell và Albert Einstein cách đây 60 năm.

Chúng ta phải sớm đối diện với sự lựa chọn đáng sợ và không thể tránh: Nhân loại phải chịu diệt vong; hay loài người phải từ bỏ chiến tranh.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

16-3-2013

CHÚ THÍCH: Xin xem thêm bài Vài Sự Thật Trong Nửa Thế Kỷ Quan Hệ Cuba-Hoa Kỳ của cùng tác giả.


[1] Stern concludes: “Never before or since, has the survival of human civilization been at stake in a few short weeks of dangerous deliberations, culminating in the week the world stood still.”

[2] …a war that might “destroy the Northern Hemisphere.”

[3] …secret doomsday plan to ensure the survival of the government was put into effect in Washington….

[4] …Dino Brugioni, “a key member of the CIA team monitoring the Soviet missile buildup,” who saw no way out except  “war and complete destruction” as the clock moved to “one minute to midnight,” the title of his book.

[5] Arthur Schlesinger described the events as “the most dangerous moment in human history”.

[6] Defense Secretary Robert McNamara wondered aloud whether he “would live to see another Saturday night.”

[7] …NATO aircraft with Turkish pilots…[or others] … to take off, fly to Moscow, and drop a bomb,”

[8] …B-52s on airborne alert” with nuclear weapons “on board and ready to use.”

[9] …We were damned lucky we didn’t blow up the world — and no thanks to the political or military leadership of this country.

[10]…the official commanders “did not possess the capacity to prevent a rogue-crew or crew-member from arming and releasing their thermonuclear weapons,” or even from broacasting a mission that would have sent off “the entire Airborne Alert force without possibility of recall.”

[11]  He writes, once the crew was airborne carrying thermonuclear weapons, “it would have been possible to arm and drop them all with no further input from the ground. There was no inhibitor on any of the systems.”

[12] General Burchinal’s oral history is no less hair-raising, and reveals even greater contempt for the civilian command.

[13] …His “message seemed clear. The missiles would be removed if the U.S. promised not to invade Cuba.”

[14] Premier Khrushchev told President Kennedy in a message today he would withdraw offensive weapons from Cuba if the United States withdrew its rockets from Turkey.

[15] Kennedy said, “we’ve known this might be coming for a week.”

[16] …the current  threat to peace is not in Turkey, it is in Cuba.

[17] …one of the main functions of the international institutional order is precisely to legitimate the use of deadly military force by western powers — meaning the U.S. — so that it is “amazingly naive,” indeed quite “silly,” to suggest that it should obey international law or other conditions that we impose on the powerless.

[18] “Only once in these nearly thousand pages of documentation did a U.S. official raise something that resembled a faint moral objection to U.S.-government sponsored terrorism”: a menber of the National Security Council staff suggested that raids that are “haphazard and kill innocents…might mean a bad press in some friendly countries.”

[19] …a full-scale invasion of Cuba would “kill an awful lot of people, and we’re going to take an awful lot of heat on it.”

[20] …If it appeared that the United States was dismantling the missile bases unilaterally, under pressure from the Soviet  Union, the [NATO] alliance might crack.

[21] …we are human beings who matter, while they are merely “unpeople”…

[22] …When Cuba is no longer  an “armed camp”, then “we probably wouldn’t invade.”

[23] …”three basic forms of aggression.”

[24] overt armed attack from within the area of each of the sovereign states…

[25] …the primary danger we face in Castro is…in the impact the very existence of his regime has upon the leftist movement in many Latin American countries… The simple fact is that Castro represents a successful defiance of the US, a negation of our whole hemispheric policy of almost a century and a half …

[26] …benign intentions..

[27] …the world had come out “from under the most terrible threat of nuclear holocaust since World War II” with a “humiliating defeat for Soviet policy.”

[28] …the Russians tried to pretend that the outcome was “yet another triumph for Moscow’s peace-loving foreign policy over warmongering imperialists,” and that  the supremely wise, always reasonable Soviet leadership had saved the world from the threat of nuclear destruction.”

[29] The complacent, the self-indulgent, the soft societies are about to be swept away with the debris of history. Only the strong…can possibly survive.

[30] …JFK….asked his brother, Attorney General Robert Kennedy, to lead the top-level interagency group that oversaw Operation Mongoose, a program of paramilitary operations, economic warfare, and sabotage he launched in late 1961 to visit “the terrors of the earth”on Fidel Castro and more prosaically, to topple him.

[31] The “final definition” of the program recognized that “final success will require decisive U.S. military intervention ,” after terrorism and subversion had laid the basis.

[32]  …If I were in Cuba or Soviet shoes, I would have thought so, too.

[33] …the U.S. would have a larger nuclear delivery system left after a surprise attack than the nuclear force which the Soviet Union could employ in its first strike.

[34] ..when Khrushchev offered to sharply reduce offensive military capacity and proceeded to do so unilaterally.

[35] …in the United States, there was almost universal approbation for President Kennedy’s handling of the crisis.

[36] …The relentlessly upbeat tone was established by the court historian, Arthur M. Schlesinger, Jr.,who wrote that Kennedy had dazzled the world through a combination of toughness and restraint, of will, nerve and wisdom, so brilliantly controlled, so matchlessly calibrated.