WILLIAM BRENNAN, CHẾ ĐỘ TÀI PHIỆT, CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ

Năm 1987, Bill Moyers gặp Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện, William Brennan, khi đang thực hiện một loạt các xuất truyền hình mang tên “Đi Tìm Hiến Pháp” — In Search of the Constitution, nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày Hoa Kỳ lập quốc.

Vào khoảng thời gian đó, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện William Brennan cũng đã phục vụ lâu hơn bất cứ đồng viện nào, và là tác giả của gần 500 quan điểm đa số quan trọng, phần lớn liên quan đến các vần đề cơ bản như bình đẳng, quyền bầu phiếu, phân biệt chủng tộc trong học đường, và đặc biệt trong vụ “New York Times v. Sullivan” — bảo vệ tự do báo chí.

Những phán quyết nầy đã mang lại cơn bảo chống đối trên khắp nước Mỹ. Tuy vậy, Brennan đã cho biết chưa bao giờ tự cảm thấy khó chịu hay tức giận trước các phản kháng giận dữ đối với chính ông. Nhưng sau đó, ông cũng đã tiết lộ, chính mẹ ông đã nói với ông: trước kia bà luôn ưa thích các quan điểm của ông khi ông còn làm việc tại tòa New Jersey, nhưng nay ông đang phục vụ tại Tối Cao Pháp Viện, “tại sao ông không thể tiếp tục làm tương tự?” Và ông đã trả lời: “Chúng ta phải làm tròn trách nhiệm — thực thi các quyền hạn có lợi cho thiểu số, dù phản ứng của phe đa số có thể ra sao chăng nữa.”[1]

Mặc dù thuộc phe tự do, Brennan vẫn luôn âu lo về kích cỡ ngày một lớn dần của chính quyền. Khi ông nhắc đến khoa học ngày nay có thể đang tạo ra “một Frankenstein,” Bill Moyers đã hỏi, “Vậy thì sao?” Brennan nhìn quanh các phòng làm việc của các thẩm phán và trả lời, “Ngay câu chuyện của chúng ta bây giờ cũng có thể được nghe lén. Khoa học đã làm nhiều điều, như tôi hiểu, khiến qua các màn rủ và các cửa sổ kia cũng có thể cài đặt một cái gì đó ở đây để ghi lại những gì chúng ta đang bàn luận.”[2]

Đó là thời kỳ trước kỷ nguyên mạng lưới vi tính toàn cầu cũng như nhà nước giám sát tối đa và ngày một bừa bãi của chính quyền Hoa Kỳ. Ước gì Brennan vẫn còn làm việc với ngành tư pháp!

Đây là một trong loạt 12 xuất phỏng vấn về Hiến Pháp. Một cuộc phong vấn khác liên quan đến một vụ do Brennan thụ lý vào năm 1967 — một giáo sư tên Harry Keyishian đã bị sa thải vì đã từ chối ký vào lời thề trung thành với Bang New York. Thẩm phán Brennan đã phán quyết: lời thề trung thành và các pháp chế chống phá hoại khác của chính quyền tiểu bang trong kỷ nguyên đó đã vi phạm các bảo vệ của Đệ Nhất Tu Chính Án về tự do hàn lâm.

Moyers đã tìm gặp và phỏng vấn Keyishian. Và Thẩm phán Brennan cũng đã xem chương trình phỏng vấn và bị thu hút khi được thấy chính người được nêu tên trong phán quyết của mình. Nhà báo Nat Hentoff, luôn theo dõi công việc của Brennan, đã viết, “[Brennan] có thể đã rất ít khi được thấy bất cứ người tranh tụng nào hiện diện, nhưng ông luôn tìm hiểu các người tranh tụng trong những vụ do chính ông xét xử.” Sau khi xem chương trình phỏng vấn Keyishian, Brennan đã cho biết: “Đây là lần đầu tiên tôi được thấy chính con người thật được nêu tên trong vụ tranh tụng. Cho đến lúc đó, tôi không có một ý tưởng gì về Keyishian và các giáo sư khác, những người đã có thể mất mọi thứ nếu nội vụ đã được phán quyết trái ngược.”[3]

Vào cuối nhiệm kỳ, khi ông đã là tác giả của nhiều quan điểm bất đồng hay thiểu số trong Tối Cao Pháp Viện dưới thời Rehnquist (Rehnquist Court), và khi được hỏi ông có bất mãn hay không? Brennan cười và đáp: ” Bạn hãy xem, chúng ta luôn biết và các Nhà Lập Quốc đã biết, tự do là một thứ mong manh dễ vỡ. Bạn không thể bỏ cuộc.” Và Brennan đã không bỏ cuộc.

GIỚI TÀI PHIỆT VÀ CÁC DÒNG TIỀN ĐEN TỐI

Sử gia Plutarch từ lâu đã cảnh cáo nguy cơ: quyền lực của giai cấp tài phiệt sẽ có thể làm băng hoại định chế cử tri, nếu không có sự hiện diện của các kiềm hãm pháp lý cần thiết. Plutarch đã viết về Rome: “hiện tượng lạm dụng sự mua bán lá phiếu đã len lỏi vào [guồng máy chính quyền], và đồng tiền đã bắt đầu giữ một vai trò quan trọng trong việc quyết định kết quả các cuộc bầu cử. Về sau, hiện tượng tham nhũng đã lan rộng trong hệ thống tòa án, quân đội, và cuối cùng, khi ngay cả lưỡi kiếm cũng đã trở thành nô lệ của quyền lực kim loại, thể chế cộng hòa đã bị đặt dưới quyền ngự trị của các hoàng đế.”[4]

Người Mỹ chưa có hoàng đế, nhưng người Mỹ đang có Tối Cao Pháp Viện Roberts (Roberts Court) luôn ưu đãi giai cấp cho tiền.

Người Mỹ chưa có hoàng đế, nhưng người Mỹ đang có một Thượng Viện trong đó, như một nghiên cứu bởi nhà khoa học chính trị Larry Bartels đã tiết lộ, “các Thượng Nghị Sĩ chứng tỏ luôn sẵn sàng đáp ứng các ý kiến của giới cử tri nhà giàu nhiều hơn là đối với ý kiến các cử tri thuộc giai cấp trung lưu, trong khi ý kiến của các cử tri thuộc giai cấp chiếm 1/3 tổng lợi tức phân phối dưới đáy không có một tác động thống kê nào đối với các lá phiếu của các nghị sĩ của họ.”[5]

Người Mỹ chưa có hoàng đế, nhưng họ đang có một Hạ Viện do cánh cực hữu kiểm soát, một cánh hiện được nuôi dưỡng bởi các dòng tiền đen tối được buông lỏng nhờ ở các tặng phẩm của Tối Cao Pháp Viện dành cho người giàu qua các phán quyết “The Citizens United.”

Người Mỹ chưa có hoàng đế, nhưng một trong hai đảng chính trị chính yếu hiện đang chịu sự chi phối áp đảo của giới cực đoan đang ở trong tình trạng thánh chiến đàn áp cử tri, giới già, giới trẻ, các sắc dân thiểu số, và giới nhà nghèo; trong khi đảng còn lại — từng là vô địch của giới cực lực lao động suốt ngày — cũng đã suy nhược qua thực tế cộng tác với giới cho tiền đến độ chỉ còn có thể đề kháng lấy lệ trước các lực lượng đã làm người Mỹ bình thường mất hết tinh thần.

Viết trong báo the Guardian gần đây, nhà phê bình xã hội George Monbiot đã bình luận: “Vì vậy, tôi không chỉ trích người dân đang từ bỏ chính trị… Khi mối quan hệ quyền lực giữa Nhà Nước và Các Đại Công Ty đã qua mặt dân chủ và coi thường định chế bầu cử, khi một hệ thống chính trị không được cải cách đang bảo đảm các đảng phái có thể được mua đi bán lại, khi các chính trị gia [của các chính đảng chính yếu ] chỉ biết đứng nhìn các dịch vụ công đang bị các phe đảng bẩn thỉu đem ra chia chác, và như vậy, hệ thống còn lại được gì để có thể đem lại cảm hứng cho chúng ta tham dự?”[6]

Tại sao những con số kỷ lục người Mỹ lại phải sống nhờ vào phiếu thực phẩm cứu trợ? Bởi lẽ những con số kỷ lục người Mỹ đang phải sống trong cảnh nghèo nàn. Tại sao nhiều người lại phải rơi xuống các kẽ hở rạn nứt? Vì lẽ cò nhiều chỗ rạn nứt để lọt qua. Quả thật đây là điều đơn thuần gây ngạc nhiên, khi trong một quốc gia giàu có như Hoa Kỳ mà vẫn có hơn 21 triệu người vẫn còn phải đi tìm việc làm toàn thời gian, với đa số trong bọn họ đã tận dụng thời hạn được hưởng trợ cấp thất nghiệp, trong lúc đó giới tài chánh đã nhét túi những số doanh lợi kỷ lục, chi tiêu phung phí trong các cuộc vận động đem lại một trật tự chính trị nhằm phục vụ quyền lợi riêng tư của mình, và đòi hỏi giới làm chính trị phải thể hiện chính sách kiệm ước sâu xa hơn nữa. Trong lúc đó, khoảng 46 triệu người Mỹ đang sống với mức hay dưới mức nghèo khó, và, với ngoại lệ của Romania, không một xứ phát triển nào có môt bách phân trẻ con nghèo đói cao hơn Hoa Kỳ. Tuy vậy, một nghiên cứu của các học giả thuộc các Đại Học Northwestern và Vanderbilt đã cho thấy rất ít sự hỗ trợ trong giới những người Mỹ giàu có đối với các cải cách chính sách nhằm giảm bớt tình trạng bất bình đẳng lợi tức.

NHỮNG ĐẶC QUYỀN GIAI CẤP

Các bạn hãy lắng nghe! Tiếng động đang âm vang là tiếng xé nát khế ước xã hội.

Mười năm trước đây, tạp chí the Economist — chưa từng có cảm tình với chủ nghĩa Marxism — đã cảnh cáo: “Hoa Kỳ đang đối diện với nguy cơ xơ cứng và trở thành một xã hội cơ sở trên giai cấp kiểu Âu Châu.”[7] Và như một nhan đề gần đây trong tạp chí Columbia Journalism Review đã nói lên: “Đường ranh giữa dân chủ và một trật tự xã hội đen tối hơn hiện rất mong manh hơn các bạn nghĩ rất nhiều.”[8]

Người Mỹ đang tiến gần đến nguy cơ đánh mất thể chế dân chủ cho tầng lớp tham lam vụ lợi. Gần đến độ họ như đang đứng cheo leo bên bờ Grand Canyon và chỉ cần một cử chỉ đẩy nhẹ cũng đủ để rơi xuống vực thẳm.

Khi Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Brennan và Bill Moyers nói chuyện riêng trong văn phòng trước cuộc phỏng vấn cách đây gần 20 năm, Moyers đã hỏi Brennan ông đã đến với lập trường tự do như thế nào? Brennan đã trả lời, “Đó là láng giềng của tôi.”[9] Ra chào đời trong một gia đình nhập cư Ái Nhĩ Lan năm 1906, vì những tũi nhục cay nghiệt trong thời đại vàng son “Gilded Age” đã đem lại khó khăn và thiếu thốn cho gia đình và láng giềng, Brennan đã phải chứng kiến mọi khổ đau — người dân đã phải luôn tranh đấu. Ông không bao giờ quên được họ hay sự tranh đấu của họ. Và Brennan tin: trách nhiệm tập thể của người Mỹ là phải tạo dựng một xứ sở nơi đó mọi công dân đều có được cơ may đồng đều với một đời sống tử tế. Ông nói: “Nếu bạn không tin, xin bạn hãy đọc kỷ Lời Mở Đầu [của Hiến Pháp].”[10]

Rồi Brennan quay lại hỏi, Bill Moyers đã đến với triết lý của mình về chính quyền như thế nào (vốn đã biết sẵn Bill Moyers đã làm việc trong hai chính quyền Kennedy và Johnson)?

Không nhớ rõ lời mình nói, nhưng Moyers đã nhắc lại với Brennan: Moyers đã ra chào đời vào giữa cuộc Đại Khủng Hoảng; một trong song thân đã phải bỏ ngang việc học giữa năm học lớp 4, và người kia lúc còn học lớp 8, vì đều phải giúp gia đình gặt hái bông vải để kiếm sống.

Bill Moyers còn nhớ, Franklin Roosevelt đã là tổng thống trong khoảng thời gian 11 năm đầu cuả đời mình. Thân phụ của Moyers luôn nghe chương trình radio “fireside chats” không khác gì khi nghe thánh kinh; anh của Moyers đã theo học đại học với chương trình G.I. Bill; và chính Moyers đã thụ hưởng các dịch vụ công như trường công lập, thư viện công cộng, công viên, công lộ, và hai đại học công. Vì vậy, Moyers đã luôn nghĩ: những gì tốt với ông cũng tốt với những người khác.

Đó là cốt lõi những gì Moyers đã nói với Justice Brennan. Ngày nay, Moyers rất mong muốn được nói chuyện với Brennan môt lần nữa, vì lẽ trước đây Moyers đã quên nhắc tới bài học quan trọng nhất về dân chủ Moyers đã học được: Vào ngày sinh nhật thứ 16 của mình trong năm 1950, Moyers đã đi làm cho một nhật báo trong một thành phố nhỏ ở miền Đông Texas, nơi ông đang lớn lên. Đây là một thành phố phân biệt chủng tộc — khoảng 20,000 dân, một nửa da trắng, một nửa da đen — một nơi bạn có thể lớn lên, được yêu thương, được học hành, đi nhà thờ đều đặn, và vẫn chẳng biết gì về đời sống của những người khác chỉ ở xa đó một vài khu phố. Dù sao, đó cũng là một chỗ tốt cho một phóng viên mới vào nghề: đủ nhỏ để tiện đi lại, nhưng cũng đủ lớn để có thể giúp Moyers bận rộn và học hỏi được một điều gì mới mỗi ngày.

Chẳng bao lâu, Moyers gặp được vận may. Một số phóng viên lành nghề trong phòng tin tức hoặc nghỉ phép hoặc ốm đau, và Moyers được chỉ định viết phóng sự về cái được gọi là “Sự Nổi Loạn của các bà Nội Trợ” (Housewives’ Rebellion). Mười lăm phụ nữ trong thành phố (tất cả đều da trắng) đã quyết định không trả tiền thuế An Sinh Xã Hội được giữ lại từ tiền lương của các nhân công giúp việc trong nhà (tất cả đều da đen).

Họ đưa ra luận cứ: An Sinh Xã Hội đã vi hiến, áp đặt An Sinh Xã Hội là đánh thuế không được đại diện — taxation without representation, và — đây là phần thú vị đối với Moyers — “đòi hỏi chúng tôi phải thu [thuế an sinh xã hội] là không mấy khác đòi hỏi chúng tôi phải đi lượm rác thãi.”

Các bà đã mướn luật sư — không ai khác hơn là Martin Dies, Jr., nguyên dân biểu nổi danh, dù “tốt” dù “xấu”, do thành tích trong thời gian làm chủ tịch Ủy Ban các Hoạt Động Trái-Với-Mỹ (House Committee on Un-American Activities) trong suốt thời kỳ săn đuổi phù thủy (witch-hunting days — khủng bố các đối thủ chính trị) trong các thập kỷ 1930 và 1940. Họ đã đưa nội vụ ra tòa — và đã thất bại. Xét cho cùng, An Sinh Xã Hội đã được phán quyết hợp hiến. Các bà phải ôm hận và đã phải trả số thuế.

Các phóng sự của Moyers đã được Associated Press đăng tải trên toàn quốc. Và vào một ngày đẹp trời, biên tập viên quản lý, Spencer Jones, gọi Moyers vào văn phòng và chỉ vào AP ticker (Associated Press ticker) bên cạnh bàn giấy, một tin vắn ghi dấu bài phóng sự về “vụ Rebellion,” ghi rõ tên Moyers, và Moyers đã cắn câu. Sau một loạt hội luận về chính trị và chính quyền, Moyers đã được chỉ định phụ trách đề tài “chiến tranh giai cấp” từ đó.

Mười lăm phụ nữ ở Marshall, Texas, là những người tiền đạo. Không phải là những người xấu, họ luôn đi nhà thờ đều đặn, con cái của họ là bạn của Moyers, đa số đều tham gia các hoạt động cộng đồng, phu quân của họ là những thành phần chủ chốt trong giới doanh thương và chuyên nghiệp của thành phố. Họ là những công dân đáng kính và kiên cường. Vì vậy, Moyers đã phải mất một thời gian mới hiểu được nguyên do khiến họ đã có thái độ thách thức phản động vừa nói. Cuối cùng, một ngày khá lâu sau đó, Moyers mới chợt hiểu: họ đã đơn thuần không thể thấy gì ngoài những đặc quyền của chính họ.

Hăng say trung thành với gia đình, với các câu lạc bộ, các cơ quan từ thiện, và giáo phận — nói một cách khác, nhiệt liệt trung thành với phe nhóm những người như họ — họ đã định nghĩa một cách hẹp hòi thể chế dân chủ chỉ bao gồm những thành viên giống như họ. Những phụ nữ da đen giặt ủi áo quần cho họ, nấu thức ăn cho gia đình họ, chùi rửa phòng tắm, chăm sóc vệ sinh cho con cháu họ, làm giường cho chồng họ, những phụ nữ đó cũng ngày một già, yếu đuối, đau ốm, lụ khụ, mất chồng …, cũng phải đối diện với sức tàn phá của thời gian, với chẳng có gì nhiều còn sót lại từ một đời lao động lam lũ, ngoài những vết nhăn trên trán, những chai sạn trên chân tay… Chẳng có gì cho họ sống, ngoài những thù đáp lao động khiêm tốn được gói ghém trong mạng lưới an sinh xã hội.

CÔNG VIỆC CHƯA HOÀN TẤT CỦA HOA KỲ

Một cách nào đó, đây là câu chuyện xưa cũ nhất ở Hoa Kỳ: cuộc đấu tranh để quyết định “chúng ta, nhân dân” (we, the people) là một gói đạo lý được ghi đậm nét trong khế ước chính trị, hay chỉ là trò chơi chữ được ngụy trang như lòng ái quốc và bị giật dây bởi tầng lớp quyền lực và đặc quyền, để yểm trợ cho cách sống của giai cấp, phương hại cho quyền lợi của mọi người khác.

Trong thực tế, chẳng ai nuôi ý niệm lý tưởng hóa chính trị và dân chủ. Cũng chẳng ai có ý định lãng mạn hóa hay tiểu thuyết hóa “Nhân dân” (the people).

Nhưng cũng chẳng có gì được lý tưởng hóa hay lãng mạn hóa về sự khác biệt giữa một xã hội được tổ chức để phụng sự toàn bộ các công dân — một trật tự được biết như công bằng xã hội, và một xã hội với những định chế được biến đổi thành trò bịp bợm kỳ diệu. Đó có thể là sự khác biệt giữa dân chủ và tài phiệt.

Vào cuối nhiệm kỳ Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện, Brennan đã có một bài nói chuyện đi vào tâm điểm của vấn đề. Brennan nói:

“Chúng ta chưa có công lý, bình đẳng, và thực tế, đối với giới nghèo, đối với các thành viên của các sắc dân thiểu số, đối với giới bị cáo buộc tội phạm, đối với các người phải trôi dạt vì cách mạng kỹ thuật, đối với các thanh niên tha hóa vất vưởng, đối với đại chúng ở thị thành… Những bất công xấu xa vẫn tiếp tục làm nhem nhuốc bộ mặt của quốc gia. Chúng ta chắc chắn đang lúc một gần khởi điểm hơn là điểm cuối cùng của cuộc đấu tranh.”[11]

Đúng vậy! Cách đây 150 năm, Abraham Lincoln đã đứng trên chiến trường đẩm máu Gettysburg và đã kêu gọi nhân dân Hoa Kỳ phải hoàn thành nhiệm vụ lớn lao đang dang dở — the great task remaining. Nhiệm vụ đang dang dở vẫn còn nguyên vẹn vào lúc đó, cũng như khi thế hệ các nhà lập quốc Hoa Kỳ bắt đầu. Và nhiệm vụ đang dang dỡ vẫn còn y nguyên ngày nay: người Mỹ cần phải chuyền sức sống mới vào lời hứa của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, cần bảo lưu một Hiệp Chủng Quốc như nhiều thế hệ đã phải hy sinh để cứu vớt, và một Hiệp Chủng Quốc xứng đáng được bảo lưu.

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

18-12-2013

Chú Thích: Bài viết đã sử dụng dữ liệu lấy từ các xuất truyền hình công cộng của Bill Moyers, chủ tịch Schumann Media Center, và từ Brennan Center for Justice.

——————————————————————————–

[1] We have to discharge our responsability to enforce the rights in favor of minorities, whatever the majority reaction may be.

[2] The very conversation we’re now having can be overheard. Science has done things that, as I understand it, makes it possible through these drapes and those windows to get something in here that takes down what we’re talking about.

[3] “He [Justice Brennan] may have seen hardly any of the litigants before him, but he searched for a sense of them in the cases that reached him.” Watching the interview with Keyishian, he said, “It was the first time I had seen him. Until then, I had no idea that he and the other teachers would have lost everything if the case had gone the other way.”

[4] The abuse of buying and selling votes,” he wrote of Rome, “crept in and money began to play an important part in determining elections. Later on, this process of corruption spread in the law courts and to the army, and finally, when even the sword became enslaved by the power of gold, the republic was subjected to the rule of emperors.

[5] Senators appear to be considerably more responsive to the opinions of affluent constituents than to the opinions of middle-class constituents, while the opinions of constituents in the bottom third of the income distribution have no apparent statistical effect on their senators’ roll call votes.

[6] So I don’t blame people for giving up on politics… When a state-corporate nexus of power has bypassed democracy and made a mockery of the voting process, when an unreformed political system ensures that parties can be bought and sold, when politicians [of the main parties] stand and watch as public services are divvied up by a grubby cabal of privateers, what is left of this system that inspires us to participate?

[7] The United States risks calcifying into a European-style class-based society.

[8] The line between democracy and a darker social order is thinner than you think.

[9] It was my neighborhood,

[10] If you doubt it, read the Preamble [to the Constitution].

[11] We do not yet have justice, equal and practical, for the poor, for the members of minority groups, for the criminally accused, for the displaced persons of the technological revolution, for alienated youth, for the urban masses… Ugly inequities continue to mar the face of the nation. We are surely nearer the beginning than the end of the struggle.

Advertisements