MẠNG LƯỚI CĂN CỨ QUÂN SỰ HẢI NGOẠI CỦA HOA KỲ: CĂN NGUYÊN VÀ HỆ LỤY

Dù cho các kế hoạch đối nội của Barack Obama có tham vọng đến đâu, một đề mục, tuy chưa được chính thức xác nhận, vẫn có đủ tiềm năng để hủy hoại bất cứ nổ lực cải cách nào trong nghị trình tổng thống. Chúng ta muốn nói đến sự lệ thuộc lâu dài của chính sách đối ngoại vào chủ nghĩa đế quốc, giải pháp quân sự, và mạng lưới các căn cứ trên toàn cầu, với tiềm năng mang lại tai họa phá sản. Sự bành trướng quá đáng và sử dụng bừa bãi các căn cứ quân sự trong các sứ mệnh không hề thích hợp, không sớm thì muộn, sẽ đưa đến ba loại hậu quả — một tình trạng giàn trải quá mỏng, chiến tranh bất tận, và vỡ nợ — rất dễ dẫn đến một sụp đổ tương tự như Liên Bang Xô Viết trước đây.

Theo cuộc kiểm kê chính thức của Ngũ Giác Đài năm 2008, các căn cứ quân sự của Mỹ trên thế giới là cả một đế quốc bao gồm 865 cơ sở trong hơn 40 quốc gia và các lãnh thổ của Hoa Kỳ ở hải ngoại. Nói rõ hơn, người Mỹ đã bố trí 190.000 quân trong 46 quốc gia và lãnh thổ.

Vào cuối tháng 3-2008, Hoa Kỳ cũng đã có tới 99.295 người sống và làm việc chỉ riêng ở Nhật Bản — 49.364 quân nhân, 45.753 thân nhân gia đình, và 4.178 nhân viên dân sự. Khoảng 13.975 trong số nầy tập trung trên một đảo nhỏ, Okinawa, với mật độ quân nhân ngoại quốc lớn nhất bất cứ nơi nào ở Nhật.

Một sự tập trung lớn lao quyền lực quân sự như thế ở hải ngoại không thực sự cần thiết cho nhu cầu quốc phòng của Mỹ. Ngược lại, các căn cứ nầy thường là một yếu tố quan trọng gây ra nhiều xung đột với các quốc gia khác. Các căn cứ nầy cũng rất tốn kém ngoài sức tưởng tượng. Theo Anita Dancs, một nhà phân tích thuộc mạng Foreign Policy in Focus, Hoa Kỳ đã chi tiêu khoảng 250 tỉ mỗi năm để duy trì sự hiện diện quân sự của mình trên toàn cầu. Mục tiêu duy nhất là để giành bá quyền — có nghĩa, quyền kiểm soát hay áp đảo đối với càng nhiều quốc gia trên thế giới càng tốt.

Tương tự như Anh Quốc vào cuối Thế Chiến thứ hai, Hoa Kỳ cũng đã tìm mọi cách duy trì một đế quốc không bao giờ cần thiết và cũng không còn đủ khả năng để cáng đáng, sử dụng các phương pháp thường giống như các đế quốc đã từng thất bại trong quá khứ — kể cả các cường quốc phe Trục trong Đệ Nhị Thế Chiến và Liên Bang Xô Viết trước đây.

Một bài học quan trọng cho Hoa Kỳ có thể tìm thấy trong quyết định năm 1945 của Anh Quốc, khởi đầu thanh toán hệ thống đế quốc một cách tương đối tự nguyện, thay vì do thất bại trong chiến tranh như Nhật và Đức, hay do các xung đột bắt nguồn từ chủ nghĩa thực dân đã làm suy yếu các mẫu quốc như Pháp và Hòa Lan. Hoa Kỳ nên noi theo gương người Anh. Chẳng may, người Anh hiện nay đang đi lùi vì noi gương Hoa Kỳ qua việc hậu thuẩn người Mỹ trong cuộc chiến Afghanistan.

Sau đây là ba nguyên nhân căn bản tại sao người Mỹ cần phải thanh lý hệ thống đế quốc của mình, ngược lại chính Hoa Kỳ sẽ bị phá sản.

Nguyên Nhân Thứ Nhất: Người Mỹ Không Còn Có Thể Theo Đuổi Chủ Nghĩa Bành Trướng Hậu Chiến

Ngay sau khi đắc cử tổng thống, Barack Obama, trong bài nói chuyện loan báo vài thành viên trong nội các mới, đã tuyên bố: “Chúng ta phải duy trì lực lượng quân sự mạnh nhất hành tinh.”[1] Một vài tuần lễ sau, ngày 12-3-2009, trong bài nói chuyện tại Đại Học Quốc Phòng ở Washington D.C., một lần nữa, tổng thống đã nhấn mạnh: Bây giờ, xin đừng hiểu lầm, Hoa Kỳ sẽ duy trì một lực lượng quân sự áp đảo. Chúng tôi sẽ có một quân lực hùng mạnh nhất trong lịch sử thế giới.”[2] Và trong bài diễn văn đọc trước các học viên sĩ quan Viện Hàn Lâm Hải Quân Hoa Kỳ vào ngày 22-5, Obama cũng đã lặp lại “Chúng ta sẽ duy trì địa vị thống trị quân sự của Hoa Kỳ và đào tạo các bạn như lực lượng chiến đấu tốt nhất, thế giới chưa bao giờ thấy.”[3]

Điều Obama đã không thể ghi nhận là Hoa Kỳ không còn có đủ khả năng duy trì địa vị bá chủ toàn cầu, và nghĩ ngược lại là tự chuốc lấy tai họa.

Một số ngày một đông các kinh tế gia và các nhà khoa học chính trị trên khắp thế giới đã đồng thuận, Hoa Kỳ không thể nào tiếp tục giữ địa vị thống trị trong khi ngày một tỏ rõ hình ảnh một cường quốc kinh tế què quặt bại liệt.

Chưa một đại cường nào đã có thể duy trì một địa vị như thế lâu dài trong lịch sử chủ nghĩa đế quốc. Robert Pape, thuộc Đại Học Chicago, tác giả công trình nghiên cứu quan trọng với nhan đề Dying to Win: The Strategic Logic of Suicide Terrorism, [Random House, 2005], đã viết:

“Hoa Kỳ đang suy sụp một cách vô tiền khoáng hậu. Các chấn thương tự tạo với cuộc chiến Iraq, công trái ngày một gia tăng, các cân thương mãi hữu hình ngày một khuy khiếm hay tiêu cực và các nhược điểm kinh tế nội bộ khác, đã làm mất thực quyền của Hoa Kỳ trong tình hình tri thức và kỹ thuật phổ biến và lan tràn nhanh chóng trong thế giới ngày nay. Nếu khuynh hướng hiện nay tiếp tục, chúng ta sẽ nhìn lại những năm thời Bush như tiếng chuông báo tử của quyền bá chủ Hoa Kỳ.”[4]

Có một cái gì đó phi lý ở đây, ngay cả có vẻ bóp méo sự thật hay xuyên tạc, đối với đế quốc quân sự Hoa Kỳ. Jay Barr, một luật sư chuyên về vỡ nợ, đã nói đến điều nầy, sử dụng phép loại suy sâu sắc:

“Dù để thanh lý hay tái tổ chức, một con nợ muốn được bảo vệ khi vỡ nợ phải cung cấp một bảng liệt kê các chi phí, nếu hợp lý, sẽ được trừ vào lợi tức để phần khả dụng giới hạn hơn còn lại có thể dùng để trả cho chủ nợ. Giờ đây, thử tưởng tượng một người đang làm hồ sơ thanh lý hay vỡ nợ, với lý do anh ta không thể trả nợ vì lẽ còn phải thanh toán một số chi phí khổng lồ để duy trì ít ra 737 căn cứ ở các nước ngoài, những cơ sở không mang lại một lợi nhuận nào trên số đầu tư lớn lao cần thiết cho việc duy trì các cơ sở đó… Anh ta không thể nào hội đủ điều kiện để được bảo vệ bởi thủ tục vỡ nợ, mà không phải trao các tích sản cho các trái chủ, kể cả các bất động sản hải ngoại quý giá trên đó các cơ sở của anh đang tọa lạc.”[5]

Nói một cách khác, Hoa Kỳ không hề xem xét một cách nghiêm chỉnh tình trạng vỡ nợ của chính mình. Thay vào đó, nước Mỹ đang tảng lờ ý nghĩa của đà suy sụp kinh tế nhanh chóng và đang đùa giỡn với chính tình trạng vỡ nợ của mình.

Nick Turse, tác giả cuốn The Complex: How the Military Invades Our Everyday Lives [Metropolitan Books, 2008]), đã làm con tính: chúng ta có thể kiếm được 2,6 tỉ USD nếu bán các tích sản tại căn cứ Diego Garcia trong vùng Ấn Độ Dương, và 2,2 tỉ USD nếu bán Vịnh Guantanomo ở Cuba. Đó chỉ là 2 trong số 800 cơ sở khổng lồ.

Sự kiện Hoa Kỳ hiện chưa sẵn sàng cắt giảm, nói gì đến thanh lý, phản ảnh một thất bại lịch sử đáng ngạc nhiên trong khả năng tưởng tượng. Trong cuộc công du chính thức đầu tiên đến Trung Quốc kể từ khi trở thành Bộ Trưởng Ngân Khố, Timothy Geithner đã trấn an một cử tọa sinh viên tại Đại Học Bắc Kinh, “Các tích sản của Trung Quốc [đầu tư ở Hoa Kỳ] là rất an toàn.”[6] Theo tường trình của báo chí, các sinh viên đã phá lên cười đáp ứng. Một phản ứng đầy ý nghĩa.

Tháng 5-2009, Cơ Quan Quản Lý và Ngân Sách đã tiên đoán, trong năm 2010, Hoa Kỳ sẽ phải gánh chịu một khiếm hụt ngân sách ít nhất lên tới 1.750 tỉ USD. Đó là chưa kể khoảng 640 tỉ ngân sách của Ngũ Giác Đài, và phí tổn của hai cuộc chiến tốn kém khác. Tổng số lớn đến mức sẽ phải mất vài thế hệ để nhân dân Hoa Kỳ có thể thanh toán các tổn phí của các cuộc phiêu lưu mang tính đế quốc của George W. Bush — nếu một lúc nào đó người Mỹ có thể hay sẽ hoàn trái. Tổng số nợ chiếm lối 13% GDP, giá trị của mọi hàng hóa và dịch vụ người Mỹ sản xuất trong một năm. Để dễ so sánh, tưởng cũng nên ghi nhận mục tiêu đòi hỏi các quốc gia Âu châu muốn tham gia vào Khu Vực Đồng Euro là số khiếm hụt phải dưới 3% GDP.

Cho đến thời điểm nầy, Tổng Thống Obama đã loan báo những cắt xén không đáng kể, chỉ lên khoảng 8,8 tỉ USD — các chi tiêu phung phí về các loại vũ khí vô giá trị, kể cả hủy bỏ chiến đấu cơ F-22. Ngân sách thực sự của Ngũ Giác Đài năm 2010, trong thực tế, đã lớn hơn ngân sách tăng vọt cuối cùng trong kỷ nguyên George W. Bush. Những cắt xén táo bạo và lớn lao hơn trong các chi tiêu quốc phòng rõ ràng sẽ rất cần thiết trong một tương lai rất gần, nếu người Mỹ muốn duy trì một bề ngoài nghiêm chỉnh về thuế vụ.

Nguyên Nhân Thứ Hai: Hoa Kỳ Đang Thất Bại Trong Cuôc Chiến Afghanistan, Một Cuộc Chiến Sẽ Đưa Đến Vỡ Nợ

Một trong những sai lầm quan trọng của người Mỹ ở Afghanistan là đã không thể nhận chân đứng đắn kinh nghiệm của Anh Quốc và Liên Bang Xô Viết trong nỗ lực bình định Afghanistan trước đây, qua việc sử dụng cùng các phương pháp quân sự như người Mỹ hiện nay, và đã thất bại một cách tai họa. Người Mỹ hình như đã không học được gì từ lịch sử hiện đại của Afghanistan — đến mức ngay cả khi họ vẫn chưa quên lịch sử cận đại.

Thực vậy, giữa các năm 1849 và 1947, hầu như hàng năm Anh Quốc đều đã phải gửi quân đội viễn chinh đến bình định các bộ tộc Pashtun và các nhóm nhỏ hơn, sống ở những nơi lúc đó được gọi là Lãnh Thổ dọc Biên Giới Tây Bắc — khu vực dọc theo biên giới giả tạo giữa Afghanistan và Pakistan, mệnh danh là Đường Ranh Durand. Biên giới nầy đã được bộ trưởng ngoại giao của Anh Quốc đặc trách Ấn Độ, Sir Mortimer Durand, vạch ra năm 1893.

Cả Anh Quốc lẫn Pakistan chưa bao giờ thực sự kiểm soát được khu vực nầy. Như nhà sử học danh tiếng, Louis Dupree, đã ghi lại trong tác phẩm Afghanistan (Oxford University Press, 2002 trang 425):”Các bộ lạc Pashtun, sắc dân được xem như chuyên gia thiên phú về chiến tranh du kích sau nhiều thế kỷ chống ngoại xâm, và nội chiến khi không có ngoại xâm, đã gây tai họa cho các nỗ lực mở rộng Pax Britannica vào vùng rừng núi của chính họ.”[7] Khoảng 41 triệu dân Pashtun sinh sống trong một vùng không có ranh giới rõ ràng dọc theo Đường Ranh Durand và không phục tùng các chính quyền trung ương của cả Pakistan lẫn Afghanistan.

Khu vực ngày nay được biết như những Vùng Bộ Lạc thuộc quyền quản trị của Liên Bang Pakistan — Federally Administered Tribal Areas (FATA) of Pakistan — do Islamabad trực tiếp quản lý, khu vực, cũng như các quan chức đế quốc Anh trước đây đã làm, đã được phân chia thành bảy tiểu khu, mỗi tiểu khu dưới quyền một đại diện chính trị — political agent — với quyền hạn tương tự các đại diện chính trị trong kỷ nguyên thuộc địa. Thời đó cũng như hiện nay, phần đất FATA được biết như Waziristan của bộ tộc Pashtun, một bộ tộc luôn có khả năng đề kháng mãnh liệt nhất.

Theo Paul Fitzgerald và Elizabeth Gould, giàu kinh nghiệm về Afghanistan, đồng tác giả cuốn Invisible History: Afghanistan’s Untold Story (City Lights, 2009, trang 317):

“Nếu các quan chức ở Hoa Thịnh Đốn không còn nhớ lịch sử trong khu vực, nhân dân Afghanistan vẫn nhớ. Người Anh đã dùng không lực oanh tạc các thôn xã Pashtun sau Đệ Nhất Thế Chiến và đã bị lên án. Khi người Xô Viết sử dụng phi cơ MIGs và các trực thăng tác chiến Mi-24 Hind để tấn công trong thập kỷ 1980, họ đã bị gọi là những kẻ tội phạm. Khi Hoa Kỳ sử dụng hỏa lực áp đảo một cách bừa bãi và không nghĩ đến hậu quả, có nghĩa, coi thường ý thức công lý và đạo đức của thế giới — hậu quả: nhân dân Afghanistan và thế giới Hồi Giáo càng chống đối Hoa Kỳ nhiều hơn.”[8]

Năm 1932, trong một loạt các hành động tàn bạo, người Anh đã sử dụng hơi độc ở Waziristan. Hội nghị giải giới cùng năm đã tìm cách cấm chỉ mọi oanh tạc thường dân, nhưng Lloyd George, nguyên Thủ Tướng Anh Quốc trong Đệ Nhất Thế Chiến, đã tỏ ra thích thú: “Chúng tôi đã nhấn mạnh: tự dành quyền bỏ bom mọi da đen”[9] (Fitzgerald and Gould, trang 65).

Hoa Kỳ hiện đang hành động tương tự, nhưng với một biện minh mới: số dân thường tử vong bởi người Mỹ chỉ là “những thiệt hại phụ ngoài ý muốn,” hay do các”lỗi lầm thường tình,” collateral damage or human error. Sử dụng phi cơ không người lái với mức chính xác tối thiểu của các máy vi tính tại các căn cứ quân sự trong sa mạc Arizona và Nevada, trong số nhiều nơi khác, người Mỹ đã giết hại hàng trăm, có lẽ hàng nghìn, các người bàng quan không có vũ trang ở Pakistan và Afghanistan. Chính quyền Pakistan và Afghanistan đã nhiều lần cảnh cáo: người Mỹ rõ ràng đang đánh mất thiện cảm và làm cho người dân xa lánh trong khi rêu rao đang cứu giúp họ vì lý tưởng dân chủ.

Tháng 5-2009, sau khi được cử làm tư lệnh Afghanistan, Tướng Stanley McChrystal đã ban hành các giới hạn mới đối với các cuộc không kích, kể cả các cuộc không kích do CIA thực hiện, ngoại trừ trường hợp cần thiết để bảo vệ quân đồng minh. Chẳng may, như để chứng tỏ sự bất lực của dây chuyền chỉ huy, chỉ hai ngày sau khi có lệnh mới, ngày 23-6-2009, phi cơ drone của Hoa kỳ đã oanh kích một đám tang, sát hại ít nhất 80 nạn nhân, một cuộc tấn công đẩm máu nhất trên lãnh thổ Pakistan từ trước đến nay. Các cơ quan truyền thông dòng chính hay mạng lưới tin tức truyền hình hầu như chẳng mấy quan tâm đến các biến cố nầy. Vào thời điểm đó, hầu hết các cơ quan truyền thông hình như chỉ tập trung tường trình các cuộc phiêu lưu tình dục của viên Thống Đốc South Carolina và cái chết của ngôi sao nhạc pop Michael Jackson.

Các cuộc hành quân của Hoa Kỳ ở Pakistan và Afghanistan từ lâu đã chỉ gây tai họa vì tin tức tình báo thiếu chính xác và các thành kiến ý thức hệ: nên hậu thuẩn hay cần chống đối phe phái nào, cũng như những hiểu biết thiển cận về những gì hy vọng có thể thành đạt. Chẳng hạn, Fitzgerald và Gould đã chỉ trích, trái với sự chú tâm của ngành tình báo Hoa Kỳ vào Afghanistan, Pakistan từ lâu mới luôn là vấn đề. Họ dẫn chứng:

“Quân đội và Tình Báo Liên Ngành của Pakistan…từ năm 1973, đã giữ vai trò then chốt: tài trợ và hướng dẫn, trước hết là các chiến binh chống Xô Viết [mujahideen] trong suốt thập kỷ 1980, kế đến là phe Taliban. Chính quân đội Pakistan đang kiểm soát các vũ khí nguyên tử, chế ngự sự phát triển của các định chế dân chủ, huấn luyện các chiến binh Taliban về tấn công cảm tử và ra lệnh cho các chiến binh nầy chống đối lại quân đội Mỹ và NATO đang bảo vệ chính quyền Afghanistan.”[10] (tr.322-324)

Quân Đội Pakistan và cánh tình báo, một phần, đã được bổ sung với số tín đồ Hồi Giáo ngoan đạo, những thành phần hậu thuẩn Taliban ở Afghanistan, đủ để thỏa mãn nhu cầu thể hiện nghị trình riêng, mặc dù không nhất thiết nhằm tăng cường cuộc thánh chiến Hồi Giáo. Mục đích của họ luôn bao gồm: duy trì Afghanistan ở ngoài vòng ảnh hưởng của Nga hay Ấn Độ, cung cấp cơ sở huấn luyện và tuyển mộ du kích quân thánh chiến mujahideen để sử dụng ở những nơi như Kashmir (đang bị tranh giành bởi Pakistan và Ấn Độ), chế ngự phe Hồi Giáo cực đoan ở Afghanistan (và ngăn ngừa phe nầy xâm nhập Pakistan), và tìm kiếm những món tiền khổng lồ từ Saudi Arabia, các emirates Vùng Vịnh Ba Tư, và Hoa Kỳ để trả lương và huấn luyện các chiến sĩ tranh đấu vì tự do trong thế giới Hồi Giáo. Chính sách kiên định của Pakistan luôn là hậu thuẩn các chính sách thầm kín của Sở Tình Báo Liên Ngành và ngăn chặn ảnh hưởng của kẻ thù và cạnh tranh: Ấn Độ.

Đại tá hưu trí Douglas Mac Gregor, một cố vấn bên cạnh Trung Tâm Thông tin Quốc Phòng, tóm tắt một dự án xấu số ở Nam Á như sau: “Tất cả những gì chúng ta làm sẽ không thể buộc 125 triệu tín đồ Hồi Giáo ở Pakistan chia sẻ lý tưởng với Hoa Kỳ đang liên minh với chính quyền hai quốc gia rõ ràng chống đối Hồi Giáo: Do Thái và Ấn Độ.”[11]

Đợt tăng quân vào giữa năm 2009 ở phía Nam Afghanistan và nhất là ở Tỉnh Helmand, một căn cứ địa của Taliban, chẳng bao lâu đã tỏ rõ không mấy khác các đòi hỏi tăng quân liên tục ở Việt Nam của Tướng William Westmoreland, với lời hứa nếu người Mỹ tăng cường bạo lực thêm chút ít và chấp nhận thương vong cao hơn chút ít, Hoa Kỳ chắc chắn sẽ bẻ gảy ý chí của phe chống đối ở Việt Nam. Đây quả thật là một kết luận hoàn toàn sai lầm về bản chất cuộc chiến ở Việt Nam trước đây, cũng như ở Afghanistan hiện nay.

Hai mươi năm sau khi lực lượng Hồng Quân rút khỏi Afghanistan trong tủi hổ, viên tướng chỉ huy sau cùng của Nga, Tướng Boris Gromov, đã đưa ra lời tiên đoán: Tai họa sẽ đến với hàng nghìn binh sĩ Obama đang gửi tới đó, như đã từng xẩy ra cho Hồng Quân Liên Bang Xô Viết. Người Mỹ cần công nhận họ đang phung phí thì giờ, sinh mạng, và tài nguyên, trong một nơi họ không bao giờ hiểu được động lực chính trị và tiếp tục các lựa chọn sai lầm.

Nguyên Nhân Thứ Ba : Người Mỹ cần Chấm Dứt Nổi Nhục Bí Mật — Các Căn Cứ Đế Quốc của họ

Trong tháng 3-2010, Bob Herbert, bỉnh bút của Tờ New York Times, đã ghi nhận, “Hiếp dâm và các hình thức tấn công tình dục khác đối với phụ nữ là nổi nhục lớn của quân lực Mỹ. Không có dấu hiệu vấn đề ô nhục ghê rợn nầy, được giữ kín càng nhiều càng tốt, đang giảm bớt. Herbert nói tiếp: Các dữ kiện mới do Ngũ Giác Đài công bố đã cho thấy một gia tăng gần 9% trong số tấn công tình dục — 2923 — và 25% trong số tấn công do nữ quân nhân phục vụ tại Iraq và Afghanistan báo cáo [so với năm trước]. Thử tưởng tượng: một sự thật hết sức kỳ cục khi các nữ quân nhân trong quân phục Hoa Kỳ đang chịu nhiều áp lực phục vụ ngay tại chiến trường, còn phải âu lo tự vệ chống lại các tên sách nhiễu tình dục cùng đồng phục và hiện diện trong cùng đội hình ngay bên cạnh.”[12]

Vấn đề càng trầm trọng hơn khi quân đội Mỹ trong những căn cứ hải ngoại, thường sống gần dân bản địa và luôn rình rập nhòm ngó như những tên ngoại quốc xâm lăng. Chẳng hạn, bạo lực tình dục bởi lính Mỹ đối với nữ giới ở Okinawa, một quận nghèo nàn nhất ở Nhật, kể từ ngày bị thường trực chiếm đóng bởi các lực lượng bộ binh, thủy quân lục chiến, và không quân từ hơn 65 năm qua.

Hải đảo Okinawa là nơi đã chứng kiến các cuộc biểu tình chống Mỹ lớn nhất kể từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, sau vụ bắt cóc năm 1955, hãm hiếp, và mưu sát một nữ sinh 12 tuổi bởi hai quân nhân thủy quân lục chiến và một thuỷ thủ. Vấn đề hãm hiếp đã luôn diễn ra khắp nơi chung quanh các căn cứ quân sự trên mọi lục địa và có lẽ đã góp phần vào tình trạng người Mỹ bị thù ghét ở hải ngoại không kém các chính sách của chính quyền Bush hay chính sách khai thác kinh tế và vơ vét nguyên liệu của các xứ nghèo khó nói chung.

Giới quân sự đã không làm gì để bảo vệ các nữ quân nhân hay để bảo vệ quyền của các thường dân bàng quan vô tội, buộc lòng phải sinh sống bên cạnh các quân nhân kỳ thị chủng tộc, luôn cướp bóc trấn lột. Theo Herbert, hồ sơ truy tố các quân nhân hãm hiếp không những tồi tệ, mà còn tàn nhẫn. Trong những vùng lãnh thổ do quân đội Hoa Kỳ chiếm đóng, bộ tư lệnh cao cấp và Bộ Ngoại Giao luôn cố gắng thành đạt những gì mệnh danh là các Thỏa Ước về Quy Chế Quân Đội (Status of Forces Agreements hay SOFAs) nhằm ngăn ngừa chính quyền sở tại giành quyền tài phán đối với quân nhân chiếm đóng phạm tội ở hải ngoại. Các SOFA cũng giúp làm dễ dàng cho giới quân sự kín đáo di chuyển các quân nhân phạm tội ra khỏi một xứ trước khi bị nhà cầm quyền địa phương bắt giữ.

Đề tài nầy đã được làm sáng tỏ bởi trường hợp một giáo sư Úc, một thường trú nhân ở Nhật, người đã bị hiếp trong năm 2002 bởi một thủy thủ từ hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk, lúc đó đang đặt căn cứ tại cơ sở hải quân Yokosuka. Cô giáo đã nhận diện được phạm nhân và đã báo cáo với nhà chức trách Nhật và Hoa Kỳ. Thay vì bắt giữ và truy tố phạm nhân, cô giáo lại bị cảnh sát Nhật quấy nhiễu và làm nhục. Trong khi đó, Hoa Kỳ đã cho phạm nhân giải ngũ khỏi Hải Quân và giúp can phạm di chuyển về Mỹ sinh sống, và nhờ đó đã lẫn tránh luật pháp Nhật.

Trong quá trình tìm kiếm công lý, cô giáo Úc đã khám phá, 50 năm trước đó, vào tháng 10-1953, hai chính quyền Nhật-Mỹ đã ký một SOFA theo đó Nhật đã đồng ý khước từ thẩm quyền tài phán của mình nếu tội phạm không có tính “nghiêm trọng quốc gia đối với Nhật”. Người Mỹ đã đưa ra đủ thứ luận cứ để giành cho bằng được điều khoản nầy, vì nếu ngược lại, Hoa Kỳ sẽ phải đối diện với thực tế khoảng 350 quân nhân mỗi năm phải chịu án tù của Nhật về tội phạm tình dục.

Kể từ đó, Hoa Kỳ đã thương thảo các SOFA tương tự với Canada, Ireland, Italy, và Denmark. Handbook of the Law of Visiting Forces (2001) đã tiết lộ, điều khoản đạt được với Nhật Bản đã trở thành mẫu mực cho các SOFA trên khắp thế giới, với hệ lụy tương tự. Riêng ở Nhật, trong số 3.184 quân nhân đã phạm tội từ 2001 đến 2008, 83% đã không bị truy tố. Ở Iraq, người Mỹ cũng đã ký một SOFA tương tự với SOFA hậu chiến đầu tiên với Nhật: nói một cách khác, các quân nhân và các nhà thầu quân sự phạm tội [ngoài nhiệm vụ] sẽ do nhà cầm quyền Mỹ giam giữ trong thời gian người Iraq điều tra. Đã hẳn thời gian tạm giữ nầy là cơ hội tốt nhất để di chuyển phạm nhân ra khỏi Nhật, nhằm tránh bị bắt giữ và buộc tội bởi chính quyền sở tại.

Bên trong giới quân sự, nhà báo Dahr Jamail, tác giả cuốn Beyond the Green Zone: Dispatches from an Embedded Journalist in Occupied Iraq (Haymarket Books, 2007), đã nói đến “văn hóa các vụ tấn công tình dục không bị trừng phạt” [13] và con số các vụ hãm hiếp và các hình thức tấn công tình dục khác bị truy tố ra trước tòa án mặt trận luôn cực thấp đến gây sốc. Helen Benedict, tác giả cuốn The Lonely Soldier: The Private War of Woman Serving in Iraq (Beacon Press, 2009), đã trích dẫn các con số thống kê trong một tường trình của Ngũ Giác Đài năm 2009 về các vụ tấn công tình dục của giới quân sự: 90% các vụ hãm hiếp trong quân đội không bao giờ được báo cáo, và khi được báo cáo, hậu quả đối với các phạm nhân cũng không đáng kể.

Công bằng mà nói, giới quân sự Hoa Kỳ đã tạo ra một sân chơi tình dục khắp thế giới cho quân nhân và luôn bảo vệ các binh sĩ can phạm tránh các hậu quả của các tội phạm tình dục.

Theo Charmers Johnson, một giải pháp tốt đẹp hơn có thể là giảm thiểu tối đa kích cỡ của quân đội, và hồi hương quân sĩ khỏi những xứ nơi họ không am hiểu môi trường và được huấn luyện một lối tư duy: dân bản xứ luôn thấp kém hơn họ.

Mười Bước Hướng Đến Thanh Toán Đế Quốc

Đã hẳn, tháo gở mạng lưới các căn cứ quân sự mang tính đế quốc ở hải ngoại, ngay cả khi thực sự ước muốn, cũng đòi hỏi một quá trình hoạch định lâu dài. Để bắt đầu, Charmers Johnson đã gợi ý 10 bước căn bản cần thực hiện càng sớm càng tốt:

(1) Các căn cứ quân sự khắp hành tinh cần ngưng mọi hoạt động phá hoại nghiêm trọng đối với môi trường. Người Mỹ cũng cần chấm dứt sử dụng các SOFA nhằm tránh mọi trách nhiệm thu dọn sau khi gở bỏ.

(2) Gở bỏ đế quốc sẽ chấm dứt gánh nặng duy trì hệ thống các căn cứ và “phí tổn cơ hội”đi kèm [những gì lẽ ra người Mỹ đã có thể thành đạt với tài nguyên nhân vật lực của chính mình].

(3) Như mọi người đều biết, chủ nghĩa đế quốc thường đưa đến tra tấn và nhục hình. Trong thập kỷ 1960 và 1970, người Mỹ đã lật đổ các chính quyền dân cử ở Brazil và Chí Lợi và hậu thuẩn các chế độ tra tấn tàn nhẫn trước khi tự họ đã đối xử tương tự với các tù nhân ở Iraq và Afghanistan. Dẹp bỏ đế quốc có thể còn có nghĩa một dứt điểm thực sự đối với thành tích sử dụng các hình thức tra tấn nhục hình ở hải ngoại.

(4) Người Mỹ cần giảm thiểu số người đi theo các căn cứ quân sự ra hải ngoại: các thân nhân, nhân viên dân sự của Bộ Quốc Phòng, những con buôn vụ lợi, các cơ sở y tế tốn kém, nhu cầu nhà cửa, hồ tắm, câu lạc bộ, các sân golf…thường đi kèm với các căn cứ quân sự trên khắp thế giới.

(5) Người Mỹ cần gạt bỏ câu chuyện hoang đường do tập đoàn kỹ nghệ-quân sự tán tụng: guồng máy quân sự rất có lợi cho Hoa Kỳ, như tạo công ăn việc làm, thúc đẩy các nghiên cứu khoa học và quốc phòng. Những lợi điểm giả tưởng nầy từ lâu đã bị các công trình nghiên cứu kinh tế nghiêm túc phủ nhận. Ngược lại, chấm dứt chính sách đế quốc sẽ giúp đem lại những lợi điểm vừa kể.

(6) Như một quốc gia dân chủ biết tự trọng, Hoa Kỳ cần chấm dứt vai trò một xứ xuất khẩu vũ khí, huấn luyện giới quân sự trong thế giới thứ ba về kỹ thuật tra tấn, đảo chánh, dịch vụ đánh giặc thuê theo đúng chủ nghĩa đế quốc của chính mình. Một định chế cần đóng cửa càng sớm càng tốt là School of the Americas, viện hàn lâm quân sự của Quân Lực Hoa Kỳ ở Fort Benning, Georgia, nhằm đào tạo các sĩ quan quân đội cho các xứ Châu Mỹ Latin, (Chalmers Johnson, The Sorrows of Empire [Metropolitan Books, 2004],tr. 136-40.)

(7) Với tình trạng khiếm hụt ngân sách liên bang trầm trọng hiện nay, người Mỹ cần hủy bỏ chương trình Reserve Officers’ Training Corps và các chương trình liên hệ khác, nhằm phát huy chủ nghĩa quân sự trong các trường học Hoa Kỳ.

(8) Người Mỹ cần phục hồi kỷ luật và tính trách nhiệm trong quân đội qua việc giảm thiểu tối đa sự lệ thuộc vào các nhà thầu quân sự, các công ty quân sự tư nhân, và các đại diện trung gian làm việc bên ngoài dây chuyền chỉ huy và Bộ Luật Công Lý Quân Sự. Dứt bỏ chính sách đế quốc có thể thành đạt điều nầy.

(9) Người Mỹ cần giảm thiểu kích cỡ quân đội và cải thiện chương trình săn sóc, chữa trị các thương binh, những thành phần đã phải trải nghiệm quá nhiều áp lực ngoài chiến trường.

(10) Người Mỹ cần từ bỏ tình trạng lệ thuộc vào quân lực như phương tiện chính yếu nhằm thành đạt các mục tiêu đối ngoại.

Chẳng may, rất ít đế quốc trong quá khứ tự mình đã chịu từ bỏ các thuộc địa và chư hầu dưới quyền. Hai thí dụ quan trọng gần đây nhất là đế quốc Anh và Xô Viết. Nếu người Mỹ không học được bài học kinh nghiêm của hai đế quốc nầy, sự suy đồi và sụp đổ của Mỹ sẽ rất khó tránh.

Nguyễn Trường

Irvine, California, USD

22-11-2013

Chú Thích: Bài viết phỏng theo tác phẩm cuối đời của Charmers Johnson: Dismantling the Empire: America’s Last Best Hope (2010).

——————————————————————————–

[1] …We have to maintain the strongest military on the planet.

[2] Now make no mistake, this nation will maintain our military dominance. We will have the strongest armed forces in the history of the world.

[3] …We will maintain America’s military dominance and keep you the finest fighting force the world has ever seen.

[4] America is in unprecedented decline. The self-inflicted wounds of the Iraq war, growing government debt, increasingly negative current-account balances and other internal economic weaknesses have cost the United States real power in today’s world of rapidly spreading knowledge and technology. If present trends continue, we will look back on the Bush years as the death knell of American hegemony.

[5] Whether liquidating or reorganizing, a debtor who desires bankruptcy protection must provide a list of expenses, which, if considered reasonable, are offset against income to show that only limited funds are available to repay his debts because he had the astronomical expense of maintaining at least 737 facilities overseas that provide exactly zero return on the significant investment required to sustain them… He could not qualify for liquidation without turning over many of his assets for the benefit of creditors, including the valuable foreign real estate on which he placed his bases.

[6] Chinese assets [invested in the United States] are very safe.

[7] Pashtun tribes, almost genetically expert at guerrilla warfare after resisting centuries of all comers and fighting among themselves when no comers were available, plagued attempts to extend the Pax Britannica into their mountain homeland.

[8] If Washington’s bureaucrats don’t remember the history of the region, the Afghans do. The British used air power to bomb these same Pashtun villages after World War I and were condemned for it. When the Soviets used MIGs and the dreaded Mi-24 Hind helicopter gunships to do it during the 1980s, they were called criminals. For America to use its overwhelming firepower in the same reckless and indiscriminate manner defies the world’s sense of justice and morality while turning the Afghan people and the Islamic world even further against the United States.

[9] We insisted on reserving the right to bomb niggers.

[10] Pakistan’s army and its Inter-Services Intelligence branch… from 1973 on, has played the key role in funding and directing first the mujahideen [ anti-Soviet fighters during 1980s] and then the Taliban. It is Pakistan’s army that controls its nuclear weapons, constrains the development of democratic institutions, trains Taliban fighters in suicide attacks and orders them to fight American and NATO soldiers protecting the Afghan government.

[11] Nothing we do will compel 125 million Muslims in Pakistan to make common cause with the United States in league with two states that are unambiguously anti-Muslim: Israel and India.

[12] Rape and other forms of sexual assault against women is the great shame of the U.S. armed forces, and there is no evidence that this ghastly problem, kept out of sight as much as possible, is diminishing. New data released by the Pentagon showed an almost 9% increase in the number of sexual assaults — 2923 — and a 25% increase in such assaults reported by women serving in Iraq and Afghanistan [over the past year]. Try to imagine how bizarre it is that women in American uniforms who are enduring all the stresses related to serving in a combat zone have to also worry about defending themselves against rapists wearing the same uniform and lining up in formation right beside them.

[13] …culture of unpunished sexual assaults …

——————————————————————————–

Advertisements