THÀNH CÔNG HAY THẤT BẠI TRONG QUAN HỆ HOA KỲ-IRAN-AFGHANISTAN

HOA KỲ VÀ IRAN

Mặc dù gặp sự chống đối mãnh liệt từ Thủ Tướng Do Thái Benjamin Netanyahu, từ Saudi Arabia, từ các vương quốc vùng Vịnh Ba Tư, và sự chỉ trích từ phe tân bảo thủ, phe diều hâu, các thành viên Quốc Hội, bên trong Hoa Kỳ — và sự phá hoại của Pháp vào phút chót trong vòng thương nghị kết thúc ngày 9-11-2013 ở Geneva — Hoa Kỳ, Iran, và nhóm P5+1, cũng đã đạt được một thỏa ước tạm thời về chương trình nguyên tử của Iran. Lý do: Tổng Thống Obama, và Tổng Thống Hassan Rouhani của Iran — lên nắm chính quyền trong tháng 8-2013, với sứ mệnh chấm dứt tình trạng cô lập của Iran — đều đã nhận thức được thỏa ước là giải pháp tốt nhất đối với quyền lợi của cả hai quốc gia.

Thỏa ước tạm thời sẽ giúp giảm thiểu, không nhiều nhưng vẫn khá quan trọng, tác động của các biện pháp chế tài kinh tế đối với Iran; và để đổi lại, Iran đã phải thỏa thuận đóng băng một phân bộ trong chương trình hạt nhân của mình. Dù sao, cả hai bên đều có lợi, nhất là khi thỏa ước được xem như biện pháp xây dựng lòng tin trên đường tiến tới một thỏa ước chung cuộc trong vòng sáu tháng sắp tới.

Theo các nhà ngoại giao, giới quan sát Iran, và các chuyên gia về chính sách đối ngoại, nội hàm của thỏa ước chung cuộc phải bao gồm: các biện pháp chấm dứt hầu hết, nếu không phải toàn bộ, các chế tài đối với Iran; cùng lúc, Iran cũng phải đồng ý với các biện pháp giám sát quốc tế sâu rộng và khắt khe hơn đối với chương trình hạt nhân, phải đóng băng chương trình sản xuất và làm giàu uranium trên mức 5%, và ngưng mọi công tác liên quan đến nhà máy phản ứng nước nặng ở Arak cần thiết cho chương trình sản xuất plutonium và mở đường đi tới vũ khí hạt nhân.

Một phần chính của thỏa ước chung cuộc có thể cho phép Iran tiếp tục sản xuất uranium được làm giàu lên không quá 5% để sử dụng như nhiên liệu trong lò phản ứng hạt nhân. Đây là quyết định hết sức quan trọng — bởi lẽ trong khi Iran nhấn mạnh trong bất cứ trạng huống nào cũng sẽ không từ bỏ “quyền làm giàu”(right to enrich) được dự liệu trong Thỏa Ước Cấm Phổ Biến Nguyên Tử họ đã ký kết, và Hoa Kỳ cũng đã cho biết sẽ không công nhận quyền nầy.

Tuy vậy, các nhà ngoại giao Mỹ và các chuyên gia khác đều tin, cả hai bên có thể tìm cách vượt qua điểm bất đồng căn bản đó, với Hoa Kỳ đơn thuần chấp nhận, như một phần của thỏa ước, để Iran tiếp tục sản xuất và làm giàu uranium lên cấp độ nhiên liệu, mặc dù Hoa Thịnh Đốn không minh thị công nhận “quyền nầy của Iran”. Và Bộ Trưởng Ngoại Giao Iran, Mohammad Javad Zarif, nay cũng đã nói rõ, Iran sẽ không đặt nặng vấn đề: Hoa Kỳ phải chính thức công nhận quyền làm giàu uranium của Iran trong khuôn khổ Thỏa Ước Cấm Phổ Biến Nguyên Tử.

Trong mọi trường hợp, đạt được thỏa ước chung cuộc trong năm 2014 vẫn là một việc khá phức tạp, và thế giới có đủ lý do để lo ngại đội ngũ thương thảo của Obama ở Geneva có thể cường điệu, một phần vì rất ít nhân viên ngoại giao trong chính quyền Hoa Kỳ có kinh nghiệm thương nghị với Iran, và vì lẽ Tòa Bạch Ốc có thể đã đánh giá sai lầm: Iran đang quá cần một thỏa ước.

Sau hết, chúng ta cũng cần đợi xem Obama có đủ bản lĩnh lãnh đạo, lòng can đảm, và vốn liếng chính trị, để đương đầu không những với Quốc Hội và phe vận động hành lang Do Thái, mà còn với chính Do Thái, Saudi Arabia, các Vương Quốc ở Trung Đông… tất cả đang quyết tâm cản trở mọi nỗ lực giảm thiểu tình trạng căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Iran.

Để bắt đầu, chính quyền Obama vẫn chưa ngay cả chuẩn bị công luận ở Mỹ về một thỏa ước. Trong nhiều thập kỷ, Cộng Hòa Hồi Giáo Iran đã luôn bị gán danh hiệu một nhà nước bảo trợ khủng bố, và Tòa Bạch Ốc cũng đã chẳng làm gì để chuẩn bị quần chúng sẵn sàng bắt tay và ký kết một thỏa hiệp. Theo Flynt Leverett, giáo sư Penn State University và đồng tác giả cuốn “Đi Đến Tehran: Tại Sao Hoa Kỳ Phải Thỏa Hiệp Với Cộng Hòa Hồi Giáo Iran” (Going to Tehran: Why the United States Must Come to Terms With the Islamic Republic of Iran): ” [Tòa Bạch Ốc] chưa đặt nền móng cho việc đó. Không một nỗ lực thực sự nào để điều chỉnh vấn đề như một thành đạt tích cực trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.”[1]

Vì vậy, một nỗ lực giao tế công cộng quan trọng cần được khởi động tức khắc, bởi lẽ thiếu vắng một nỗ lực như thế, các thành phần chống đối ở quốc nội có thể gầy dựng đủ khả năng lôi cuốn công luận theo chiều hướng đối nghịch.

Ngoài ra, cũng còn có một trở ngại lớn khác.

Trong 30 năm, giới ngoại giao quen thuộc với Iran, thông thạo tiếng Ba Tư, và nhiều trải nghiệm trong vấn đề đi lại bên trong Iran, đã ngày một hao mòn dần.

Ngược lại, theo William Luers, nhà ngoại giao Hoa Kỳ trước đây và là giáo sư Đại Học Columbia, người cầm đầu dự án Iran và đã từng tham dự các cuộc thương thảo không chính thức với các quan chức Iran trong một thập kỷ, phái đoàn Iran ở Geneva gồm những thành phần có bằng PhDs từ các Đại Học Hoa Kỳ và Anh Quốc, với nhiều kinh nghiệm và hiểu biết về Tây Phương.

Luers nói, ” Họ biết rõ chúng ta. Các cuộc thương thảo song phương đều dùng Anh ngữ.”[2]

Theo giới quan sát Iran, như Luers, chính quyền Obama luôn tin, các chế tài kinh tế đã tàn phá kinh tế Iran đến độ Tehran buộc lòng sẽ phải tuân theo bất cứ những gì Hoa Thịnh Đốn đòi hỏi.

“Chính quyền [Obama] có thể giả thiết chúng ta có thể buộc Iran đến bất cứ nơi nào chúng ta muốn, và [Iran] đang bị tổn thương tệ hại đến độ họ sẵn sàng chấp nhận bất cứ điều gì. Tôi không nghĩ điều đó đúng với thực tế.”[3]

Đã hẳn, Iran luôn mong ước chế tài được gở bỏ. Nhưng, như Rouhani và các quan chức hàng đầu của Iran đã nhiều lần nói rõ: Tehran sẽ không đầu hàng, nếu Hoa Kỳ đòi hỏi Iran phải hoàn toàn ngưng làm giàu uranium — như Do Thái và các thành phần diều hâu trong Quốc Hội Mỹ thường nhấn mạnh.

Một trong số ít các quan chức Hoa Kỳ thực sự am hiểu Iran và thông thạo tiếng Ba Tư trước đây là John Limbert — người đã bị bắt làm con tin từ tháng 11 năm 1979 đến tháng 1 năm 1981, khi đám đông quần chúng Iran tràn vào tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Tehran.

Limbert, tác giả cuốn “Thương thảo với Iran: Vật Lộn với các Bóng Ma Lịch Sử” (Negotiating With Iran: Wrestling the Ghosts of History), đã được chỉ định làm phó trợ lý ngoại trưởng phụ trách Iran năm 2009. Nhưng vì bức xúc, ông đã từ nhiệm chín tháng sau đó.

Limbert lo ngại: chính quyền Obama có thể làm hỏng cơ may thành đạt một thỏa ước; và chính quyền có thể đánh giá quá cao vai trò các tác động của các biện pháp chế tài đối với lập trường sẵn sàng thương nghị của Iran.

Limbert nói: “Vấn đề là nghĩ [hay tự cho] mình hiểu đối phương nhiều hơn là mình thực sự hiểu. Tôi đã từng nghe luận điệu: Iran đang đuối sức vì các biện pháp chế tài, Rouhani đã đắc cử vì tác động của các biện pháp chế tài đối với nền kinh tế của họ. Tôi không thấy bằng chứng của điều đó. Chính quyền hành động trên giả thiết người Iran sẵn sàng bỏ cuộc, sẵn sàng chịu nhượng bộ quan trọng để các biện pháp chế tài được gở bỏ. Căn bản nào khiến bạn kết luận như thế?”[4]

Khi còn làm việc trong chính quyền, Limbert đã ghi nhận, các cuộc thảo luận luôn quá nặng về tác động của các biện pháp chế tài: “Trong các cuộc họp về Iran, tất cả luôn xoay quanh các chế tài, thay vì những gì đang xẩy ra bên trong Iran, và Iran có thể phản ứng như thế nào đối với động thái nầy hay động thái kia.”[5]

Đã hẳn, nội bộ Iran cũng có những phần tử cứng rắn hay diều hâu, luôn chống đối bất cứ thỏa ước nào với Hoa Kỳ vì các lý do ý thức hệ. Khi được hỏi Phái Tea Party có thể động viên phe phái và quần chúng chống lại Obama về Iran, Bộ Trưởng Ngoại Giao Zarif hỏi ngược lại, “Bạn tin chúng tôi không có một Tea Party?.” Nhưng cho đến nay, Rouhani và Zarif đang được lãnh tụ tôn giáo tối cao Ayatollah Ali Khamenei minh thị hậu thuẩn.

Đạt được một thỏa hiệp với Tehran không phải là chuyện dễ, nhưng hiện đang có một thỏa ước để thương thảo. Và điều nầy sẽ đòi hỏi khả năng lãnh đạo quả cảm từ phía Obama để thành công.

HOA KỲ VÀ AFGHANISTAN

Trước sự chống đối mạnh mẽ của Tổng Thống Hamid Karzai, Hoa Kỳ vẫn nhấn mạnh Afghanistan phải ký Thỏa Ước An Ninh Song Phương như đã được soạn thảo. Dự thảo Thỏa Ước nhằm định hình quyền chiếm đóng Afghanistan, một quốc gia đang bị chiến tranh tàn phá, trong thập kỷ sắp tới bởi Hoa Kỳ. Theo nội hàm của thỏa ước đề nghị, Hoa Kỳ sẽ có thể duy trì đến 9 căn cứ quân sự, với khoảng từ 8.000 đến 12.000 quân (và một lực lượng quân đồng minh Âu Châu và các quốc gia khác nhỏ hơn) cho đến cuối năm 2024.

Dù người Afghanistan chống đối, thỏa ước vẫn ghi rõ quân đội Hoa Kỳ sẽ không thuộc quyền tài phán của Afghanistan về các hành vi tội phạm — ngay cả tội phạm chiến tranh. Nhưng vào phút chót, Karzai cũng đã nêu lên một số điểm hợp tình hợp lý. Đáng lưu ý nhất : Quân đội Hoa Kỳ không được phép mở các cuộc bố ráp ban đêm vào nhà thường dân; và Hoa Thịnh Đốn phải khởi động các cuộc thương thuyết hòa bình giữa Afghanistan, Pakistan và Taliban.

Một tập hợp hơn 2500 lãnh đạo các bộ lạc ở Afghanistan, các giáo sĩ, các quan chức cấp tỉnh và cấp quốc gia, đã chấp nhận thỏa ước sau bốn ngày thảo luận bởi loya jirga hay hội đồng, do chính Karzai triệu tập. Tuy vậy, Karzai vẫn từ chối, chỉ hứa có thể ký sau khi thảo luận kỷ càng hơn, và có lẽ cũng phải đợi đến sau ngày bầu cử tổng thống vào tháng 4-2014, một thời điểm, theo Hoa Thịnh Đốn sẽ quá muộn màng.

Cuộc cải vã, như nhiều lần đã diễn ra trong thập kỷ vừa qua, có thể rồi ra cũng sẽ được giải quyết theo ý muốn của Hoa Kỳ, vì lẽ tất cả các con bài đều nằm trong tay Hoa Thịnh Đốn. Như một quan chức Mỹ đã nói, “chúng ta có thể tiếp tục bất đồng ý kiến, nhưng cuối cùng, chúng tôi là người đang nắm quân lực.”[6]

Vì vậy, cuộc chiến Tổng Thống Karzai đã nhiều lần cho biết sẽ khép lại (winding down) vẫn có thể phải tiếp tục thêm 10 năm nữa.

Ngoài ra, còn nhiều vấn đề then chốt Obama vẫn chưa giải quyết được: Nếu hơn 100.000 quân Hoa Kỳ chiếm đóng Afghanistan sau các đợt tăng quân năm 2009 đã không thể vô hiệu hóa phe Taliban và đồng minh, thì làm sao một số quân Mỹ ít hơn rất nhiều sẽ hoàn tất được nhiệm vụ? Làm sao các lực lượng an ninh của Afghanistan, một lực lượng đã xài phí 54 tỉ USD tiền viện trợ của Mỹ kể từ 2002, có thể gầy dựng đủ sức mạnh trong thập kỷ sắp tới, với người Mỹ tiếp tục bơm thêm khoảng 6 tỉ USD mỗi năm?

Điều quan trọng nhất có lẽ phải hỏi: Đâu là chiến lược ngoại giao của Mỹ để đem lại một thỏa ước giữa chính quyền Afghanistan, các lực lượng đối nghịch không phải Taliban, và chính phe Taliban?

Trong thực tế, ngoại giao là phương cách duy nhất để chấm dứt chiến tranh — nhất là khi liên hệ đến Pakistan, đang hậu thuẩn Taliban; Ấn Độ, đang ủng hộ các thành phần không phải Pashtun thuộc Liên Minh miền Bắc chống Taliban trước đây; và Iran.

Gần đây, kinh nghiệm thực tế đã đem lại cho Tòa Bạch Ốc một bài học: ngoại giao cũng có thể có hiệu quả ngay cả đối với các cuộc xung đột hầu như khó thể giải quyết.

Trước hết, Obama và Ngoại Trưởng John Kerry đã tránh xa các cuộc không tập Syria; thay vào đó, đã phải thỏa hiệp với Liên Bang Nga để loại bỏ các vũ khí hóa học của Syria; và cùng tham dự hội nghị hòa bình Geneva.

Kế đến, làm ngơ trước sự phản đối của Do Thái, của Saudi Arabia, phe diều hâu, phe tân bảo thủ, và các thành viên Quốc Hội, Obama và Kerry đã đạt được một thỏa hiệp tạm thời mang tính lịch sử về chương trình nguyên tử với Iran.

Với các nỗ lực nói chuyện thiếu liên tục với Taliban và một Karzai luôn bức xúc, Tòa Bạch Ốc vẫn không theo đuổi một giải pháp ngoại giao tích cực cho vấn đề Afghanistan. Trong lúc chờ đợi, thỏa ước song phương có thể đang lâm nguy.

Một nỗ lực tương tự thiết lập một thỏa ước an ninh với Iraq đã sụp đổ, và đã đưa đến cuộc triệt thoái quân lực Mỹ. Một phần lý do thất bại là do Thủ Tướng Nouri al-Maliki và Nghị Viện Iraq đã từ chối một số dự liệu, tương tự những điều khoản Karzai đã không thể đồng ý, kể cả quyền quân đội Hoa Kỳ và các nước ngoài đều được miễn tài phán.

Nhưng không như Iraq, dồi dào tài nguyên, Afghanistan hoàn toàn lệ thuộc vào ngoại viện. Mười hai năm sau ngày chiến tranh bắt đầu, Afghanistan, vẫn như một con bệnh cụt cả tay chân, đã hạn chế nghiêm trọng khả năng của Karzai noi theo gương Maliki. Karzai đã phải mất nhiều năm đi dây chính trị — chống đối các cuộc bố ráp ban đêm của các lực lượng Hoa Kỳ, phản kháng các cuộc không tập bởi drones đã giết hại quá nhiều thường dân, có lúc ngay cả đã phải đe dọa gia nhập hàng ngũ Taliban.

Thực vậy, trong các bài nói chuyện với hội đồng loya jirga, Karzai đã nhấn mạnh: các thương vong dân sự là một đề tài bùng nổ. Ông ta đã nói đúng. Trong tháng 10, ngày kỷ niệm năm thứ 12 của cuộc chiến, một số đặc biệt của tạp chí The Nation đã được dành cho một phúc trình chi tiết về số thường dân đã bị các lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh sát hại ở Afghanistan kể từ 2001. Phúc trình, bao gồm một cơ sở dữ liệu toàn diện và tương tác trực tuyến (a comprehensive, interactive online database), đã nêu rõ hàng trăm biến cố, cũng như những bài viết, phơi bày Ngũ Giác Đài đã không quan tâm định chế hóa các bài học về tác động của chính sách chọn các mục tiêu dân sự lên danh sách thanh toán hay ám sát, và phương cách các thương vong dân sự đã tiếp sức cho phong trào trỗi dậy trong nỗ lực tuyển mộ tân binh và tăng cường hàng ngũ như thế nào.

Như hậu thuẩn của quần chúng Hoa Kỳ đối với các thỏa ước ngoại giao với Syria và Iran đã chứng tỏ, cử tri Hoa Kỳ đã quá mệt mỏi với chiến tranh triền miên. Trong Quốc Hội, các Nhóm Cấp Tiến (Progressive Caucus) và các thành viên phản chiến, đã kịch liệt chỉ trích những đề án thỏa hiệp với chính quyền Afghanistan. Dân biểu Barbara Lee đã nói, “khả năng của một sự hiện diện quân sự cho đến năm 2024 là điều không thể chấp nhận. Không thể có giải pháp quân sự ở Afghanistan. Sau 13 năm và hơn 778 tỉ USD đầu tư vào một quốc gia bất ổn định và chính quyền thối nát Karzai, đã đến lúc phải hồi hương quân đội và tiền thuế của chúng ta.”[7]

Lee và nhiều thành viên Quốc Hội khác, kể cả Nghị Sĩ Jeff Merkley, đang cố gắng huy động các lực lượng phản chiến gây áp lực, buộc phải đưa đề án thỏa ước Afghanistan ra Quốc Hội biểu quyết. Cử tri Mỹ, đang quan tâm đến chiến tranh triền miên ở Trung Á, có bổn phận đặc biệt phải thuyết phục các thành viên Quốc Hội và Tòa Bạch Ốc về giải pháp khả dĩ: những gì có thể thực hiện ở Syria và Iran cũng có thể thực hiện ở Afghanistan.

THÀNH CÔNG HAY THẤT BẠI

Tranh luận về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn là một hiện tượng hiếu kỳ. Trong thời gian gần đây, Barack Obama hình như đã ghi được hai thành công có nhiều ý nghĩa trong địa hạt đối ngoại: thành tựu một thỏa ước phá hủy kho vũ khí hóa học của Syria và thỏa ước bắt đầu tiến trình ngăn ngừa Iran thủ đắc vũ khí hạt nhân. Cả hai mục tiêu rõ ràng phù hợp không những với quyền lợi của Hoa Kỳ mà còn với mục tiêu hòa bình và nhân đạo nói chung. Cả hai mục tiêu đã đạt được hầu như không mấy tốn kém xương máu và tài nguyên. Tuy nhiên, cả hai đều bị các cơ quan truyền thông dòng chính lên án như những bằng chứng chủ hòa hay đầu hàng (examples of appeasement and/or capitulation).

Một phần lý do bắt nguồn từ sự kiện tranh luận về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thường không mấy khác với tranh luận về chính sách đối nội bởi các phương tiện khác. Trong chiều hướng đó, trong dịp loan báo thỏa hiệp lịch sử với Iran, John Cornyn, lãnh đạo thiểu số Thượng Viện, đã phát biểu: “Thật đáng ngạc nhiên những gì Tòa Bạch Ốc sẽ làm để đánh lạc hướng sự quan tâm khỏi O[bama]-care.”[8]

Động lực cơ bản của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ là đề tài một tiểu luận mang tính bác học, hết sức uyên bác và khôn ngoan, dày 162 trang, của Perry Anderson, chiếm toàn bộ nội hàm của tạp chí New Left Review, số đầu tháng 12-2013. Ngay trong trang đầu, Anderson đã ghi nhận chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong kỷ nguyên hiện đại đang vấp phải nhiều khó khăn rắc rối bởi hai loại vấn đề song sinh: “một cử tri với tác phong hẹp hòi tỉnh lẻ, với kiến thức về thế giới bên ngoài tối thiểu, và một hệ thống chính trị trái ngược và mâu thuẫn với các thiết kế của các Nhà Lập Quốc, đã ngày một trao quyền lực gần như vô giới hạn cho ngành hành pháp trong phạm vi đối ngoại.”[9]

Nhằm đi nước đôi giữa cử tri và hệ thống chính trị hiện hữu, các chuyên gia ưu tú về chính sách đối ngoại đã tự đảm trách vai trò sáng chế các “đại chiến lược,” bề ngoài có vẻ nhằm mục đích hướng dẫn các lãnh đạo chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, nhưng trong thực tế, luôn được dùng để ngụy trang các hành động đế quốc trước một quần chúng luôn thiếu các thông tin trung thực và thường mang khuynh hướng biệt lập.

Không may, các đại chiến lược nầy lại luôn được sử dụng để biện minh hay bảo vệ các chính sách trong thực tế cực kỳ vô đạo đức, những chính sách, tự bản chất, sẽ không bao giờ có thể thượng tồn với sự soi xét của một công luận sáng suốt và khách quan. Sử gia Gary Bass, trong tác phẩm mới The Blood Telegram, đã xem xét một ví dụ hiếm khi được thảo luận bằng cách nào các chính sách loại nầy đã diễn ra trong thực tế.

Trong tác phẩm, Bass đã tái cấu trúc cuộc thảo luận giữa Richard Nixon và Henry Kissinger, để trả lời những thỉnh cầu của Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Dhaka, Pakistan, trong tháng tư 1971, về các bước cần thiết để ngăn chặn tai họa “diệt chủng” đối với người Bengalis ở Đông Pakistan (theo lời của Archer Blood gửi Kissinger).

Trong những gì Bass gọi là “lời tố cáo chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ có lẽ gay gắt nhất như chưa bao giờ được gửi về bởi chính các nhà ngoại giao Mỹ,” Blood đã công khai chỉ trích sự băng hoại về đạo đức của hành động tiếp tục hậu thuẩn Tướng Yahya Khan, vị tướng điều khiển chiến dịch. Kissinger đã tỏ ra giận dữ trước cử chỉ bất phục tùng của Blood, trong khi Nixon, trong một bất chợt tự vấn lương tâm hiếm hoi và cố tình ngắn gọn, đã cân nhắc và nhận định: các hành động tàn sát đang xẩy ra không đến nỗi tệ hại như những vụ tàn sát ở Biafra [vùng Đông-Nam Nigeria]. Và vì trước đó Hoa Kỳ đã không can thiệp, giờ đây tìm cách chận đứng nạn diệt chủng ở Bengal có thể bị xem như đạo đức giả. Nixon đã đăm chiêu trầm ngâm, “Không có nhiều dân Do Thái ở Đức Quốc, vì vậy, thực tế đó có thể có nghĩa, Hitler đã không vô luân hay vô đạo đức khi giết họ?”[10] (Một điều kỳ lạ là lúc đó chẳng một ai nhắc tới gia đình của Kissinger trước đây cũng đã trốn khỏi Đức Quốc Xã — Nazis). Tuy vậy, Kissinger cũng đã đưa ra luận cứ: rút lại hậu thuẩn đã dành cho vị tướng diệt chủng rất có thể không mấy khác mở đường cho một chiến thắng của phe thân Cộng, và do đó, vi phạm chủ thuyết “ngăn bờ” (containment) trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.

Dù sao, đây cũng không phải là lần duy nhất trong lịch sử cận đại khi Hoa Kỳ đã làm ngơ trước nạn diệt chủng, với vũ khí và sự chấp thuận mặc nhiên của Hoa Kỳ.

Về phương diện nầy, chủ thuyết ngăn bờ trong chính sách đối ngoại đã biện minh cho một chính sách tệ hại hơn rất nhiều so với giá trị của chủ thuyết cần được bảo vệ. Tuy vậy, Hoa Kỳ không thể có một chính sách đối ngoại mà không có một chủ thuyết. Theo đuổi chính sách đối ngoại từ một tính toán quyền lợi của Hoa Kỳ như hầu hết các quốc gia đều làm một cách bộc tuệch — một lựa chọn thực tế — không thể thực hiện trong bối cảnh tranh luận chính sách đối ngoại mang tính “đạo đức của người Mỹ”. Như Anderson nhận xét, “chủ nghĩa Tân-thực tiễn — Neorealism, như lý thuyết thuần túy, một mẫu mực hay mô hình nghiên cứu quan hệ quốc tế, là một việc; luận đàm mang tính ý thức hệ về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, là một việc khác. Xuyên qua hai cổng chính đó, cuộc luận đàm không thể đi vào mà không có gì đi kèm.”[11]

Như vậy, cổng chính là gì? Cổng chính, như tên gọi, là một phối hợp hai luận cứ: Luận cứ thứ nhất là các đe dọa đối với an ninh của Hoa Kỳ, luôn được cường điệu hóa; và luận cứ thứ hai là nhu cầu bảo vệ các “giá trị” của Hoa Kỳ.

Như sử gia John Thompson đã viết, “Sự lan rộng đầy ấn tượng các can dự và cam kết của Hoa Kỳ ở hải ngoại trong suốt một trăm năm vừa qua đã phản ảnh một sự tăng trưởng quyền lực hơn là một sự suy đồi an ninh. Tuy vậy, bố trí đầy đủ và hiệu quả quyền lực đó đã đòi hỏi từ nhân dân Hoa Kỳ nhiều kỷ luật và hy sinh, những đòi hỏi họ sẵn sàng chấp nhận nếu được thuyết phục an ninh quốc gia đang trực tiếp liên hệ.”[12]

Điều nầy đã dẫn đến “bành trướng an ninh quốc gia bao trùm cả nhu cầu duy trì các giá trị của Mỹ và trật tự thế giới,” và “khuynh hướng thổi phồng nguy cơ Hoa Kỳ có thể bị tấn công lại luôn liên tục tái diễn.”

Hơn nữa, theo Melvyn Leffler — tác giả của những gì cho đến ngày nay vẫn còn được xem như lịch sử cuối cùng về cách ứng xử của Hoa Kỳ trong thời chiến tranh lạnh: cuốn A Preponderance of Power (Ưu Thế của Quyền Lực), xuất bản năm 1992, “Lo ngại và quyền lực…không phải áp lực không dứt của Xô Viết, không phải những thôi thúc nhân đạo, không phải những lý do chính trị quốc nội, không phải ảnh hưởng của Anh Quốc, là những yếu tố then chốt định hình các chính sách của Hoa Kỳ.”[13]

Anderson đã nghiên cứu quan điểm của một số trí thức lừng danh dòng chính về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và đã khám phá: họ không những không đủ khả năng thuyết phục — điều nầy không có gì đáng ngạc nhiên, vì Anderson là một trí thức Marxist và là người hâm mộ Gabriel Kolko và Noam Chomsky — mà còn thiếu mạch lạc. Điều nầy là do sự kiện sứ mệnh bất khả thi mô tả trên đây. Và đó cũng là nghị trình sẽ tiếp tục gây nhiều rắc rối khó khăn cho Obama, trừ phi chính quyền phải tự thú nhận hiện đang phải đối phó, như với Quốc Hội, với cả cuộc đàm luận chính trị bất duy lý và hoang tưởng từ căn bản. Như các biến cố ở Syria và Iran — chưa kể những biến cố ở Iraq và Afghanistan — rõ ràng đã minh chứng, tổn phí về nhân mạng và ngân khố đang đòi hỏi người Mỹ phải can đảm nói lên sự thật và phải hành động thích nghi.

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

26-12-2013

——————————————————————————–

[1]They’re not laying the ground-work for that. There’s no real effort to frame this as a positive achievement for American foreign policy.

[2] They know us well. The bilateral negotiations are conducted in English.

[3] The administration may assume that we’ve got them where we want them, and that they’re hurting so bad that they’re willing to accept anything. I don’t think that’s going to work.

[4]One problem is thinking we know more about the other side than we do. I’ve heard claims that Iran is on the ropes because of sanctions, and that Rouhani was elected because of the effect of sanctions on their economy. I’ve not seen the evidence for that. The administration is making the assumption that Iranians are ready to give up, to make major concessions to get the sanctions lifted. On what basis do you say that?

5 In meetings on Iran, it was all sanctions, all the time, as opposed to what was happening inside Iran, and how Iran might react to this move or that move.

[6] We can continue to disagree, but at the end of the day, we are the ones who have the troops.

[7] The possibility of a military presence into 2024 is unacceptable. There is no military solution in Afghanistan. After thirteen years and more than $778 billion invested in an unstable country and the corrupt Karzai government, it’s time to bring our troops and tax dollars home.

[8] Amazing what WH will do to distract attention from O[bama]-care.

[9] …provincialism of an electorate with minimal knowledge of the outside world, and a political system that — in strident contradiction with the designs of the Founders — has increasingly given virtually untrammeled power to the executive in the conduct of foreign affairs.

[10] There weren’t very many Jews in Germany, so maybe that meant it was therefore not immoral for Hitler to kill them?

[11] AS Anderson observes, Neo-realism as a pure theory, a paradigm in the study of international ralations , is one thing; the ideological discourse of American foreign policy, another. Through those portals, it cannot enter unaccompanied.

[12] The dramatic extension of America’s overseas involvement and commitments in the past hundred years has reflected a growth of power rather the decline of security. Yet the full and effective deployment of that power has required from the American people diciplines and sacrifices that they are prepared to sustain only if they are persuaded the nation’s safety is directly at stake.

[13] Fear and power…not unrelenting Soviet pressure, not humanitarian impulses, not domestic political considerations, not British influence were the key factors shaping American policies.

Advertisements