TIẾN TRÌNH HỒI PHỤC KINH TẾ TOÀN CẦU CÒN KÉO DÀI
(Bài đăng lại)

(Rút ngắn để đăng lên báo)

TS Nguyễn Trường
(LĐCT) – Với trên 40 năm kinh nghiệm giảng dạy bộ môn kinh tế, TS Nguyễn Trường từng là giám đốc các dự án nghiên cứu thuộc Viện RIHED và Giáo sư thỉnh giảng Đại học Nanyang (Singapore).
Sau năm 1975, ông là chuyên viên nghiên cứu ở Montreal (Canada) và chuyên viên kinh tế ở quận Cam, California (Mỹ). Ông đã xuất bản một số tác phẩm về các xí nghiệp quốc doanh và giáo dục đại học ở Đông Nam Á. Sau năm 2000, ông chuyển hướng nghiên cứu qua địa hạt địa chính trị và kinh tế thế giới. Hiện ông đang sống tại vùng Nam California.

Nhân chuyến về VN, ông đã có dịp trao đổi kinh nghiệm với trường Đại học quốc gia TPHCM. Giáo sư cũng đã có một số buổi nói chuyện với giới doanh nhân TP về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008.
Theo ông, nói một cách ngắn gọn, điều mà nước Mỹ cần phải làm ngay bây giờ là gì?

– Là phải đảo ngược các biện pháp giảm thuế cho người giàu trong hai năm 2001 và 2003 của Tổng thống Bush, khởi sự thanh toán hệ thống đế quốc với hơn 800 căn cứ quân sự trên toàn cầu, và cắt giảm khỏi ngân sách quốc phòng tất cả các dự án không liên quan gì đến an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, cũng như phải chấm dứt việc dùng ngân sách quốc phòng như một chương trình tạo việc làm theo kiểu Keynesianism.

Nếu làm được những điều đó, Hoa Kỳ sẽ có cơ may thoát nạn. Ngược lại, Hoa Kỳ có lẽ phải đối đầu với nguy cơ một cuộc khủng hoảng lâu dài.

Xin ông cho biết những điểm tương đồng và dị biệt giữa cuộc khủng hoảng 1997 ở Đông Nam Á và cuộc suy thoái 2008?

– Trong mỗi trường hợp, người ta nhận thấy một diễn tiến vòng tròn đáng ngại: Những vấn đề tài chính khó khăn của các công ty, ngân hàng và mọi gia đình đưa đến sự mất lòng tin lan rộng trong giới đầu tư, nhất là giới đầu tư nước ngoài, đến sự sụp đổ tiền tệ, lãi suất lên cao, kinh tế đình trệ, rồi những khó khăn tài chính của các công ty, ngân hàng cứ thế tiếp tục…

Thái Lan trong thập kỷ 1980, đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp, phần lớn do giới doanh thương Nhật đến xây dựng nhà máy. Dân quê đua nhau ra thành phố kiếm việc, giới ngân hàng và doanh thương bắt đầu đầu tư vào ngành xây dựng, và kinh tế Thái Lan bắt đầu tăng trưởng nhanh – 8%/năm. Ngân hàng Nhật có thể cho một công ty tài chánh Thái vay. Công ty Thái đổi đồng yen ra đồng baht và cho các các công ty bất động sản vay lại, để trả tiền mua vật liệu, trả lương nhân công bằng tiền Thái. Nhu cầu đồng baht gia tăng, và đồng baht cũng tăng giá trị – giả thiết tiền Thái được thả nổi.

Để thu hút đầu tư, Chính phủ Thái đã quyết định giữ hối suất giữa đồng baht và USD ổn định. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước Thái Lan phải gia tăng nguồn cung đồng baht hay khối tiền tệ lưu hành và đồng thời mua vào ngoại tệ để dự trữ. Hậu quả tất nhiên là lượng tín dụng quốc nội gia tăng vì các ngân hàng nhận được nhiều tiền ký thác phải tìm cách cho vay kiếm lợi nhuận.

Tất cả những điều đó có nghĩa là một nguồn tài trợ mới xuất hiện, thúc đẩy các dự án xây dựng, dẫn đến đến tình trạng vay mượn thêm từ nước ngoài và cứ thế tiếp tục.

Kết quả tất yếu chung cuộc là bong bóng bất động sản. Ngân hàng Nhà nước Thái Lan đã phải cố gắng làm nguội bớt nền kinh tế, bằng cách vay lại đồng baht từ các ngân hàng ngoại quốc. Nhưng biện pháp tạm bợ này chỉ làm tăng lãi suất quốc nội, khuyến khích vay mượn từ nước ngoài (có lợi vì lãi suất thấp) và đem về nhiều tiền yen hơn.

Ngân hàng trung ương rất có thể chỉ để giá trị đồng baht gia tăng, như nhiều kinh tế gia Mỹ hiện nay tìm cách thuyết phục Trung Quốc nâng giá đồng nhân dân tệ. Nhưng điều này chỉ có nghĩa hàng xuất khẩu của Thái (những thứ do các công ty Nhật sản xuất) đắt hơn trên các thị trường nước ngoài – do đó, vô hình trung giết chết con gà đẻ trứng vàng.

Giáo sư Nguyễn Trường nói chuyện với giới doanh nhân tại TPHCM
Số trứng vàng tích lũy nhiều cũng đem lại một thứ bi kịch khác. Đầu tư gia tăng (nhập trang thiết bị cho công nghệ xây dựng) và chi tiêu mang tính tiêu thụ (nhập TV, xe hơi cho giới nhà giàu Thái mới lên) làm chậm đà tăng trưởng xuất khẩu so với nhập khẩu. Do đó, cán cân nghiêng hẳn về nhập siêu. Người Thái bắt đầu phải dùng số ngoại tệ vay mượn để trang trải hàng nhập khẩu, trong khi ngân hàng trung ương phải dùng ngoại tệ dự trữ đang có để bảo vệ đồng baht.

Tháng 7.1997, sự tăng trưởng kinh tế Thái Lan đạt mức đỉnh điểm; nền kinh tế bắt đầu bùng nổ. Ngân hàng trung ương không còn đủ ngoại tệ dự trữ, nên không đủ sức bảo vệ đồng baht: Giá trị đồng baht tuột dốc khoảng 50% chỉ trong vòng vài tháng. Tai hoạ xảy đến, gây suy thoái không những cho Thái mà cả Hàn Quốc và Malaysia khi các nhà đầu tư ngoại quốc hoảng sợ hối hả tháo chạy. Vùng Đông AÁ bắt đầu trải nghiệm nỗi đau của Argentina và Do Thái trong thập kỷ 1980.

Giữa hai cuộc khủng hoảng, có thể nhận diện được những nguy cơ nào chung nhất theo ông?

– Người ta vẫn nhận diện được một sự đối xứng trong cách ứng xử của các tay chơi tài chính giữa hai phía. Cuộc khủng hoảng ở Thái Lan đã được nhen nhúm bởi các tay chơi trung gian có nhiều quyền lợi để rao giảng ảo tưởng là đầu tư vào ngành xây dựng và buôn bán bất động sản thì không thể thất bại. Đó là những người hưởng lợi từ các giao dịch chứ không phải từ tính lành mạnh của dự án.

Trở lại các công ty tài chính Thái đứng làm trung gian trong các khoản cho vay của các nhà đầu tư nước ngoài. Những người điều hành các công ty này phần lớn là thân nhân họ hàng của các vị bộ trưởng hoặc các viên chức cao cấp trong chính quyền. Họ không phải là những bộ óc tài chính xuất sắc, nhưng họ có lý do để tin chính quyền Thái sẵn sàng cứu trợ công ty họ khi lâm nguy. Đồng thời, những quan hệ chính trị của họ sẽ là lợi thế đối với các nhà đầu tư.

Nói chung, họ hưởng lợi khi thuận buồm xuôi gió, tiếp tục cho vay và được che chở khi gặp khó khăn bão tố – cho đến khi toàn bộ mạng lưới sụp đổ, lúc đó họ cũng đã kiếm được một tài sản kếch sù.

Trước cuộc khủng hoảng 2008, các ngân hàng thông thường quản lý khoảng 6.000 tỉ USD; các ngân hàng phi ngân hàng – hedge funds và ngân hàng đầu tư – khoảng 4.000 tỉ, 1.800 tỉ trong số này nằm trong tay các quỹ đầu cơ. Theo Krugman, sự sụp đổ của những định chế này có thể xô đẩy các nhóm đầu tư lớn, kể cả các quỹ hưu bổng, các quỹ endowments của các đại học, vào tai hoạ đầu cơ.

Tất cả các quản lý viên các quỹ vừa nói, các CEO, được thưởng khi đem lại lợi nhuận trên trung bình. Nhưng làm thế nào tất cả các lợi nhuận đều trên trung bình. Krugman đã đúng khi nhấn mạnh tài sản thực sự có thể bị tiêu tan vì sự sụp đổ không thể tránh của các quỹ đầu tư. Khi kinh tế đang trên đà tăng trưởng mạnh, các lỗ lã trên giấy tờ có thể lấy lại trong vài tuần lễ. Nhưng khi lỗ lã quá lớn, mọi người đều hoảng sợ, sản xuất tất sẽ suy sụp, thất nghiệp sẽ tràn lan, suy thoái thấy rõ, và có thể cả khủng hoảng và đại khủng hoảng rất dễ xảy ra cho toàn bộ quốc gia, thậm chí cả toàn cầu.

Xin ông phân tích những giải pháp mà Hội nghị thượng đỉnh G20 đã đưa ra.

– Trong nỗ lực vượt qua các dị biệt trong căn bản triết lý và chính sách tài chính, cấp lãnh đạo nhóm G20, ngày 3.4.09, đã chấp thuận một chương trình phục hồi kinh tế toàn cầu hiện đang bị tê liệt. Hội nghị đã cam kết một ngân khoản phụ trội 1.100 tỉ USD để tài trợ mậu dịch quốc tế và cứu trợ các quốc gia gặp khó khăn.

Tuy nhiên, ngân khoản cam kết 1.100 tỉ còn quá ít so với nhu cầu tiếp sức rất lớn của kinh tế thế giới đang thiếu máu trầm trọng, và sự thiếu vắng một cơ chế toàn cầu có đủ thẩm quyền để điều phối, giám sát, chế tài, tất cả các định chế tài chính toàn cầu, các quỹ đầu tư, các hedge funds xuyên quốc gia, cũng đủ phản ảnh những dị biệt sâu xa và dai dẳng giữa Châu Âu và phần lớn thế giới bên ngoài, cũng như giữa Hoa Kỳ và Châu Âu, về nhu cầu phải hành động cấp bách hay phải đợi xem hiệu quả của các chính sách chi tiêu kích cầu hiện hữu, về một cơ chế điều phối, giám sát siêu quốc gia hay bởi các quốc gia riêng rẽ. Giải pháp chóng vánh cho cuộc khủng hoảng ngày một sâu rộng, vì thế, rất khó đạt được hiệu quả mong muốn.

Ở đây, tưởng cũng nên nhắc lại lời cảnh báo của Paul Krugman. Theo Krugman, chính quyền đang đứng trước những lựa chọn nghịch lý. Trong cương vị tác nhân duy nhất điều hướng chi tiêu còn đứng vững, chính quyền trở thành nhà đầu tư tối thiết. Tiến trình hồi phục còn dài lâu. Krugman nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đầu tư vào hạ tầng cơ sở, bảo hiểm y tế, giáo dục, ngay cả sản xuất xe hơi… Mức độ đầu tư phải đủ lớn để đè bẹp khủng hoảng. Lỗi lầm tệ hại nhất là biện pháp nửa vời, chỉ muốn nhảy năm thước khi phải vượt qua một hố thẳm rộng bảy thước, vì e ngại hành động để cứu nguy hệ thống tài chính có thể bị xem như mang tính xã hội chủ nghĩa.

Ý nghĩa cuộc sống đối với ông là gì?

– Tôi đã qua tuổi bảy mươi. Tôi nghĩ, không ai biết được những năm tháng còn lại của đời mình. Nhưng bất cứ ai cũng có thể làm chủ được một điều: Đừng để chết khi còn sống; và ngày nào còn sống, phải ráng làm những việc hữu ích cho chính mình, cho gia đình, cho bạn bè, và cho xã hội. Theo tôi, đó là ý nghĩa của cuộc sống.

Xin cảm ơn giáo sư.
Nhật Lệ thực hiện ( Lao Động Cuối tuần số 15 Ngày 12/04/2009)

TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA BÁO LAO ĐỘNG
(Trước khi rút ngắn)

Hỏi:

Để mở đầu, xin giáo sư cho biết các nguyên nhân gần xa của cuộc khủng hoảng tài chánh hiện nay.

Trả lời:

Trước hết phải nói ngay cuộc khủng hoảng tài chánh 2008 không những mang tính thời vận mà cả tính cơ cấu.

Trong thực tế, sự gở bỏ giám sát tài chánh đã đem lại sinh động cho sinh hoạt kinh tế, khi thịnh vượng lúc thoái trào – gở bỏ rào cản đối với chuyển dịch tư bản, cho phép tự do giao dịch các sản phẩm tài chánh mờ ám, và thả lỏng các định chế tài chánh đưa tới tự do vay nợ ngày một nhiều hơn.

Tiền vay nhẹ lãi từ Trung Quốc và Cục Dự Trử Liên Bang đã thêm dầu vào lửa. Và các định chế tài chánh được buông lỏng tự do của Hoa Kỳ – các định chế trung gian môi giới, các qũy đầu cơ, và các ngân hàng phi- ngân- hàng (nonbank banks) – giữ một vai trò quan trọng trong những diễn biến đưa tới thảm họa, với bong bóng bất động sản tan vở, với nạn khan hiếm thanh khoản.

Bên cạnh tính thời vận vừa nói, khía cạnh cơ cấu của cuộc khủng hoảng còn quan trọng hơn.

Bước qua năm 2008 , Hoa kỳ chợt nhận ra mình đang lâm vào cảnh ngộ bất thường vì không đủ khả năng theo đuổi mức sinh hoạt quá tốn kém hay guồng máy quân sự quá lớn lao , phung phí . Chính quyền cũng không còn tìm cách tiết giảm các chi phí khổng lồ nhằm duy trì những đạo quân hiện hữu , thay thế số quân trang , quân dụng bị hủy hoại hoặc hư hao sau nhiều năm chinh chiến , hoặc chuẩn bị cho cuộc chiến thượng từng không gian chống lại những kẻ thù chưa xuất hiện . Thay vào đó , chính quyền Bush chuyển việc thanh toán những phí tổn nầy lại cho các thế hệ tương lai – hoặc tảng lờ phủ định . Thái độ vô trách nhiệm về thuế vụ đó đã được ngụy trang qua các thủ thuật tài chánh ( như buộc các xứ nghèo hơn cho Hoa Kỳ vay những khoản tiền lớn vô tiền khoáng hậu ) ; nhưng tình trạng nầy không thể tiếp diễn .

Cuộc khủng hoảng công trái phải được phân tích từ ba góc cạnh khác nhau :

(1) Trong nhiều năm qua , Hoa Kỳ đã dành cho các mục “quốc phòng” những ngân khoản điên rồ không dính dáng gì đến an ninh quốc gia Hoa kỳ . Đồng thời , gánh nặng thuế khóa dành cho những tầng lớp giàu có lại ở mức quá thấp .

(2) Hoa Kỳ vẫn luôn tin tưởng có thể bù đắp vào đà xói mòn ngày một tăng tốc trong cơ sở kỹ nghệ chế biến và số công ăn việc làm thất thoát ra các nước ngoài , bằng các chi phí quốc phòng khổng lồ — thường được gọi “chính sách Keynesianism về quân sự” (military Keynesianism) . Qua cụm từ military Keynesianism , chúng tôi muốn nói đến niềm tin sai lầm là những chính sách công –tập trung vào các cuộc chiến liên tục , vào những chi tiêu về vũ khí , quân trang , quân dụng , vào những đạo quân lớn lao — có thể giúp duy trì một nền kinh tế tư bản mãi mãi thịnh vượng . Thực tế luôn trái ngược .

(3) Khi dồn hết tài nguyên luôn mang tính hữu hạn vào các chính sách quân sự , Hoa Kỳ đã bỏ quên đầu tư vào hạ tầng cơ sở xã hội và các chi tiêu cần thiết cho sự lành mạnh của xứ sở . Đó chính là điều các kinh tế gia gọi là “phí tổn cơ hội” (opportunity costs) — hay những gì không làm được vì chúng ta đã dành tiền chi tiêu vào những thứ khác . Hệ thống giáo dục công lập đã xuống cấp một cách đáng lo ngại .Hoa Kỳ đã không cung cấp dịch vụ bảo hiểm y tế cho mọi công dân và đã lơ là trong trách nhiệm một nước gây ô nhiểm số một trên thế giới . Nhưng quan trọng hơn hết là Hoa Kỳ đã đánh mất khả năng cạnh tranh trong địa hạt sản xuất hàng tiêu dùng dân sự — một phương cách sử dụng tài nguyên khan hiếm vô cùng hữu hiệu so với sản xuất vũ khí.

Sự thoái hóa trong cơ sở hệ thống kỹ nghệ chứng tỏ hậu quả hao mòn, suy yếu của việc chuyển dịch tư bản và chất xám qua phục vụ khu vực quân sự của Hoa Kỳ” .

Từ năm 1968 cho đến nay , chúng ta chưa thấy một nổ lực nào nhằm đảo ngược xu hướng trên đây . Tình trạng nầy đã được phản ảnh trong việc nhập khẩu ồ ạt các sản phẩm trang bị , từ máy móc dùng trong y tế như máy tăng tốc proton (proton accelerators) dùng trong xạ trị (radiological therapy) –phần lớn từ Bỉ , Đức , và Nhật –, cho đến xe du lịch , xe vận tải .

Kỷ nguyên siêu cường duy nhất quá ngắn ngủi đã đến hồi kết thúc . Như giáo sư Benjamin Friedman đã viết :

“Đã nhiều lần , Hoa Kỳ luôn là quốc gia lãnh đạo và trái chủ , một quốc gia hàng đầu về ảnh hưởng chính trị , ngoại giao , và văn hóa . Đó là điều đương nhiên khi chúng ta thay thế vai trò Anh quốc , đồng thời …vai trò một quốc gia lãnh đạo trái chủ của toàn thế giới . Ngày nay , chúng ta không còn là quốc gia lãnh đạo và trái chủ của thế giới .Trong thực tế , chúng ta đang là quốc gia con nợ lớn nhất thế giới , và chúng ta đang tiếp tục nắm giữ ảnh hưởng chỉ dựa trên căn bản sức mạnh quân sự “.

Vài tổn hại đã gánh chịu có thể không bao giờ cứu chữa được . Tuy nhiên , vẫn còn vài việc nước Mỹ cần phải cấp tốc thực hiện: phải đảo ngược các biện pháp giảm thuế cho người giàu trong hai năm 2001 và 2003 của Bush , phải khởi sự thanh toán hệ thống đế quốc với hơn 800 căn cứ quân sự trên toàn cầu , phải cắt giảm khỏi ngân sách quốc phòng tất cả các dự án không liên quan gì đến an ninh quốc gia của Hoa Kỳ , và phải chấm dứt việc dùng ngân sách quốc phòng như một chương trình tạo việc làm theo kiểu Keynesianism . Nếu làm được những điều đó, Hoa Kỳ sẽ có cơ may thoát nạn . Ngược lại , Hoa Kỳ có lẽ phải đối đầu với nguy cơ một cuộc khủng hoảng dài lâu .

Hỏi:

Xin ông cho biết những điểm dị đồng giữa cuộc khủng hoảng 1997 ở Đông Nam Á và cuộc suy thoái 2008.

Đáp:

Trong mỗi trường hợp, người ta nhận thấy một diễn tiến vòng tròn đáng ngại – các vấn đề tài chánh khó khăn của các công ty, ngân hàng và mọi gia đình; đưa đến một sự mất lòng tin rộng khắp trong giới đầu tư, thường là giới đầu tư ngoại quốc; đến sự sụp đổ tiền tệ, lãi suất lên cao, kinh tế đình trệ, những khó khăn tài chính của các công ty, các ngân hàng và cứ thế tiếp tục.

Thái Lan, một xứ đến trể trong phép lạ Á châu (Asian miracle), trong thập kỷ 1980s, đã thay đổi từ một nền kinh tế nông nghiệp phần lớn do giới doanh thương Nhật đến xây dựng các xưởng máy. Dân quê đua nhau ra thành phố kiếm việc, giới ngân hàng và doanh thương bắt đầu đầu tư vào ngành xây cất, và kinh tế Thái Lan khởi sự tăng trưởng nhanh – 8%/năm. Thị trường tư bản toàn cầu đáp ứng: xét cho cùng, chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại, lãi suất ở Nhật và Âu châu quá thấp. Tính đến năm 1997, khoảng 256 tỉ mỹ kim đã được rót vào các thị trường đang lên, đặc biệt là Đông Nam Á.

Vậy bằng cách nào tiền đã được rót từ Tokyo vào Bangkok? Đây chính là yếu tố then chốt của nội vụ. Ngân hàng Nhật có thể cho một công ty tài chánh Thái vay. Công ty Thái cải hoán đồng yen ra đồng baht và cho các các công ty xây cất bất động sản vay lại, để trả tiền mua vật liệu, lương nhân công bằng tiền Thái. Số cầu đồng baht, do đó, gia tăng, và đồng baht cũng tăng giá trị – giả thiết tiền Thái được thả nổi.

Để thu hút đầu tư vào Thái , một xứ từ lâu bị thế giới bỏ quên, chính phủ Thái đã quyết định giữ hối suất giữa đồng baht và đồng mỹ kim ổn định. Vì vậy, Ngân Hàng Nhà Nước Thái Lan đã phải gia tăng số cung đồng baht hay khối tiền tệ lưu hành và đồng thời mua vào ngoại tệ để tăng cường số dự trử. Hậu quả tất nhiên là lượng tín dụng quốc nội gia tăng vì các ngân hàng nhận được nhiều tiền ký thác phải tìm cơ hội cho vay kiếm lợi nhuận. Tất cả những điều đó có nghĩa là một nguồn tài trợ mới xuất hiện, thúc đẩy các dự án xây cất, đưa đến vay mượn thêm từ nước ngoài và cứ thế tiếp tục.

Kết quả tất yếu chung cuộc là bong bóng bất động sản. Ngân Hàng Nhà Nước Thái Lan đã phải cố gắng làm nguội bớt nền kinh tế, bằng cách vay lại đồng baht từ các ngân hàng ngoại quốc. Nhưng biện pháp tạm bợ nầy chỉ làm tăng lãi suất quốc nội, khuyến khích vay mượn từ nước ngoài (có lợi vì lãi suất thấp) và đem về nhiều tiền yen hơn. Ngân hàng trung ương rất có thể chỉ để giá trị đồng baht gia tăng, như nhiều kinh tế gia Mỹ hiện nay tìm cách thuyết phục TQ nâng giá đồng nhân dân tệ. Nhưng điều nầy chỉ có nghĩa hàng xuất khẩu của Thái (những thứ do các công ty Nhật sản xuất) đắt hơn trên các thị trường nước ngoài – do đó, vô hình chung giết chết con gà đẻ trứng vàng.

Số trứng vàng tích lũy nhiều cũng đem lại một thứ bi kịch khác. Đầu tư gia tăng (nhập cảng trang thiết bị cho kỹ nghệ xây cất) và chi tiêu mang tính tiêu thụ (nhập cảng TV, xe hơi cho giới nhà giàu Thái mới lên) làm chậm đà tăng trưởng xuất khẩu tương đối với nhập khẩu. Do đó, cân chi phó khuy khiếm trầm trọng. Người Thái bắt đầu phải dùng số ngoại tệ vay mượn để trang trải tiêu thụ phẩm nhập khẩu trong khi ngân hàng trung ương phải dùng ngoại tệ dự trử sở hữu để bảo vệ đồng baht. Tháng 7 năm 1997, sự tăng trưởng kinh tế Thái Lan đạt mức đỉnh điểm; nền kinh tế bắt đầu bùng nổ. Ngân hàng trung ương với số ngoại tệ dự trử tan biến, không đủ sức bảo vệ đồng baht: giá trị đồng baht tuột dốc khoảng 50% chỉ trong vòng vài tháng. Tai họa xẩy đến, gây suy thoái không những cho Thái mà cả Nam Hàn và Mã Lai Á khi các nhà đầu tư ngoại quốc hoảng sợ hối hả tháo chạy. Vùng Đông Á bắt đầu trải nghiệm nổi đau của Argentina và Do Thái trong thập kỷ 1980s.

Câu hỏi được đặt ra là câu chuyện của Thái Lan ăn nhằm gì đến khủng hoảng 2008? Có, và có khá nhiều.

Đã hẳn kinh tế Thái Lan khác xa kinh tế Mỹ: nếu người Mỹ , giống như giới trung lưu mới lên của Thái, chi tiêu phung phí trên khả năng của chính mình (và bù vào số khuy khiếm bằng những món nợ gia tăng từ thế giới bên ngoài), họ đã không nhập khẩu những thứ hàng giống như người Thái. Chẳng hạn, phần lớn giao thương của Mỹ với Trung Quốc chỉ là những giao dịch nội bộ của các đại công ty đa quốc gia Hoa Kỳ làm ăn trên khắp thế giới. Các công ty nầy nắm trong tay giá trị thiết kế và mãi dịch sản phẩm, và chỉ đến TQ mua các vật liệu thông thường và lắp ráp.

Ngoài ra, kinh tế Hoa Kỳ có sức chịu đựng dẽo dai hơn hẵn kinh tế Thái, với đặc tính chuyễn dịch của yếu tố lao động theo chiều ngang cũng như chiều dọc khó có nước nào có thể sánh kịp. Và chính quyền Mỹ cũng chẳng phải bảo vệ đơn vị tiền tệ của mình như Thái Lan. Đồng mỹ kim đã là tiền dự trử của thế giới kể từ sau đệ nhị thế chiến. Sự mất giá của đồng mỹ kim có nghĩa khuynh hướng tiêu xài hoang phí của người Mỹ đã làm giảm thiểu tài sản của giới trung lưu toàn cầu một cách thầm lặng, tương tự số lượng carbon các xe SUVs ở Mỹ đã thải ra âm thầm làm ô nhiểm không khí khắp hành tinh. Người Mỹ cũng còn có thể trông cậy ở giới trung lưu TQ đầu tư trở lại trong các thị trường tài chánh Mỹ phần lớn trong số 2.000 tỉ mỹ kim tích lũy từ xuất khẩu hàng hóa qua Hoa Kỳ. Trong mọi trường hợp, điều may mắn của Hoa Kỳ là toàn bộ số nợ nước ngoài đều được tính theo đồng mỹ kim.

Tuy nhiên, giữa hai cuộc khủng hoảng người ta vẫn nhận diện được một sự đối xứng trong cách ứng xử của các tay chơi tài chánh giữa hai phía. Cuộc khủng hoảng ở Thái Lan đã được nhen nhúm bởi các tay chơi trung gian có nhiều quyền lợi để rao giảng ảo tưởng là đầu tư vào ngành xây dựng và buôn đi bán lại không thể thất bại. Đó là những người hưởng lợi từ các giao dịch nhưng không nhất thiết từ tính lành mạnh của dự án.Trở lại các công ty tài chánh Thái đứng làm trung gian trong các khoản cho vay của các nhà đầu tư nước ngoài. Các người điều hành các công ty nầy phần lớn là thân nhân họ hàng của các vị bộ trưởng hoặc các viên chức cao cấp trong chính quyền. Họ không phải là những bộ óc tài chánh xuất sắc, nhưng họ có lý do để tin chính quyền Thái sẵn sàng buộc người chịu thuế phải cứu trợ công ty họ khi lâm nguy. Đồng thời, những quan hệ chính trị của họ sẽ là lợi thế đối với các nhà đầu tư. Nói chung, họ hưởng lợi khi thuận buồm xuôi gió, làm giàu là động lực thúc đẩy họ tiếp tục cho vay trong khi được che chở khi gặp khó khăn bảo tố – cho đến khi toàn bộ mạng lưới sụp đổ, lúc đó họ cũng đã kiếm được một tài sản kếch sù. Họ cũng không chịu tai tiếng (moral hazard). Họ lấy tiền của người khác nhưng chẳng chịu rủi ro bất trắc nếu quyết định của họ sai lầm, thiếu cẩn trọng hay khờ dại.

Sự nhẹ dạ của giới đầu tư qua các móc nối với các yếu nhân Thái có thể không mấy giống sự nhẹ dạ của họ do sự đánh giá AAA của Moody đối với các khách hàng được nuông chiều. Nhưng nếu những lợi nhuận của các công ty tài chánh nhắc nhở chúng ta về sự thủ lợi của các công ty cho vay đầu cơ bất động sản mà chẳng điều tra nghiêm túc các đơn vay nợ, hay các ngân hàng đầu tư bán các trái phiếu hay chứng khoán với thế chấp bất khả tín, chúng ta có thể được tha thứ. Theo Paul Krugman, người được giải Nobel về kinh tế năm 2008, Wall Street đã trở nên quá hồ hởi đầu tư vào Ponzi pyramid không chút âu lo miệng tiếng hay moral hazard.

Điều đó đưa chúng ta tới một tay chơi bá đạo khác – một tay chơi luôn sẵn sàng tấn công các nền kinh tế Tây phương cũng như những nền kinh tế đang lên – có thể làm cho cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn nhiều. Chúng tôi muốn nói đến các hedge funds, các quỹ đầu cơ. Các quỹ nầy đã lớn mạnh và trở thành một bộ phận lớn, vô cùng nguy hiểm, của hệ thống ngân-hàng-không-phải-ngân-hàng, hầu như không tuân theo một quy luật và cũng chẳng chịu một sự giám sát nào: những định chế nhận tiền của bất cứ ai với lời hứa sẽ trả lợi nhuận kếch sù nhưng chẳng tuân theo một điều lệ quy luật nào. Paul Krugman đã nhắc nhở chúng ta sự lớn mạnh đáng ngạc nhiên của các hedge funds nầy, bắt đầu với cuộc tấn công thần kỳ (legendary) Bộ Ngân Khố Anh (British Exchequer) bởi Quantum Fund – Quỹ Lượng Tử – của George Soros trong năm 1992; vụ đầu cơ nầy đã làm đồng bảng (pound) suy yếu đến mức khiến Thủ Tướng John Major cuối cùng đã phải rút khỏi cuộc thương nghị gia nhập khu vực đồng Euro, và chính phủ ông phải sụp đổ.

Trước cuộc khủng hoảng 2008, các ngân hàng thông thường quản lý khoảng 6.000 tỉ mỹ kim; các ngân hàng phi ngân hàng – hedge funds và ngân hàng đầu tư – khoảng 4.000 tỉ, 1.800 tỉ trong số nầy nằm trong tay các quỹ đầu cơ. Theo Krugman, sự sụp đổ của những định chế nầy có thể xô đẩy các nhóm đầu tư lớn, kể cả các quỹ hưu bổng, các quỹ endowments của các đại học, vào tai họa đầu cơ. Tất cả các quản lý viên các quỹ vừa nói , các CEO, được tưởng thưởng khi đem lại lợi nhuận trên trung bình. Nhưng làm thế nào tất cả các lợi nhuận đều trên trung bình. Krugman đã đúng khi nhấn mạnh tài sản thực sự có thể bị tiêu tan vì sự sụp đổ không thể tránh của các quỹ đầu tư. Khi kinh tế đang trên đà tăng trưởng mạnh, các sự lỗ lả trên giấy tờ có thể lấy lại trong vài tuần lễ. Nhưng khi sự lỗ lả quá lớn, mọi người đều hoảng sợ, sản xuất tất sẽ suy sụp, thất nghiệp sẽ tràn lan, suy thoái , và có thể cả khủng hoảng và đại khủng hoảng, rất dễ xẩy ra cho toàn bộ quốc gia, thậm chí cả toàn cầu.

Hỏi:

Xin ông cho biết hội nghị G20 ngày 2 tháng 4 vừa rồi đã tìm được những giải pháp nào cho cuộc khủng hoảng.

Đáp:

Trong nổ lực vượt qua các dị biệt trong căn bản triết lý và chính sách tài chánh, cấp lãnh đạo nhóm G20, ngày 3-4-2009, đã chấp thuận một chương trình phục hồi kinh tế toàn cầu hiện đang bị tê liệt. Hội Nghị đã cam kết một ngân khoản phụ trội 1.100 tỉ mỹ kim để tài trợ mậu dịch quốc tế và cứu trợ các quốc gia gặp khó khăn.

Chương trình bao gồm những điều lệ khắt khe mới đối với các quỹ đầu tư và đầu cơ; các cơ quan thẩm định tính minh bạch, lành mạnh của các định chế tài chánh; các biện pháp kiểm soát và chế tài những cơ sở tránh thuế an toàn nếu từ chối cung cấp thông tin thuế vụ cho nhà cầm quyền các xứ khác.

Nhóm G20 cũng đồng ý về những quy định mới chặt chẻ ấn định mức trần các khoản thù đáp và tưởng thưởng cho các cấp lãnh đạo ngân hàng, cũng như một phương cách chung để đối phó với các tích sản mất hết giá trị trong đối chiếu biểu các ngân hàng trên thế giới.

Các xứ thành viên cũng thỏa thuận biện pháp vạch mặt chỉ tên và bêu xấu các xứ áp dụng các biện pháp bảo vệ mậu dịch và cam kết dành 250 tỉ mỹ kim để hổ trợ mậu dịch. Biện pháp cụ thể nhất liên quan đến những biện pháp hổ trợ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), cơ quan đã có những hành động sớm sủa đối phó với khủng hoảng toàn cầu qua việc cho một số quốc gia gặp khó khăn vay khẩn cấp.

Nhóm G20 cam kết tăng tài nguyên IMF lên gấp ba – 750 tỉ – với 500 tỉ tiền vay của các quốc gia thành viên và đặc biệt phát hành thêm 250 tỉ tiền Special Drawing Rights (SDR), loại tiền đặc biệt của Quỹ, để phân phối cho 185 quốc gia thành viên. Các xứ nầy có thể sử dụng số SDR của mình để cho các xứ láng giềng gặp khó khăn vay lại. Các quốc gia thành viên còn thỏa thuận dùng số tiền thu từ nghiệp vụ bán số vàng dự trử của IMF để cho các xứ nghèo vay.

Ngoài ra, một Hội Đồng Ổn Định Tài Chánh cũng được sáng lập với đủ quyền hạn một cơ chế kịp thời báo động các xứ thành viên về những bất trắc mang tính hệ thống đối với kinh tế thế giới.

Tuy nhiên, ngân khoản cam kết quá khiêm tốn 1.100 tỉ, so với nhu cầu tiếp sức hết sức lớn lao vào kinh tế thế giới đang thiếu máu trầm trọng, và sự thiếu vắng một cơ chế toàn cầu có đủ thẩm quyền để điều phối, giám sát, chế tài, tất cả các định chế tài chánh toàn cầu, các quỹ đầu tư, các hedge funds xuyên quốc gia, cũng đủ phản ảnh những dị biệt sâu xa và dai dẳng giữa Âu châu lục địa và phần lớn thế giới bên ngoài, cũng như giữa Hoa Kỳ và Âu châu, về nhu cầu phải hành động cấp bách hay phải đợi xem hiệu quả của các chính sách chi tiêu kích cầu hiện hữu, về một cơ chế điều phối, giám sát siêu quốc gia hay bởi các quốc gia riêng rẽ.

Ở đây, tưởng cũng nên nhắc lại lời cảnh báo của Paul Krugman, người được giải Nobel kinh tế năm 2008. Theo Krugman, chính quyền đang đứng trước những lựa chọn nghịch lý. Trong cương vị tác nhân duy nhất điều hướng chi tiêu còn đứng vững, chính quyền trở thành nhà đầu tư tối thiết. Tiến trình hồi phục còn dài lâu. Krugman nhấn mạnh tầm quan trọng của những số đầu tư lớn lao vào hạ tầng cơ sở, bảo hiểm y tế, giáo dục, ngay cả sản xuất xe hơi… Số đầu tư, mang tính hệ thống và tâm lý, phải đủ lớn để đè bẹp khủng hoảng. Lỗi lầm tệ hại nhất là biện pháp nửa vời, chỉ muốn nhảy năm thước khi phải vượt qua một hố thẳm rộng bảy thước, vì e ngại hành động để cứu nguy hệ thống tài chánh có thể bị xem như mang tính xã hội chủ nghĩa.

Hỏi:

Ý nghĩa cuộc sống đối với ông là gì?

Trả lời:

Tôi đã quá tuổi “cổ lai hy”. Tôi nghĩ, không ai biết được những năm tháng còn lại của đời mình. Nhưng bất cứ ai cũng có thể làm chủ được một điều: đừng để chết khi còn sống; và ngày nào còn sống, phải ráng làm những việc hữu ích cho chính mình, cho gia đình, cho bạn bè, và cho xã hội. Theo tôi, đó là ý nghĩa của cuộc sống.

Advertisements