KHỦNG HOẢNG SYRIA VÀ THẾ LƯỠNG NAN CỦA HOA KỲ

Lịch sử luôn tiếp diễn trong khi ít ai lưu tâm. Vào những dịp cuối tuần tháng 8-2013, Tổng Thống Hoa Kỳ thường thích chơi gôn hay thư giản tại Camp David, không mấy khi xuất hiện trên trang đầu các báo. Tuy vậy, Barack Obama đã chọn dịp Lễ Lao Động cuối tuần để tiết lộ một thay đổi quan trọng trong chính sách đối ngoại ngay trong năm đầu của nhiệm kỳ hai.
KHỦNG HOẢNG SYRIA
Thực vậy, trong một công bố làm hầu hết mọi người phải ngạc nhiên, Tổng Thống đã cho biết quyết định tạm ngưng cuộc tấn công Syria. Ông quả quyết với nhân dân Mỹ: nhu cầu và lý do phải trừng phạt chính quyền Syria đã không thay đổi, vì theo Barack Obama, Basar al-Assad có thể đã sử dụng vũ khí hóa học chống lại nhân dân Syria.
Trong thực tế, chỉ trước đó mấy ngày, các viên chức chính quyền đã nói rõ, nếu cần, Hoa Kỳ có thể đơn phương hành động để trừng phạt chế độ Basar al-Assad về hành động tội lỗi vừa nói.
Tuy nhiên, giờ đây, Obama lại loan báo: trong tư cách lãnh đạo một quốc gia dân chủ hiến định lâu đời nhất trên thế giới, ông đã quyết định tìm kiếm sự chấp thuận của Quốc Hội trước khi hành động.
Với quyết định nầy, Obama đã bất thần thay đổi một đường lối đã được các chính quyền Hoa Kỳ trước đó thực thi trong hơn sáu thập kỷ: nhiều tổng thống liên tiếp đã tự dành cho mình đặc quyền lúc một lớn lao — quyết định thời điểm và xứ nào Hoa Kỳ muốn thị uy hay xâm chiếm.
Đây là điều các tổng thống, từ Harry Truman đến George W. Bush, đã đồng tình. Đối với những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia, quyền hạn của tổng-thống-tổng-tư- lệnh sẽ không có giới hạn nhất định. Trong phạm vi an ninh quốc gia và để bảo toàn quyền lợi thiết yếu của xứ sở, các tổng thông có thể làm hầu như bất cứ điều gì họ xét thấy cần thiết.
Đây chính là căn nguyên quyết định tầm cỡ và uy tín của một tổng thống mang tính đế quốc, và từ đó, định hình, hay làm méo mó, hệ thống chính trị của Hoa Kỳ. Đã hẳn, tòa nhà số 1600 Pennsylvania, tự nó, đã oai nghiêm, nhưng chính các tên lửa, pháo đài bay, chiến hạm…, dưới quyền tư lệnh tối cao và duy nhất của tổng thống, là những gì đã đem lại cho ngôi vị tổng thống sau Đệ Nhị Thế Chiến quyền uy đặc biệt.
Thực vậy, giờ đây Obama đã nói với Quốc Hội: tôi rất thiết tha phát động một cuộc chiến lựa chọn. Nhưng trước hết tôi muốn có sự chuẩn y của các thành viên Quốc Hội.
Trong chính trị, tự nguyện từ bỏ quyền hạn của mình là một hành động thiếu tự nhiên. Lời mời gọi của Obama mang tính quá bất thường. Dù những tính toán bên sau động thái nầy là gì đi nữa, tác động của nó có thể xếp vào loại giữa “vô tiền khoáng hậu và thật sự kỳ quái.” Người thừa kế các đặc quyền trước đây chỉ dành cho các bậc đế vương đang hành động rõ ràng phi-đế-vương.
Đã hẳn, Obama là giáo sự dạy luật hiến pháp; và quả là một điều thú vị khi tưởng tượng ông ta đã hành động vì thực sự tôn trọng nội dung Điều 1, Đoạn 8, của hiến pháp Hoa Kỳ, nguyên văn: “Quốc Hội giữ quyền…tuyên chiến” (the Congress shall have power …to declare war).
Cứ tin ở lời giải thích của tổng thống một cách ngây thơ, quyết định của Obama xứng đáng được các nhà hiến pháp học chân chính của Hoa Kỳ nhiệt liệt hoan hô. Hội Học Giả chủ trương chế độ liên bang nên dành cho Obama giải thưởng: “Thành Viên Danh dự Trọn Đời của Hội”.
Dù sao, các nhà quan sát chính trị trải nghiệm, thường tinh tế và hoài nghi, đã bác bỏ lý do biểu kiến của tổng thống, và lập tức tỏ ra nghi ngờ động lực đích thực của Obama. Lời giải thích phổ biến nhất là sau khi tự dồn vào góc tường, Obama đang tìm cách lôi kéo các thành viên Quốc Hội cùng chia sẻ trách nhiệm với mình. Thay vì một hối cãi trải nghiệm chậm trể, cách diễn giải hiến pháp của tổng thống trong thực tế chỉ là một xảo thuật chính trị rẻ tiền.
Xét cho cùng, Tổng Thống đã tự đặt mình vào một trạng huống khó khăn trong tháng 8-2012 khi tuyên bố: mọi sử dụng vũ khí hóa học của chính quyền Bashar al-Assad sẽ bị xem như vượt qua “lằn ranh đỏ” khởi động một bước ngoặt trong luật chơi.
Khi người Syria tỏ vẻ sẵn sàng lật tẩy, Obama tự thấy đang phải đối diện với các lựa chọn quân sự hết sức bất lợi — từ các bất trắc nếu phải hậu thuẩn phe dấy loạn nhiều phe nhóm và cực đoan để lật đổ Assad đến phát động một vụ can thiệp quân sự hoàn toàn vô nghĩa và đầy tai họa nhằm thay đổi chế độ.
Trong lúc đó, hầu hết quần chúng Hoa Kỳ đều chán ngán trước viễn tượng thêm một cuộc chiến mới ở Trung Đông. Tệ hơn nữa, giới lãnh đạo quân đội và đa số các thành viên Quốc Hội, Cộng Hòa cũng như Dân Chủ, đều tỏ ra hết sức dè dặt hoặc công khai chống đối. Ngay cả báo chí cũng đã trích dẫn tin tức nhiều quan chức dấu tên trong hàng ngũ an ninh quốc gia đã tiết lộ: tin tình báo liên kết Assad với các cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học là bất khả tín — một nhắc nhở đau đớn các nguồn tin ngụy tạo đã đưa đến cuộc chiến tai họa và không cần thiết với Iraq trước đây.
Đối với Tòa Bạch Ốc, ngay cả một lời bóng gió — Obama trong năm 2013 rất có thể đang tái diễn kịch bản 2003 của Bush — cũng đã là một điều cấm kỵ.
Tổng Thống cũng đã ý thức rõ ràng, thuyết phục được các đồng minh tham gia vào chiến dịch đầy mạo hiểm là một việc làm phi thường. Không những Liên Đoàn Á Rập đã từ chối tham gia vào cuộc tấn công Syria, và đây cũng đã là một điều chẳng lành. Ngay Quốc Vương Abdullah của Jordan, đồng minh khắng khít nhất của Hoa Kỳ trong thế giới Á Rập, cũng đã công khai loan báo: Jordan thích thương thuyết với Syria hơn là tấn công. Riêng Iraq, chính quyền trước đây đã phải chịu ơn Hoa Kỳ, hiện nay cũng đã từ chối không cho phép lực lượng Hoa Kỳ sử dụng không phận — một quyết định vong ân bội nghĩa!
Đối với Obama, thảm trạng lớn nhất rất có thể đã đến khi đối tác Âu châu đáng tin cậy và ngoan ngoãn nhất cũng đã từ chối tham gia vào cuộc thánh chiến vì hòa bình, tự do, và nhân quyền ở Trung Đông. Với những ký ức về Tony Blair và George W. Bush làm lu mờ hình ảnh của Winston L.S. Churchill và Franklin D. Roosevelt, Nghị Viện Anh đã bác bỏ nổ lực của Thủ Tướng David Cameron muốn đưa Anh Quốc vào quỹ đạo Hoa Kỳ. Cuộc biểu quyết của Nghị Viện Anh đã dập tắt hy vọng của Obama un đúc một liên minh tay đôi, đầu tư vào cuộc chiến lựa chọn chống lại Syria nhằm đem lại chút ít tính chính đáng dù hết sức mong manh.
Đối với hành động quân sự đích thực, chỉ có Pháp là vẫn còn xét đến khả năng liên minh với Hoa Kỳ. Tuy vậy, số người Mỹ tin ở tiềm lực quân sự của Pháp cũng chẳng bao nhiêu.
John F. Kennedy đã có lần ghi nhận: thất bại là một trẻ mồ côi. Đây là một cuộc chiến đã mất cha mẹ ngay cả trước khi phát động.
CUỘC CHIẾN TRONG VÙNG TRUNG ĐÔNG NỚI RỘNG
Tuy vậy, động lực thúc đẩy tổng thống, dù là các lý do hiến định cao cả hay chỉ là những thủ thuật chính trị quỷ quyệt, cũng không quan trọng bằng những gì đã xẩy ra sau đó. Obama đã đưa quả bóng vào phần sân Quốc Hội. Điều cần theo dõi là Hạ Viện và Thượng Viện sau đó sẽ phản ứng ra sao.
Ít ra cũng sẽ có hai phương cách đối phó khả dĩ: một với hệ quả có thể khá sâu xa và một chỉ có thể mang tính giải trí.
Một mặt, Obama đã mặc nhiên mở cửa cho một cuộc thảo luận rộng lớn liên quan đến lộ trình chính sách Hoa Kỳ ở Trung Đông. Mặc dù nay mai Thượng và Hạ Viện rất có thể sẽ bỏ phiếu chấp thuận hay bác bỏ một hình thức “Cho Phép Sử Dụng Quân Lực” nào đó (an Authorization for the Use of Military Force — AUMF), hậu quả, vì vậy, cũng sẽ vượt quá vấn đề: cần phải làm gì đối với Syria.
Vấn đề thực sự — người Mỹ hy vọng cuộc thảo luận sắp tới của Quốc Hội sẽ đem lại nhiều thông tin rõ ràng hơn — liên quan đến tính khôn ngoan của quyết định tiếp tục dựa vào sức mạnh quân sự như phương tiện tốt nhất để thể hiện quyền lợi của Hoa Kỳ trong vùng Trung Đông Nới Rộng.
Thẩm định những hệ quả thực sự đòi hỏi phải đặt cuộc khủng hoảng hiện nay trong một bối cảnh rộng lớn hơn. Và sau đây là một bài học lịch sử ngắn gọn.
Năm 1980, Tổng Thống Jimmy Carter đã loan báo Hoa Kỳ có thể sử dụng bất cứ phương tiện cần thiết nào để ngăn ngừa một cường quốc thù nghịch giành quyền khống chế vùng Vịnh Ba Tư.
Bây giờ nhìn lại, Chủ Thuyết Carter, trong thực tế, rõ ràng đã là một lời tuyên chiến của tổng thống (ngay cả khi Carter đã không thực sự cam kết, với đầy đủ ý thức, đặt Hoa Kỳ vào tình trạng xung đột vũ trang triền miên trong khu vực). Quả thật, những gì đã xẩy ra sau đó là một chuổi các cuộc chiến dai dẳng và liên tục. Mặc dù chưa bao giờ chính thức chuẩn y Chủ Thuyết Carter, Quốc Hội cũng đã mặc nhiên chấp nhận mọi hệ lụy do chủ thuyết nầy mang lại.
Tương đối khiêm tốn trong hình thức nguyên thủy, Chủ Thuyết Carter đã di căn một cách nhanh chóng. Trên bình diện địa lý, tác động của chủ thuyết đã lan tràn ra bên ngoài ranh giới vùng Vịnh Ba Tư, và đã bao trùm hầu hết thế giới Hồi Giáo. Tham vọng chính của Hoa Thịnh Đốn trong khu vực cũng đã bành trướng theo.
Thay vì chỉ để ngăn ngừa một cường quốc nào đó khống chế vùng Vịnh, chẳng bao lâu sau Hoa Kỳ đã tìm cách áp đặt sự khống chế của chính mình trong toàn vùng. Một sự khống chế — định hình chuổi biến cố theo ý muốn của Hoa Thịnh Đốn — được quảng bá như yếu tố then chốt trong nổ lực duy trì ổn định, tiếp cận các trữ lượng dầu khí quan trọng nhất thế giới, kiềm chế sự lan tràn của phong trào Hồi Giáo cực đoan, hậu thuẩn cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, bảo toàn an ninh cho Do Thái, và phát huy hệ thống giá trị của Mỹ…
Hoa Thịnh Đốn tin tưởng, nếu sức mạnh quân sự được sử dụng khéo léo, sự khống chế có thể áp đặt thành công.
Trong thực tế, điều nầy có nghĩa chính sách của Hoa Kỳ đối với vùng Trung Đông Nới Rộng đã hoàn toàn được quân sự hóa trong một thời kỳ Hoa Kỳ đang say sưa với quyền lực quân sự đang ở mức đỉnh điểm.
Vào thời kỳ Chiến Tranh Lạnh sắp chấm dứt, guồng máy an ninh quốc gia đã chuyển hướng mục tiêu sức mạnh quân sự qua thế giới Hồi Giáo. Cụ thể hơn, sự chuyển hướng đã được thể hiện qua việc thiết lập Bộ Tự Lệnh CENTCOM, tái phối trí các lực lượng quân sự, và một chu kỳ liên tục hoạch định quân sự, các kế hoạch hành quân, các cuộc tập trận trong khu vực… Xây dựng cơ sở cho việc đóng quân thực tế dài lâu, Ngũ Giác Đài đã thiết lập các căn cứ quân sự, các kho dự trữ và tiếp liệu tiền phương, và các quyền quá cảnh… Ngũ Giác Đài cũng đã ve vãn và trang bị vũ khí cho các lực lượng ủy nhiệm.
Trong cốt lõi, Chủ Thuyết Carter đã cung cấp cho Ngũ Giác Đài và các cơ quan tình báo Hoa Kỳ nhân tố cơ bản để rèn luyện và hành xử các khả năng quân sự mới. Trên cơ sở nầy, con số các chính sách có thể lựa chọn đã gia tăng. Có nhiều chính sách để lựa chọn đem lại nhiều cơ hội để làm một cái gì đó theo nhu cầu khi đối diện với khủng hoảng.
Ngay từ kỷ nguyên Reagan, các nhà làm chính sách đã sốt sắng chộp lấy mọi cơ hội. Và một chuổi liên tục các xung đột bất ngờ đã tiếp diễn, khi các lực lượng quân sự Hoa Kỳ, các lực lượng ủy nhiệm…tham gia trong các hoạt động đối nghịch ở Lebanon, Libya, Iran, Somalia, Bosnia, Kosovo, Saudi Arabia, Sudan, Yemen, Pakistan, Nam Phi Luật Tân, Iraq, Afghanistan, và trong vùng Vịnh Ba Tư…
Nói chung, chúng ta đang chứng kiến Cuộc Chiến trong Vùng Trung Đông Nới Rộng — một cuộc chiến Hoa Kỳ đã và đang theo đuổi trong hơn ba thập kỷ vừa qua. Và nếu Quốc Hội bật đèn xanh cho tổng thống, Syria sẽ trở thành một mặt trận mới trong cuộc chiến đang tiếp diễn.
THẾ LƯỠNG NAN CỦA HOA KỲ
Một cuộc thảo luận về đề tài AUMF-Syria sẽ là cơ hội để các đại biểu dân cử trong Quốc Hội — nếu có đủ can đảm — xét duyệt lại toàn bộ thành tích các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ trong vùng Trung Đông Nới Rộng kể từ năm 1980. Để hoàn thành trách nhiệm, các nhà lập pháp sẽ phải đối diện với vấn đề đơn thuần sau: Người Mỹ đã và đang làm việc ra sao và đã làm được những gì trong vùng Trung Đông Nới Rộng?
Đặt vấn đề một cách trực diện, trong hơn ba thập kỷ vừa qua, sau khi đã phung phí bao nhiêu quân trang quân dụng, bao nhiêu lần phối trí và tái phối trí các lực lượng quân sự, và đã phải gánh chịu bao nhiêu thương vong…, viễn tượng hoàn thành sứ mệnh hiện nay ra sao?
Phải chăng lực lượng quân sự Hoa Kỳ — đối tượng của tình yêu thương và ái mộ của nhân dân Hoa Kỳ — trong vòng hơn 30 năm qua, đã chỉ có thể làm những việc lặt vặt của những kẻ khùng điên?
Các thành viên Quốc Hội sau khi sử dụng lá phiếu biểu quyết AUMF-Syria sẽ cho thấy câu trả lời của chính mình, và cũng là của cử tri Hoa Kỳ, cho vấn đề nêu trên.
Trong thực tế, biểu quyết chấp thuận tấn công Syria là tái xác quyết Chủ Thuyết Carter và đánh dấu sự chấp thuận của Quốc Hội đối với toàn bộ các chính sách đã đưa Hoa Kỳ vào tình cảnh hiện nay. Một đa số phiếu chấp thuận AUMF-Syria có nghĩa: Hoa Kỳ sẽ duy trì và rất có thể tăng cường quyết định sử dung vũ lực như phương cách tốt nhất để phụng sự quyền lợi thiết yếu của mình trong thế giới Hồi Giáo.
Từ viễn cảnh và tiến độ đó, tất cả những gì cần làm là phải tiếp tục cố gắng hơn nữa với hy vọng cuối cùng Hoa Kỳ cũng sẽ thành đạt được kết quả thuận lợi. Với Syria tưởng chừng là điểm ngoặt khó nắm bắt và khó thể khống chế, người Mỹ giờ đây vẫn vững tin vùng Trung Đông Nới Rộng sẽ được ổn định. Dân chủ sẽ nở rộ. Và Hoa Kỳ sẽ được quần chúng trong vùng Trung Đông Nới Rộng nhiệt liệt hoan hô vì đã được giải thoát khỏi các giới lãnh đạo chuyên chế.
Ngược lại, bỏ phiếu bác bỏ AUMF-Syria sẽ kẻ một lằn đỏ có ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với lằn đỏ Tổng Thống Obama đã tùy tiện phác họa. Trong trường hợp đa số các thành viên Quốc Hội trong Hạ Viện hoặc Thượng Viện bác bỏ AUMF-Syria, điều nầy có nghĩa Hoa Kỳ sẽ phải xét lại tính khả thi của Chủ Thuyết Carter và tất cả hệ lụy của nó.
Cuộc biểu quyết sẽ đem lại cơ hội để người Mỹ tự hỏi: liệu tiếp tục cuộc chiến có thể đem lại một kết quả khác hơn những gì Hoa Kỳ đã ghi nhận trong nhiều nơi trong vùng Trung Đông Nới Rộng. Đó là khu vực các lực lượng quân sự của Mỹ, dù ý định là gì đi nữa, cũng đã dành vài thập kỷ vừa qua chỉ để gây thêm tang tóc và hổn độn dưới nhiều chiêu bài tốt đẹp nhất thế giới.
Thay vì tiếp tục đi theo lối mòn quen thuộc, thử hỏi có bao nhiêu người với tư duy đứng đắn tin tưởng: thay thế Assad sẽ chuyển biến Syria thành một Thụy Sĩ của thế giới Á Rập.
Ngược lại, bác bỏ AUMF-Syria có thể có nghĩa: mang lại sự khả dĩ vạch ra một lối đi hoàn toàn khác, mang lại hình ảnh một lực lượng quân sự khiêm tốn hơn và hành động biết tự chế hơn…
Một viễn cảnh thật sự gây nhiều xúc động! Thử tưởng tượng các thành viên Quốc Hội quyết định tạm gác các ưu tư chính trị đảng phái thường tình để luận bàn về mục tiêu của các chính sách hàng đầu. Thử tưởng tượng họ đặt quyền lợi của xứ sở lên trên các âu lo riêng tư: theo đuổi các tham vọng chính trị hay nhu cầu tái cử. Chúng ta muốn nói: họ sẵn sàng làm cách mạng.
Trên một bình diện khác, trước các thành tích gần đây, chúng ta cũng chớ vội quên một khả dĩ khác: các đại diện dân cử có thể sẽ không đáp ứng những đòi hỏi của thời cuộc và lòng mong đợi của cử tri.
Được Tổng Thống mời gọi chia sẻ gánh nặng trách nhiệm quyết định tính cần thiết gây chiến và gây chiến ở đâu, các đại biểu dân cử — ít được biết đến với lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm – cũng có thể chọn cách cá cược.
Thực vậy, như chúng ta đã học được nhiều bài học kinh nghiệm, Quốc Hội cũng có rất nhiều cách để lẩn tránh trách nhiệm.
Trong trường hợp nầy, họ rất có thể bắt đầu với giả thiết thông thường: thực tế ở đây chẳng có gì khác hơn là phải đáp ứng như thế nào với những hành động được cho là sai quấy của Assad.
Đã hẳn, từ chối đặt cuộc khủng hoảng Syria trong một bối cảnh rộng lớn hơn là một tránh né. Tuy nhiên, tránh né luôn tạo ra nhiều cơ hội cho các đại diện dân cử tránh khỏi “cắn câu” (off the hook).
Chẳng hạn, Quốc Hội có thể thông qua một quyết nghị cho phép Obama khai chiến một cách ngắn gọn. Nói một cách khác, Quốc Hội cũng có thể theo gương tổng thống thay thế chính sách bằng cử chỉ…
Hoặc Quốc Hội cũng có thể chỉ thông qua một quyết nghị tổng quát nhưng trống rỗng, gián tiếp chấp nhận để tổng thống toàn quyền hành động. Có rất nhiều tiền lệ cho cách tiếp cận nầy — một cách tiếp cận ít nhiều mô tả những gì Quốc Hội đã làm trong năm 1964 với Nghị Quyết Vịnh Bắc Bộ, mở đường cho tổng thống leo thang chiến tranh ở Việt Nam, hay một AUMF ngay tiếp theo sau biến cố 11/9 cho phép chính quyền George W. Bush làm bất cứ điều gì chính quyền muốn với bất cứ ai.
Thiếu trách nhiệm hơn nữa, Quốc Hội cũng có thể đơn thuần bác bỏ bất cứ AUMF-Syria nào, bất kể lời lẽ ra sao, chẳng cần đưa ra một biện pháp thay thế chiến tranh có vẻ hợp lý nào, trong thực tế, chỉ phủi tay đối với vấn đề liên hệ và tạo nên một thiếu vắng chính sách.
Liệu các thành viên Thượng và Hạ Viện sẽ chộp lấy cơ hội để thực thi một tái thẩm định tối cần thiết Cuộc Chiến của Hoa Kỳ trong vùng Trung Đông Nới Rộng? Hay chỉ vò đầu bứt tóc tránh né vấn đề, chọn lựa giải pháp cấp thời ngắn hạn thay vì hành xử trọng trách quản lý quốc gia đại sự?
Trong kỷ nguyên với những nhân vật cơ hội, ba hoa, rỗng tuếch, như McCain, McConnel, và Reid …, đặt vấn đề cũng đã là trả lời câu hỏi.
Trong mọi trường hợp, chúng ta đang sống trong một thời kỳ kỳ lạ: Hoa Kỳ không phải đối đầu với bất cứ một cường quốc cạnh tranh nào khác trên hành tinh. Uy quyền quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ là vô song và không hề bị thử thách. Tuy vậy, một cách nào đó, trong nhiều khu vực trọng yếu trên thế giới, quyền lực của Hoa Kỳ để thực thi bất cứ điều gì rõ ràng đã ngày một liên tục suy giảm.
Chẳng hạn, năm 1990, vào phút chót của Chiến Tranh Lạnh, một đồng minh trước đó trong vùng Vịnh Ba Tư, Saddam Hussein, người đã được Hoa Kỳ hậu thuẩn khi sử dụng vũ khí hóa học chống lại quân đội Iran, đã xâm lăng Kuwait. Saddam Hussein hình như đã cả tin: ông ta đã được Hoa Thịnh Đốn bật đèn xanh để làm việc đó.
Như một câu trả lời, Tổng Thống đương thời, George H.W. Bush, đã huy động một liên minh quân sự 30 quốc gia — hay để dùng một cụm từ do chính con trai của ông, tổng thống George W. Bush, sáng chế: một đại liên minh những quốc gia tự nguyện (grand coalition of the willing) — và với hậu thuẩn của Quốc Hội, đã đẩy quân đội của Saddam ra khỏi Kuwait, để rồi xâm lăng Iraq. Một số quốc gia khác, kể cả các quốc gia vùng Vịnh, Nhật, và Đức, cũng đã sẵn sàng gánh vác một phần đáng kể gánh nặng tài chánh chuẩn bị chiến tranh và ngay cả thực thi chiến dịch.
Hai mươi hai năm sau, chuẩn bị phát động một cuộc tấn công bằng tên lửa hạn chế hơn nhiều và có thể ngay cả một cuộc oanh tạc vào các cơ sở quân sự của Syria, Tổng Thống Obama cũng muốn hành động tương tự. Các cộng sự viên của tổng thống cũng đã phục hồi cụm từ “liên minh tự nguyện” để tiện dụng.
Trong thực tế, Obama đã chỉ có thể thành đạt một liên minh đơn độc — cộng thêm một nửa, nếu tính thêm Tổng Thống Pháp Hollande, hay hai rưỡi nếu kể thêm Saudis. Phần lớn các quốc gia còn lại trên thế giới chỉ còn là một “liên minh không tự nguyện” (a coalition of the unwilling). Tình trạng nầy, đã hẳn, cũng đủ phản ảnh một cách đánh giá: uy lực ngày một suy giảm của Hoa Kỳ trong Vùng Trung Đông Nới Rộng, và ngay cả ở Âu châu, trong hai thập kỷ vừa qua.
Tóm lại, hiện nay chúng ta có thể nói sau hai cuộc chiến Iraq, Afghanistan, và sau vụ Edward Snowden tiết lộ các việc làm của hệ thống an ninh quốc gia NSA, Hoa Kỳ…, việc huy động một liên minh quân sự do Hoa Kỳ bảo trợ ngày một gặp nhiều khó khăn hơn, và sẽ có tác động bất lợi đến cuộc thảo luận AUMF-Syria nay mai của Quốc Hội.
Với tâm trạng chán ngán của quần chúng Hoa Kỳ đối với các cuộc chiến triền miên trong hơn ba mươi năm qua, và với các sáng kiến toàn cầu cơ sở trên giải pháp quân sự trong vòng 12 năm qua…, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đã biến thái thành chính sách chiến tranh triền miên bởi guồng máy an ninh quốc gia. Áp lực, vì vậy, ngày một đè nặng lên quân lực Hoa Kỳ — một đội quân ngày một mất tính quân đội nhân dân và một mang nặng tính quân đội lê dương.

NguyễnTrường
Irvine, California, USA
04-11-2013

Advertisements