HOA KỲ, BÀI HỌC IRAQ, VÀ KHỦNG HOẢNG IRAN

 

Sau mười năm nhìn lại, cuộc chiến Iraq cũng không mấy khác cuộc chiến Việt Nam cách đây gần 60 năm. Và chúng ta có thể  nói ngay: cả hai cuộc chiến đều vô luân, những tai họa và tội phạm đáng được chính thức lên án trong lịch sử Hoa Kỳ và thế giới.

Ở đây, chúng ta sẽ bắt đầu với sự kiện: cách đây trên mười năm, như Hiến Pháp đòi hỏi, Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua một văn kiện mờ ám “Cho Phép Sử Dụng Quân Lực”[1] trong những vùng Quốc Hội tuyên chiến.

Tiếp nối là chiến dịch “gây sốc và kinh hoàng.”[2] Một thành phố lịch sử lừng danh đã bị bỏ bom. Sau khi chống đối đồng loạt, thế giới đã phải chứng kiến trong sửng sờ và bất lực sự phô diễn một tội phạm với dự mưu sống sượng giữa thanh thiên bạch nhật.

Sau đó là những lừa dối mong manh để ngụy trang cuộc chiến trước Quốc Hội, trước nhân dân Hoa Kỳ, trước Liên Hiệp Quốc, và trước thế giới: những cáo buộc giả tạo chính quyền Iraq đang chấp hữu những vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Chúng ta cũng phải nói đến các cơ quan truyền thông dòng chính, chủ ý ngây ngô tội lỗi, đã hèn nhát hùa theo những cáo buộc ngụy tạo. Cuộc xâm lăng trên bộ cũng đã được các phóng viên báo chí hiếu chiến hý hững tường thuật và cổ vũ.

Rồi đến màn trình diễn các“chiến binh bất hợp pháp”[3] chung quanh nhà tù Abu Ghraib,  những đội sát nhân, tra tấn của “đồng minh Iraq,” — và nếu những tường thuật báo chí hiện nay là đúng, tất cả đều do Hoa Kỳ trực tiếp bảo trợ và cố vấn.

Kết cục,  những chuổi thất bại dài lâu và đáng ngạc nhiên khi lực lượng chiếm đóng đã không thể phục hồi ngay cả các dịch vụ căn bản, như điện, nước, và y tế…

Quan trọng hơn hết,  hàng trăm nghìn thường dân Iraq thương vong, chưa kể những thương vong trực tiếp và gián tiếp trong quá trình xâm lăng và chiếm đóng, và trên 4.400 binh sĩ Hoa Kỳ cũng đã thiệt mạng.

Mối lợi bù đắp duy nhất đối với chính quyền Mỹ là sự sụp đổ của nhà độc tài Saddam Hussein — một lợi nhuận khó lòng biện minh cho những đợt bùng nổ dồn dập, các màn xung đột  tàn bạo dã man giữa các giáo phái trong những năm chiếm đóng bởi người Mỹ và nay đã trở thành một tai họa cấp vùng.

Ngày nay, phái Shiite đa số đang ngồi một cách mong manh trên đỉnh với sự trợ lực của một guồng máy đàn áp; phái Sunni chống đối đã gây hàng tá thương vong hàng tuần với các cuộc tấn công bằng bom mìn; và người Kurds ngày một tách rời riêng rẽ ở phía Bắc, đe dọa chia cắt Iraq một cách hỗn độn và bạo động.

Người Mỹ cũng khó lòng  tìm được nhiều lợi lộc  trong tình trạng mô tả trên đây!  Có chăng cũng chỉ với những bài học rút tỉa từ tai họa đó, nhưng cũng còn phải đợi xem Hoa Kỳ có thể tự mình tránh được sự cám dỗ của các phiêu lưu tương tự trong tương lai…

Một bài học đã được chấp nhận là trong kỷ nguyên hậu thực dân: chiến tranh chống khủng bố — “counterinsurgency hay COIN” — nhưng cũng chỉ là một trò chơi điên rồ.

Một bài học thứ hai là Hoa Kỳ hay bất cứ một xứ nào khác đều không thể “xây dựng quốc gia” hay “nation building” cho các dân tộc bên ngoài — những công trình phải do chính người dân bản xứ, không thể để xuất khẩu hay nhập khẩu.

Những bài học nầy cũng chắng có gì mới mẻ và cũng đã  phải trả với một giá quá đắt từ cuộc chiến Việt Nam cách đây hơn nửa thế kỷ. Nhưng rồi người Mỹ cũng đã quên bẵng ngay từ những ngày chuẩn bị các cuộc chiến thay đổi chế độ ở Afghanistan và Iraq.

Trong bối cảnh đó, câu hỏi hiện nay phải là: T T Obama hiện đang toan tính những gì khi thường xuyên đe dọa tấn công một quốc gia Trung Đông khác, Iran?

Để hiểu điều nầy, chúng ta cần đọc lại lịch sử và rút tỉa một bài học khác từ cuộc chiến “chống dấy loạn hay khủng bố” ở Iraq — một lần nữa hợp thời hơn tuy đã bị che đậy nhiều hơn.

Can thiệp vào Iraq đã được thể hiện, và viễn ảnh can thiệp vào Iran đang được đề xướng, dưới danh nghĩa một mục tiêu chung: chận đứng phổ biến các vũ khí tiêu diệt hàng loạt, đặc biệt là vũ khí hạt nhân. Nhưng cả hai hình thức can thiệp đều là  biểu hiện của cùng một chiến lược sai lầm nghiêm trọng: chính sách tìm cách chận đứng phổ biến vũ khí hạt nhân và các vũ khí tiêu diệt hàng loạt, WMD, bằng vũ lực.

Chúng ta có thể tự hỏi trong chừng mức nào chính quyền Bush đã tin ở guồng máy tuyên truyền của chính mình về đe dọa của Iraq? Trong mọi trường hợp, bằng chứng lịch sử cho thấy lối biện minh nầy đã được sử dụng để thuyết phục Quốc Hội và nhân dân Hoa Kỳ, và chứng tỏ đã thuyết phục được nhiều người Mỹ, kể cả đa số trong Quốc Hội.

Ý tưởng gỡ bỏ gánh nặng các quốc gia khỏi các cơ sở hạt nhân bằng hành động quân sự — “chống phổ biến” hay “counterproliferation,” theo ngôn từ chiến lược, trong thực tế, đã có từ trước cuộc xâm lăng Iraq.

Bằng chứng lịch sử đầu tiên là cuộc tấn công bằng không lực của Do Thái năm 1981 vào lò phản ứng hạt nhân của Iraq ở Osirak. Kế đến, năm 1993, trong một cuộc khủng hoảng đã bị quên lãng, chính quyền Clinton đã soạn thảo kế hoạch (mang tên the “Osirak option” theo tiền lệ Do Thái) tấn công các cơ sở hạt nhân và có lẽ cả các lực lượng quân sự quy ước của Bắc hàn. Cuộc khủng hoảng đã chấm dứt mà chưa phải sử dụng vũ lực, khi nguyên tổng thống Jimmy Carter đã can thiệp môi giới thành công một thỏa ước.

Đã hẳn, Do Thái đã không ngẫu nhiên phát động hay hậu thuẩn bốn cuộc tấn công chặn trước các cơ sở hạt nhân hay nghi ngờ là hạt nhân: tấn công lò phản ứng Osirak; Hoa Kỳ xâm lăng Iraq; cuộc tấn công lò phản ứng Syria tháng 9-2007; và hiện nay, có thể tấn công chương trình hạt nhân của Iran.

Thực vậy, Do Thái đã và đang theo đuổi một chính sách chưa bao giờ được chấp nhận bởi bất cứ một cường quốc hạt nhân nào khác: duy trì, bằng các phương tiện quân sự, địa vị quốc gia duy nhất chấp hữu vũ khí hạt nhân trong vùng.

Chính sách nầy không được chính thức biểu hiện, và đã được Do Thái canh tân một cách đặc thù: tuyệt đối giữ im lặng về mọi khía cạnh của kho vũ khí hạt nhân lớn lao của mình.  Khác với Trung Đông, các vùng khác trên thế giới đều có nhiều quốc gia hạt nhân cạnh tranh cùng tìm cách duy trì một hình thức cân bằng nào đó trong khu vực.

Thực ra,  ý tưởng duy trì độc quyền hạt nhân qua việc tấn công ngăn ngừa trước đã được Hoa Kỳ chủ xướng trong một giai đoạn ngắn với độc quyền hạt nhân của chính mình, từ 1945 đến 1949 (thời điểm LiênBang Xô Viết thử nghiệm bom nguyên tử). Tuy nhiên,  độc quyền đó luôn bị bác bỏ. Nói một cách công bằng, T T Truman chưa bao giờ nghiêm chỉnh chủ trương độc quyền nguyên tử.

Khi Trung Quốc triển khai chương trình vũ khí hạt nhân, Hoa Kỳ và Liên Bang Nga đã thăm dò, vừa riêng biệt vừa tay đôi, ý tưởng tấn công ngăn chặn các cơ sở hạt nhân của TQ. Tuy nhiên, ý tưởng đó luôn bị bác bỏ, và một lần nữa, đã không được xem xét một cách nghiêm chỉnh.

Các cường quốc hạt nhân khác vào thời đó, Pháp và Anh, cũng chưa bao giờ xem xét một chính sách như thế.

Và chúng ta cũng đã được biết: hai cường quốc hạt nhân còn lại của thế giới, Ấn Độ và Pakistan, chưa bao giờ xem xét khả năng hành động quân sự để giải trừ vũ khí hạt nhân của xứ kia, dù trước hay sau ngày cả hai xứ trở thành cường quốc nguyên tử.

Phải đợi đến sự kiện 11/9, Do Thái mới thấy ở Hoa Kỳ một quốc gia bắt chước “chính sách hạt nhân tấn công trước để chặn đầu” của chính mình. Trong một cử chỉ đảo ngược chiến lược cấm phổ biến thầm lặng, một chiến lược trước đó đã được xây dựng qua đường lối ngoại giao và thỏa ước (bao gồm trên hết Thỏa Ước Cấm Phổ Biến Nguyên Tử trên toàn cầu), T T George W. Bush đã chấp nhận một chính sách cấm phổ biến hạt nhân cưởng bách, hay chiến tranh tài giảm quân bị (disarmament war), và thiết kế như cốt lõi một cuộc cách mạng trong chính sách đối ngoại Bush đã đề nghị lúc đó.

Đã hẳn, bối cảnh là cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Chính quyền Bush đã giải thích:  hai cuộc chiến, chống khủng bố và chống phổ biến nguyên tử, đã giao thoa tại ngã tư đường “cực đoan và kỹ thuật,” hay “quan hệ khủng bố và vũ khí tiêu diệt hàng loạt” (theo ngôn từ của tài liệu chiến lược năm 2002 — Chiến Lược An Ninh Quốc Gia của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ), một địa điểm chiếm cứ bởi nhân vật đáng sợ nhất trong hàng ngũ khủng bố — tay khủng bố với bom hạt nhân. (Nhân vật đáng ghét nầy cũng giữ vai trò trung tâm trong các luận cứ cơ sở cho chiến thuật tra tấn).

Và toàn bộ các kết luận sẽ tiếp nối một cách duy lý: nếu có nhu cầu cần tấn công ngăn chặn trước, lúc đó rõ ràng không phải đợi đến lúc sự đe dọa đã biểu lộ dưới  hình thức một vũ khí tiêu diệt hàng loạt — và tấn công vào các cơ sở tiền phương là cần thiết. Và nếu chỉ các dấu hiệu chuẩn bị WMD đã là cơ hội để phát động chiến tranh, lúc đó chiến tranh có thể được phát động trên căn bản không phải vì bất cứ các hành động gây hấn nào, mà chỉ trên căn bản các đánh giá tình báo về các hành động chuẩn bị. Hơn nữa, nếu giải pháp cần phải hoàn hảo, tiêu diệt bằng không lực sẽ không đủ. Xâm lăng và chiếm đóng  – thay đổi chế độ — là điều cần thiết. Tất cả những điều đó đều được chính quyền Bush lựa chọn và công luận dòng chính chấp nhận.

Sự trộn lẫn hai động cơ “cấm phổ biến hạt nhân”“chiến tranh chống khủng bố” đã đưa đến hậu quả quân sự hóa mục tiêu cấm phổ biến hạt nhân trong khi đã đem lại cho cuộc chiến chống khủng bố một căn bản cực đoan trong muc tiêu phát huy bá quyền toàn cầu của Hoa Kỳ trước đó còn thiếu vắng. Chống phổ biến hạt nhân đối với cuộc chiến chống khủng bố cũng tương tự với “lý thuyết domino” trước đây đối với cuộc chiến Việt Nam trong thời Chiến Tranh Lạnh — một chuổi các thất bại tưởng tượng đã dẫn đến tai họa thất bại. Tất cả các cấp bách của nguy cơ nguyên tử đã chồng chất lên cuộc tấn công 11/9, anthrax, cuộc chiến Afghanistan…

Kết quả của các nối kết đó là cuộc chiến Iraq. Đây vừa là một hành động vừa là một cảnh cáo — cả hai nhằm giải quyết một nguy cơ cụ thể và chứng minh cho thế giới thấy những gì các chính quyền tìm kiếm WMD phải chờ đợi khi coi thường ý muốn của Hoa Kỳ hay làm phật lòng nước Mỹ.

Những gì đã xẩy ra sau đó có lẽ là một chương đặc biệt nhất của câu chuyện. Khi những cáo buộc WMD không tìm thấy ở Iraq, cuộc chiến đã mất căn bản. Nhưng  thay đổi xung lượng trong chính sách đã đưa đến chiến tranh — thay đổi từ ngoại giao và thỏa ước qua bạo lực như phương tiện thành đạt cấm phổ biến hạt nhân — đã không còn bị thử thách, ngay cả không còn được lưu tâm. Một cách bất ngờ, lỗi lầm thực tế về các mục tiêu của cuộc chiến đã khiến không ai còn quan tâm đến xung lượng dịch chuyển trong chính sách.

Có lẽ đây là một lý do Barack Obama đã có thể chấp nhận chính sách “cấm phổ biến”  không cần đến bất cứ một tái thẩm định nào và áp dụng nguyên vẹn chính sách vào trường hợp Iran. Obama đã loại bỏ khá nhiều những gì người tiền nhiệm đã ôm ấp. Obama đã chấm dứt vai trò chiến đấu của Hoa Kỳ ở Iraq và đang trong quá trình thu dọn cuộc chiến Afghanistan. Tổng thống cũng đã gạt bỏ cụm từ “cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu” và nhiều mỹ từ vĩ đại liên hệ. Tuy vậy, Obama cũng đã lặng lẽ giữ lại không chút nghi ngờ toàn bộ khuôn khổ cứng rắn của chính sách cấm phổ biến cốt lõi cũa người tiền nhiệm trong cuộc chiến chống khủng bố. Có lẽ không một địa hạt nào khác có thể cho chúng ta thấy một sự liên tục trong chính sách với người tiền nhiệm lớn lao hơn ở đây.

Với Iran, điều nầy đã đặt Obama ở một nấc thang cao trong tăng tốc cưởng chế và bạo lực dẫn dắt đến chiến tranh khi cần. Obama có thể giảm thiểu  hay có thể gia tăng nổi đau gây cho Iran, nhưng không thể rời bỏ các bậc thang một cách dễ dàng.

Không một chút đáng ngạc nhiên, Do Thái, quốc gia tiên phong trong việc sử dụng bạo lực để đẩy lùi WMD, đã thúc đẩy Obama trong suốt quá trình vận động tuyển cử  và tái cử, với những hậu thuẩn chính trị hùng mạnh của mình ở Hoa Kỳ, vào con đường chấp nhận phải hành động quân sự. Và Obama đã bị thuyết phục.

Trước hết, Obama đã cương quyết loại bỏ giải pháp Chiến Tranh Lạnh (làm nản lòng  và chế ngự) đối với một Iran với vũ khí hạt nhân: “Chính sách của tôi không phải ngăn chặn; chính sách của tôi là ngăn ngừa họ thủ đắc vũ khí hạt nhân.”[4] Lý do của Obama: động cơ cấm phổ biến [hạt nhân] đã quá quan trọng để có thế làm khác. Obama e ngại Iran đã khai triển một vũ khí hạt nhân”có thể khởi động môt cuộc chạy đua võ trang trong vùng, có thể phương hại đến các mục đích cấm phổ biến, có thể rơi vào tay các thành phần khủng bố.”[5]

Thứ đến, Obama sẵn sàng sử dụng bạo lực, thay vì cho phép Iran trở thành một cường quốc hạt nhân: “Tôi đã nói khi cần ngăn ngừa Iran thủ đắc một vũ khí hạt nhân, tôi sẽ không loại bất cứ sự lựa chọn nào, và tôi muốn nói và muốn được hiểu những gì tôi nói. Điều nầy bao gồm mọi yếu tố trong quyền lực Hoa Kỳ..và, vâng, một nổ lực quân sự được chuẩn bị cho mọi tình huống.” Và để rõ ràng hơn, Obama đã nói thêm, “Tôi không tháu cáy.”[6]

Đây là những cam kết nghiêm chỉnh với uy tín của tổng thống và của Hoa Kỳ. Cũng như tất cả các tối hậu thư công khai, những cam kết trên đây sẽ khó lòng tháo gỡ  hay tránh né, nếu các tình huống tiên liệu xẩy ra.

Thực vậy, những cam kết trên khá tương tự một vấn đề hắc búa của Hoa Thịnh Đốn: cắt xén ngân sách liên bang tự động (the budget sequester). Cũng tương tự như phần ngân sách “sequester”, lời cam kết chiến tranh đối với Iran giống như bẩy sập tự tạo nguy hiểm, một tai họa đối với chính mình và cho kẻ khác, đã được cài đặt trên lối đi, nhằm tự thúc đẩy phải làm một điều gì đứng đắn —  một điều, khi  không thể thành đạt, sẽ xô đẩy bạn xuống vực thẳm.

Tuy vậy, cùng lúc với lời cam kết chiến tranh, Obama đã gửi đi nhiều tín hiệu, với nhiều lý do, muốn bước lùi, để tạo thêm khoảng cách với vực thẳm, để thóat khỏi bẩy sập chiến tranh do mình tự tạo. Obama hình như đang vùng vẫy để thoát khỏi bẩy sập, khi dưới áp lực chính trị, ông đã tự cài đặt. Trong mọi tình huống, Obama hiểu rõ những lý do đã chận đứng các tổng thống tiền nhiệm cũng như các lãnh đạo các cường quốc nguyên tử khác không lao vào các cuộc chiến để chận đứng các chương trình hạt nhân không muốn thấy trong các quốc gia khác.

Trước hết, đã hẳn, Obama, người đã hãnh diện đã thu dọn hai cuộc chiến, hiểu rõ cái giá thương vong lớn lao của một cuộc chiến với Iran, một xung đột có lẽ còn đẫm máu hơn cả hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan gộp lại, lôi kéo theo nhiều cường quốc khác,  kể cả các đại cường vào cuộc, xô đẩy kinh tế thế giới vào một suy thoái mới hay một đại khủng hoảng.

Thứ đến, Obama cũng hiểu trong khi một cuộc tấn công bằng không lực có thể đẩy lùi chương trình hạt nhân của Iran, nhưng không có lý do để nghĩ có thể chận đứng chương trình nguyên tử. Và chắc hẳn Obama cũng hiểu bước quân sự duy nhất bảo đảm một giải trừ hạt nhân lâu dài, nói rõ ra, một cuộc xâm lăng được nối tiếp bởi một thay đổi chế độ và chiếm đóng lâu dài, sẽ là điều không thể thực hiện cũng như không thể tha thứ đối với công luận Mỹ và thế giới, tóm lại, một điều điên rồ. Dù cho Obama phạm lầm lỗi gì đi nữa, khuynh hướng điên rồ cũng không thể là một trong những gì có thể xẩy ra cho một người luôn bình tỉnh và tự chế như ông.

Thực vậy, trong một cuộc phỏng vấn trong năm rồi với Jeffrey Goldberg thuộc tạp chí The Atlantic, Obama đã cho thấy một ý thức không thể lầm lẫn, nếu không thành lời, về tính ngông cuồng của hành động quân sự. Obama đã lặp lại giải pháp bạo lực vẫn là một lựa chọn. Nhưng hình như ông đã lập luận chống lại giải pháp  nầy. Obama đã nói: “Luận cứ của chúng tôi sẽ là, điều quan trọng đối với chúng tôi là tìm xem liệu chúng tôi có thể giải quyết vấn đề nầy một cách dứt khoát, thay vì tạm thời. Và trong lịch sử, phương cách duy nhất một xứ cuối cùng đã quyết định không tìm cách thủ đắc vũ khí hạt nhân mà không có sự can thiệp quân sự bất tận là khi chính họ loại bỏ [vũ khí hạt nhân] khỏi danh sách các lựa chọn. Đó là điều đã xẩy ra ở Libya, đó cũng là điều đã xẩy ra ở Nam Phi.”[7]

Các xứ đó, đã hẳn, đã từ bỏ các chương trình hạt nhân của họ qua các quyết định  tự nguyện của toàn dân, không vì bạo lực đã được sử dụng chống lại họ. Ấn tượng rõ ràng tổng thống đã để lại là ấn tượng của một người đang bị kẹt trong thang máy đang rơi tự do một cách tai họa, ông ta không muốn xẩy ra, nhưng lại không biết cách nào để tránh. Khuôn khổ chính sách của ông đã chuẩn bị sẵn sàng hướng tới chiến tranh, nhưng bản năng của ông hình như đang lôi kéo ông theo chiều hướng trái ngược.

Hình như vẫn còn cơ may Iran và Hoa Kỳ có thể sẽ với tới một tương nhượng cho phép một chương trình làm giàu uranium hạn chế. Các thương thảo hiện đang tiếp diễn để thăm dò khả năng nầy.

Nhưng cũng rất có thể Iran sẽ lật tẩy của tổng thống, người đã nói rõ ông ta không tháu cáy.

Chính lúc đó, các bài học của trò chơi tàn nhẫn vô bổ — cuộc chiến Iraq — cần được lưu tâm để bảo vệ Hoa Kỳ, Iran, Trung Đông và thế giới trước tai họa thứ hai, lớn lao hơn, có thể tránh.

Cuộc chiến Iraq bắt đầu cách đây mười năm, cuối cùng vào lúc đó cũng rất  có thể phụng sự một mục tiêu tốt.

Bài học từ cuộc chiến Iraq có thể giúp chận đứng cuộc chiến sắp tới.

Mong lắm thay!

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

30-3-2013

 

 

 

 

 


[1] … “Authorization for Use of Military Force”

[2] …”shock and awe campaign”.

[3] … “illegal combattants”.

[4] My policy is not containment; my policy is to prevent them from getting a nuclear weapon.

[5] …if Iran developed a nuclear weapon ‘that could trigger an arms race in the region, it would undermine our nonproliferation goals, it could potentially fall into the hands of terrorists.”

[6] “I have said that when it comes to preventing Iran from obtaining a nuclear weapon, I will take no options off the table, and I mean what I say. That includes  all elements of American power …and, yes, a military effort to be prepared for any contingency.” And for good measure, he added, “I don’t bluff.”

[7] “Our argument, Obama said, is going to be that it is important for us to see if we can solve this thing permanently, as opposed to temporarily. And the only way historically that a country has ultimately decided not to get nuclear weapons without constant military intervention has been when they themselves take [nuclear weapons] off the table. That’s what happened in Libya, that’s what happened in South Africa.”

Advertisements