MẠNG LƯỚI GIÁM SÁT TRONG NHÃN QUAN CỦA JONATHAN SCHELL

Một đàn cá đang bơi lội yên bình ngoài biển cả, bên trên một mạng lưới của các thuyền chài đang vây quanh. Bất thần, các ngư phủ kéo lưới. Mặt biển bên trong mạng lưới dậy sóng với bầy cá hoảng loạn đang vẫy vùng tìm cách thoát nạn trong vô vọng.

Đời sống nhân dân Mỹ hiện nay không mấy khác đàn cá phía trên mạng lưới. Đó chính là mạng internet và các công cụ liên hợp thu thập các dữ liệu “metadata”, và ngư phủ chính là các đại công ty và chính quyền Hoa Kỳ.

Hay nói theo lối ẩn dụ phổ thông, nhân dân Mỹ đang sống trong hệ thống lao tù chuyên chế với nhà nước là người giữ chìa khóa nhà giam.

Nhờ lòng can đảm của Edward Snowden, chúng ta nay được biết, Cơ Quan An Ninh Quốc Gia, NSA (National Security Agency), đã bí mật ra lệnh cho Verizon thu thập và chuyển giao mọi dữ liệu các cuộc điện đàm của hàng triệu khách hàng: số điện thoại, thời gian nói chuyện, thông tin và đôi khi cả tọa độ của người gọi.

Cũng chính nhờ Snowden, chúng ta còn được biết khối lượng các thông tin tương tự lấy từ mạng Internet và các các công ty vi tính, kể cả Microsoft, Yahoo, Google, Facebook, PalTalk, AOL, Skype, YouTube, và Apple.

Điều đầu tiên cần ghi nhận là chỉ cách đây một thế hệ, loại dữ liệu nầy chưa hề hiện diện. Đó là thứ quyền lực mới trong xã hội, phát xuất từ kỹ thuật mới, sẵn sàng để được thu thập và sử dụng. Và quyền lực luôn tạo ra cám dỗ, đặc biệt đối với các thành phần vốn đã có sẵn quyền lực.

Điện thoại cầm tay cho nhà cầm quyền biết tọa độ của người gọi. Mọi thông tin trao đổi đều phải đi qua các “centralized servers”, được bảo lưu vô hạn định trong các “ngân hàng bảo quản,” bất cứ lúc nào cũng có thể truy cập và tra cứu. Mọi giao dịch, mọi quan hệ, bệnh tật, giải trí … đều được giám sát và tích lũy. Nếu bị quản thúc, ngay cả DNA của bạn cũng có thể bị thu thập và bảo quản bởi nhà nước.

Ngày nay, song đôi với mỗi cá nhân là bản sao chép điện tử, một phần tự tạo, một phần bởi một pháp nhân bên ngoài. Bản sao chép trong thực tế đã trở thành một tài hóa công, phần lớn thuộc quyền sở hữu của các đại công ty luôn ngấu nghiến khối lượng dữ liệu khổng lồ với mục đích thương mãi.

Giờ đây, chính quyền đã với tới các đại công ty đó với mục đích riêng, tạo lập một lãnh địa hoàn toàn mới dưới hình thức state-corporate complex — một hợp thể công-tư nhà nước-đại công ty.

Guồng máy giám sát với kích cỡ rộng khắp đã biến các dân quyền cơ bản thành vô nghĩa, trên cả Đệ Tứ Tu Chính Án (Fourth Amendment) bảo vệ người dân trước mọi khám xét và câu lưu không chính đáng.

Trong thực tế, các quan chức chính quyền luôn đảm bảo sẽ không bao giờ xiết chặt mạng lưới. Họ nói rõ, mặc dù họ có thể biết mọi thứ về mọi người, họ sẽ không hành động như thế. Họ sẽ bảo lưu các thông tin chưa thẩm định trong các vòm điện tử.

Nhưng lich sử Hoa Kỳ cũng như các xứ khác đã dạy chúng ta bài học: chỉ những người điên rồ mới đặt lòng tin vào các lời bảo đảm đó. Những gì một tổng thống biết tự chế không làm, tổng thống kế tiếp sẽ làm; những gì không làm trong thời bình sẽ được làm trong thời khủng hoảng.

Ngành hành pháp cũng đã đưa ra lời cam kết tương tự đối với quyền xử tử các công dân Hoa Kỳ và nước ngoài chỉ với quyền chuyên quyết của riêng mình.

Tuy nhiên, chấp nhận những lời cam kết như thế có nghĩa đã từ bỏ những nguyên tắc hiến định bảo đảm vững chắc các quyền tự do dân sự căn bản cho mọi công dân.

Nếu có một ý niệm chính trị duy nhất xứng đáng được xem như cốt lõi đặc trưng của Hoa Kỳ, đó là nguyên tắc quyền lực của một ngành chính quyền phải được cân bằng và kiềm chế bởi quyền lực của một ngành chính quyền khác. Chính vì vậy, quyền hạn của chính quyền liên bang phải được đối trọng và cân bằng bởi quyền hạn của chính quyền các tiểu bang, và bởi nguyên tắc phân quyền giữa ba ngành hành pháp, lập pháp, và tư pháp.

Các quan chức chính quyền, nhất là T T Obama, đã cam kết với nhân dân Mỹ hệ thống kiềm chế và cân bằng vẫn còn nguyên vẹn. Và theo lời của chính T T Obama, các chương trình giám sát đều được đặt dưới quyền giám hộ hết sức chặt chẽ của cả ba ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp.

Nhưng chỉ một xét nghiệm thành tích ngắn ngũi cũng đủ để bác bỏ các lời xác quyết trên đây. Trong địa hạt nầy, tác động hổ tương giữa ba ngành trong thực tế không phải là mô hình lý tưởng cần tái xác quyết, mà là để thể hiện trung thực và sâu sắc hơn. Lý do không phải vì hai ngành lập pháp và tư pháp không quan tâm; mà vì mỗi ngành, trong phương cách riêng của mình, đã từ bỏ thực thi vai trò hiến định của chính mình.

Mọi chuyện bắt đầu với trò chơi lẫn tránh hệ thống pháp lý sau sự kiện 11/9 của George W. Bush. Xem thường luật pháp, Bush đã ra lệnh khởi động chương trình giám sát quốc nội với Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (NSA), mà không cần đến sự đồng tình của tòa án.

Chương trình nầy, vì vậy, đã hoàn toàn mang tính bất hợp pháp và nghịch lý, đến độ các quan chức cao cấp trong chính quyền , kể cả James Comey, Phó Chưởng Lý, và Robert Mueller, giám đốc FBI, đã đe dọa từ chức. Và Bush cũng đã phải chấp nhận ít nhiều nhượng bộ, nhưng sự đối kháng cũng không hề được tiết lộ cho đến gần đây.

Câu hỏi cần được nêu lên là điều gì đã xẩy ra? Quốc Hội đã ngăn chặn sự tiếm quyền của hành pháp? Quốc Hội đã khiển trách Bush, cấm đoán các tội phạm, buộc tội các quan chức chính quyền?

Trong thực tế, chẳng hề có một chế tài nào theo chiều hướng vừa nói. Thay vào đó, Quốc Hội đã hợp pháp hóa các điểm đặc trưng tồi tệ nhất của chương trình qua các pháp chế mới, như luật Protect America Act năm 2007, và Foreign Intelligence Surveillance Amendments Act năm 2008. Quốc Hội cũng đã chước miễn trách nhiệm pháp lý cho các đoàn thể và định chế bí mật, các tổ chức đã chịu khuất phục trước các vi phạm luật pháp của Bush.

Thay vì chế tài các lạm dụng, Quốc Hội đã định chế hóa các hành vi phạm pháp. Cùng lúc, Quốc Hội đã hậu thuẩn các hình thức bí mật che dấu các hành vi lạm quyền của hành pháp, qua cách xếp loại các quan điểm pháp lý (legal opinions). Các phán quyết của tòa án bí mật FISA (the secret Foreign Intelligence Surveillance Act court) cũng đã đem lại sự bảo vệ pháp lý cho các chương trình giám sát mới. Các quan điểm pháp lý của chính quyền Obama về các thủ tục vừa kể cũng được xếp vào loại tối mật.

Riêng đối với ngành tư pháp, vào năm 1979, Tối Cao Pháp Viện đã phán quyết các dữ liệu đặc biệt do Verizon thu thập không thuộc loại được Đệ Tứ Tu Chính Án bảo vệ. Công bằng mà nói, Tối Cao Pháp Viện cũng không tỏ dấu hiệu đã tiên liệu hay có ý muốn chuẩn y các chương trình thu thập bừa bải các dữ liệu và thông tin đặc biệt như trong thực tế hiện nay. Vì vậy, vụ kiện của ACLU, nhằm chận đứng các thủ tục nói trên, vẫn có cơ may thành công.

Tuy nhiên, Tòa FISA hầu như chưa bao giờ từ chối các yêu sách của hành pháp. James Bamford, chuyên viên giám sát của NSA, đã định tính định chế nầy là “tòa giám sát siêu bí mật, một tòa án hoàn toàn bất lực.”[1]

Hệ thống chế ngự và cân bằng (system of checks and balances) của Hoa Kỳ đã có tác động trái ngược . Hệ thống phân quyền hành pháp-lập pháp-tư pháp, không những không hoàn thành trách nhiệm chế ngự lẫn nhau hay bảo vệ dân quyền cho người Mỹ, mà còn đồng lõa trong các vụ vi phạm dân quyền, đến tầm cỡ đã đem lại hệ thống chước miễn trách nhiệm trong các hành động vi luật của cả ba ngành.

Phân quyền để giữ thế quân bình và chế ngự lẫn nhau, trong thực tế, đã trở thành hệ thống hợp nhất để tăng cường quyền hạn (fused power) — điều mà các Nhà Lập Quốc đã e ngại nhiều nhất. Các đảng phái chính trị chẳng những đã không làm tròn chức năng các lực chế ngự ba ngành chính quyền. Giới lãnh đạo các đảng, trái lại, còn chung sức che chở các hành vi lạm quyền, mặc dù cá nhân vài nghị sĩ, kể cả Jeff Merkley và Ron Wyden, đã đề xuất một số cải cách hợp lý.

Cuối cùng, ngay cả các cuộc bầu cử cũng đã tỏ ra vô hiệu: cử tri đã chọn một tổng thống — giáo sư giảng dạy luật hiến pháp, với nghị trình vận động tuyển cử đề cao chức năng ngăn ngừa các vi phạm các quyền tự do dân sự — nay đã trở thành tác giả của các vi phạm mới.

Ngay cho đến nay, thái độ tìm cách xoa dịu và bảo toàn thanh danh một lãnh đạo có khuynh hướng tự do (“Đổi Thay chúng ta có thể tin tưởng”, “Change we can believe in”) đang gây bối rối và trở ngại cho những ai lẽ ra đã có thể phản ứng một cách giận dữ.

Người Mỹ phải làm những gì khi mọi kênh chính thức đều không đáp ứng hay tỏ ra không làm tròn chức năng, hay bất lực?

Theo lối nói trong đời thường, phải chăng cử tri Mỹ đang ở trong thời kỳ cách mạng? Liệu cử tri sẽ xuống đường để phản kháng?

Hình như tình hình còn khác thường hơn thế. Hoa Kỳ đang trải nghiệm một cuộc “cách mạng,” nhưng không phải một cuộc cách mạng trên đường phố. Đây là cuộc cách mạng do chính quyền thể hiện, để chống lại chính hệ thống luật pháp của quốc gia. Đây là cuộc dấy loạn chống lại trật tự hiến định, bởi các quan chức đã tuyên thệ bảo vệ hiến pháp, bao gồm cả các quan điểm pháp lý và pháp chế, một cuộc dấy loạn còn cực đoan và nguy hiểm hơn rất nhiều. Nói một cách khác, chính quyền đang lén lút dấy loạn chống lại bản văn và tinh thần cơ bản của luật pháp quốc gia.

Những gì cần thiết, vì vậy, là một cuộc phản-cách-mạng hay một sự phục hồi và tái xác quyết các nguyên tắc từng là nền tảng của Cộng Hòa Hoa Kỳ.

Edward Snowden là người đã hiểu được những gì cần làm. Snowden đã hiểu, khi toàn bộ chính quyền đang xử sự ngoài vòng pháp luật và cực đoan, lực lượng duy nhất có cơ may phục hồi nền Cộng Hòa chính là quần chúng. Anh ta đã giúp thể hiện điều nầy qua quyết định vạch trần trước công luận tình trạng lộng hành ngày một nghiêm trọng của chính quyền, nhân danh toàn thể quốc dân.

Nói theo lời của chính Jonathan Schell: “Có hai hạng người bất đồng chính kiến về các quyền dân sự: những kẻ lấy cảm hứng từ các nguyên tắc phổ quát, và những kẻ lấy cảm hứng từ truyền thống quốc gia. Mỗi hạng có hậu thuẩn riêng của mình. Julian Assange thuộc Wikileaks là loại bất đồng chính kiến thứ nhất; Snowden, loại bất đồng chính kiến thứ hai.

Khi được hỏi tại sao anh ta đã làm những gì anh đã làm, Snowden đã trả lời, ‘Tôi không phải kẻ phản quốc, và cũng không phải anh hùng. Tôi là một người Mỹ.’ Snowden đã cơ sở các hành động của mình trên những truyền thống tốt đẹp nhất của xứ sở nầy, những truyền thống các lãnh đạo hiện nay đã từ bỏ, nhưng anh ta hy vọng, thế hệ người Mỹ hiện nay vẫn còn chia sẻ. Trong những tuần lễ và những tháng trước mặt, chúng ta sẽ hiểu được phải chăng anh ta đã đúng.”[2]

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

16-8-2013

——————————————————————————–

[1] …a super hush-hush surveillance court that is virtually impotent.

[2] …Civil disobedients are of two kinds: those inspired by universal principles, and those inspired by national traditions. Each has its strengths. Julian Assange of WikiLeaks is the first kind; Snowden, the second. Asked why he had done what he did, Snowden replied, “I am neither traitor nor hero. I am an American.” He based his actions on the finest traditions of this country, which its current leaders have abandoned but which, he hopes, the current generation of Americans still share. In the weeks and months ahead, we’ll find out whether he was right.

Advertisements