CHỐT Á CHÂU-THÁI BÌNH DƯƠNG

hay TÁI CÂN BẰNG CỦA TÁI CÂN BẰNG

VIỄN KIẾN MỚI CỦA OBAMA TRONG NHIỆM KỲ HAI

Sau vài tháng giữ thái độ khiêm tốn trong quyết định tái cân bằng ở Á Châu-Thái Bình Dương, chính quyền Obama hiện đang tìm cách làm sống lại sáng kiến nầy. Susan Rice, nhân vật được biết luôn âu lo về Trung Đông, Phi châu và các vần đề phi truyền thống, nay đang sẵn sàng quan tâm ngày một nhiều hơn đến Á châu-Thái Bình Dương, sáu tháng sau ngày nhận nhiệm vụ mới.

Trong bài nói chuyện tại Georgetown University, Susan Rice đã phác họa giai đoạn kế tiếp của chiến lược tái cân bằng của Hoa Kỳ, tái nhấn mạnh quyết chí của người Mỹ tăng cường sự hiện diện trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương, tái cam kết với các đồng minh và đối tác trong khu vực, và tái khẳng định vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ ở Á Châu.

Chiến lược nầy đang diễn ra trong thời điểm quyền lực của Trung Quốc đang ngày một tăng trưởng và lãnh đạo mới Tập Cận Bình đã đưa ra chính sách mới trong khu vực, nhằm tăng cường quan hệ với các quốc gia lân bang với sáng kiến nối kết và con đường tơ lụa hay năng lượng mới xuyên lục địa và các đại dương.

Barack Obama, người tự nhận như một tổng thống Á châu-Thái Bình Dương, từ lâu đã dương cao khẩu hiệu quyền lực của Hoa Kỳ trong khu vực như tiêu điểm.

Trong cuộc công du đầu tiên đến các quốc gia thành viên của khối ASEAN trong năm 2009, Hillary Clinton cũng tuyên bố Hoa Kỳ đã trở lại Á châu ngay từ lúc Obama tiếp nhận chính quyền. Tiếp theo đó, “chốt Á châu” đã chính thức thành hình trước cuối năm 2011, khi Obama tuyên bố trước Nghị Viện Úc “Hoa Kỳ đến và ở lại đây như một đại cường Thái Bình Dương.”[1] Cuối cùng, kể từ đầu năm 2012, Hoa Kỳ cũng đã chấp nhận một chiến lược tái cân bằng ôn hòa và ít mang tính gây hấn hơn.

Như vậy, chính quyền Obama đã thể hiện một chuyển dịch trong trọng tâm chiến lược đối với Á châu-Thái Bình Dương như một chính sách tiêu chuẩn. Tuy nhiên, ngay sau khi Obama bắt đầu nhiệm kỳ hai, tái cân bằng cũng đã trải nghiệm nhiều thay đổi mới, một dịch chuyển các nhà quan sát đã gọi “tái cân bằng chiến lược tái cân bằng trước đó ” — a rebalance of its rebalance.

Trước hết, sau khi bắt đầu nhiệm kỳ hai, Obama đã phát động chính sách được mệnh danh: đối tác thương mãi và đầu tư xuyên Đại Tây Dương với Âu châu (transatlantic trade and investment partnership with Europe — TTIP), với mục đích đảo ngược cảm giác lơ là do chiến lược tái cân bằng đã đem lại.

Liền sau đó, ngoại trưởng Kerry một lần nữa đã chuyển dịch sự quan tâm của Hoa Kỳ trở lại khu vực Trung Đông. Mặc dù hầu như hoàn toàn bị chi phối bởi Syria, Ai Cập, Iran, và thế bí trong quan hệ Do Thái-Palestine gai góc, một dấu hiệu rõ ràng chính quyền Obama một lần nữa đã tái nhận diện Trung Đông là quyền lợi nòng cốt của Mỹ, một vùng hết sức quan trọng trong chính trị thế giới, ngay cả vào thời điểm Hoa Kỳ ngày một bớt âu lo về nguồn cung năng lượng.

Kế đến, trước một ước muốn cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc cùng chia sẻ — thiết kế “một mô hình quan hệ siêu cường mới” — Hoa Kỳ đã cảm thấy bất lợi khi chỉ tập trung vào thành tố quân sự trong chiến lược tái cân bằng, không những có hại cho quan hệ đối với Trung Quốc, mà còn nhen nhúm sự âu lo trong toàn vùng. Các đồng minh như Úc và Nam Hàn, và các đối tác như Singapore và Indonesia, không ưa thích bị buộc phải lựa chọn giữa hai siêu cường. Do đó, chính quyền Obama trong nhiệm kỳ hai đã nâng thành tố kinh tế lên ngang hàng với thành tố quân sự.

Ngoài ra, nhân quyền và dân chủ, những thành tố của chiến lược tái cân bằng, cũng đã được nhấn mạnh, trong đó các đề mục an ninh phi cổ điển như biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, bảo toàn các nguồn nước, cũng đã được nâng cấp ưu tiên.

Như vậy, Hoa Kỳ đã tìm cách giảm thiểu tính nhạy cảm của các thành tố “cứng” như quân sự và an ninh, đồng thời tăng cường vai trò các thành tố “mềm” và “ưu tiên thấp” trong nghị trình.

Cuối cùng, Hoa Kỳ đã thực sự đặt quan hệ hợp tác với Trung Quốc như thành tố cơ bản trong chiến lược tái cân bằng. Joseph Nye và Brzezinski đã thúc đẩy chính quyền Hoa Kỳ nên hậu thuẩn sự gia nhập của Trung Quốc vào Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương — TTP. Hơn nữa, với quan hệ quân sự-quân sự được cải thiện, Trung Quốc khi tham gia như hoạch định vào hải quân — Vành Đai Thái Bình Dương 2014 (China’s planned involvement in the navy, such as the 2014 Rim of the Pacific – RIMPAC) — cũng đã trở thành “chốt Trung Quốc” (China pillar) của “một tái cân bằng cập nhật” thêm phần thuyết phục và dễ chấp nhận hơn.

CÓ GÌ MỚI TRONG TÁI CÂN BẰNG CỦA TÁI CÂN BẰNG

Trong thực tế, tất cả các khuynh hướng giúp định hình chính sách tái cân bằng của Obama trong nhiệm kỳ hai trên đây đều có thể tìm thấy trong bài nói chuyện của Donilon về Á châu-Thái Bình Dương tại Asia Society trong tháng 3-2013. Nhưng hơi khác với bài nói chuyện của Rice về đề tài “Tương Lai của Hoa Kỳ ở Á Châu” (America’s Future in Asia), Donilon đã nhấn mạnh cả hai khía cạnh: tính liên tục và các biến chuyển mới.

Trong khi bám sát ba mục tiêu an ninh, thịnh vượng, và tự do, từ lâu đã được theo đuổi như cơ bản đối với quyền lợi của Hoa Kỳ, bài nói chuyên của Rice đã phân biệt bốn địa hạt: cải thiện an ninh, gia tăng thịnh vượng, phát huy các giá trị dân chủ, và thăng tiến nhân phẩm.

Rice chia đôi ý niệm nhân quyền làm an ninh và thịnh vượng, và như vậy, cho thấy đã nhấn mạnh đề mục nầy nhiều hơn. Hơn nữa, Rice cũng đã làm sáng tỏ chính sách của Hoa Kỳ về vài đề tài nhạy cảm và cấp thiết nhất trong khu vực, như hậu thuẩn việc thiết lập Hội Đồng An Ninh Quốc Gia của Nhật, hợp tác với Úc trong các địa hạt như tên lửa không gian và tự vệ, và tham dự vào an ninh hàng hải với Thái Lan và Philippines.

Trong khi gián tiếp xác nhận Bắc Triều Tiên đã có sẵn kho vũ khí nguyên tử, Rice rõ ràng đã đưa ra dấu hiệu một chính sách kiên định của Hoa Kỳ: cánh cữa đang rộng mở đối với Bắc Hàn nếu quốc gia nầy có bước tiến cụ thể và không thay đổi hướng đến phi-nguyên-tử. Ngược lại, chính sách chế tài, cô lập, và chiến lược kiên trì cô lập hóa sẽ được duy trì.

Bài nói chuyện của Rice cũng đưa ra một góc nhìn mới về Trung Quốc. Mặc dù Rice chỉ dành hai đoạn ngắn cho đề tài, chúng ta cũng có thể nhận diện được bóng dáng Trung Quốc trong một số các đoạn khác.

Rice sử dụng động từ “operationalize” để mô tả sự khai triển một mô hình mới trong quan hệ giữa các nước lớn; liệt kê Bắc Triều Tiên, Iran, Afghanistan, và Sudan, cũng như các quan hệ quân sự-quân sự (mil-to-mil relations) như những địa hạt chính trong quan hệ mới nầy. Điều nầy đã phơi bày rõ ý muốn của Hoa Kỳ định hình nghị trình hướng đến các nhu cầu và ưu tiên của Mỹ. Trong chừng mức đó, hợp tác luôn kèm theo trách nhiệm, trong khi giải thích nghị trình đó như thế nào đều hoàn toàn tùy thuộc ưu tiên của Hoa Kỳ.

Ngoài ra, các chuẩn mực và quy tắc lại hầu như rải rác ở khắp nơi khi nói đến các đề tài như an ninh thượng tầng không gian và các tranh chấp hàng hải, đặc biệt là các đề tài Biển Hoa Nam và Hoa Đông.

Bài nói chuyện của Rice cũng hoan nghênh Trung Quốc tham gia vào TPP. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là phải”ứng xử đúng theo các chuẩn mực cao của Hoa Kỳ.” Chính sách Trung Quốc của Obama rõ ràng là chi phối và định hình chiều hướng trỗi dậy của Trung Quốc qua các can dự cấp cao cũng như một phối hợp các biện pháp chế ngự cứng và mềm.

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn thấy sự dịch chuyển như hình thức của một chính sách tái cân bằng ôn hòa hơn, một dịch chuyển hay thay đổi một xứ ngày một tự tin có thể tiếp thu, định hình, và ngay cả chấp nhận. Bởi lẽ với sức mạnh ngày một gia tăng và triết lý đối ngoại hòa bình đang hình thành, Trung Quốc ngày nay đủ tự tin có thể tác động đến các nước lớn khác theo chiều hướng riêng của mình.

CẢNH GIÁC ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

Như vậy, hình như Hoa Kỳ vẫn chưa hiểu rõ tham vọng của Trung Quốc.

Chẳng bao lâu sau khi đắc cử tổng thống với sứ mệnh hòa bình, rút quân khỏi hai cuộc chiến tốn kém, Barack Obama đã nghĩ ngay đến chốt Á Châu trong năm 2009. Quan tâm kinh tế lúc một gia tăng đến một khu vực bành trướng nhanh chóng của thế giới, và đến cơ hội để hải và không quân có thể chứng tỏ sức mạnh trong vùng Á châu-Thái Bình Dương sau hơn một thập kỷ chiến tranh trên bộ ở Iraq và Afghanistan, hình như là loại chính sách người Mỹ và các đối tác trên thế giới dễ dàng hậu thuẩn.

Một sự vụng về trong việc sử dụng ngôn từ đã phương hại đến bước đầu của một kế hoạch khập khiểng và thường bị hiểu lầm. Giờ đây dưới tên gọi tái cân bằng, trọng điểm của chính sách đối ngoại của Obama tiếp tục bị mờ nhạt bởi các xung đột tiếp diễn ở Trung Đông.

HOA KỲ SẼ TRỞ LẠI

Sự triệt thoái bất thần của Hoa Kỳ khỏi Iraq vào cuối năm 2011 đã để lại phía sau một quốc gia chìm đắm trong bạo lực. Mùa Xuân Á Rập, bắt đầu vào cuối năm 2010, đã lật đổ nhiều chính thể độc tài ở Trung Đông và Bắc Phi, với nhiều quốc gia hiện đang chịu hậu quả. Cuộc nội chiến ở Syria sắp đến ngày kỷ niệm năm thứ ba vào tháng 3-2014, với Hoa Kỳ quyết định vào hồi đầu tháng 12-2013 từ bỏ cung cấp cho các chiến binh phản loạn loại viện trợ không giết người vì âu lo một cuộc trỗi dậy ngày một gia tăng của Hồi Giáo. Các xung đột liên tục ở Ai Cập đã buộc Hoa Kỳ phải can thiệp quân sự cỡ lớn hồi tháng 7-2013, và Bộ Ngoại Giao đã phải ra lệnh đóng cửa nhiều tòa đại sứ ở Trung Đông và nhiều nơi khác vào đầu tháng 8-2013 vì các đe dọa tấn công khủng bố.

Và vào cuối năm 2013, Tổng Thống Afghanistan Hamid Karzai vẫn chưa chịu ký vào thỏa ước an ninh, định hình sự hiện diện của quân đội Mỹ sau năm 2014.

Trong lúc đó, Hoa Kỳ vẫn còn ước muốn đóng chốt, tái cân bằng, hay chuyển dịch lực lượng quân sự đến Thái Bình Dương, và đang khiến nhiều quan chức, nhiều nhà phân tích và đối tác trên thế giới, phải tự hỏi bằng cách nào người Mỹ có đủ khả năng để thành đạt nhiều tham vọng trong nghị trình.

Vikram Singh, phó trợ lý bộ trưởng quốc phòng và cố vấn trưởng của các lãnh đạo Ngũ Giác Đài về Nam và Đông Nam Á, đã cho biết: “Mười năm vừa qua đã chứng tỏ rất bất thường hơn là chuẩn mực. Cùng lúc phải theo đuổi hai cuộc chiến cỡ lớn là một điều thực sự quá bất thường đối với Hoa Kỳ. Đã thế, quyết định tái cân bằng ở khu vực Á Châu-Thái Bình Dương sẽ đòi hỏi phải tái phối trí các tài nguyên rộng lớn của Hoa Kỳ đến một phần đất của thế giới, nơi yếu tố ổn định sẽ hết sức quan trọng.”

Nêu rõ sự hiện diện liên tục của Hoa Kỳ ở Guam và Nhật Bản từ cuối Đệ Nhị Thế Chiến, Singh nói tiếp: “Chúng ta đã là một cường quốc Thái Bình Dương trong nhiều thế hệ. Đây đâu phải điều gì mới mẻ.”[2]

Riêng đối với vấn đề tài nguyên của Hoa Kỳ hiện đang giàn trải quá mỏng với chính sách mới nầy, Singh nói, ” Điều quan trọng cần ghi nhận là khả năng của Hoa Kỳ ra sao. Chúng ta có thể làm nhiều chuyện cùng lúc.” Lập luận nầy đã khiến nhiều người nhớ tới câu cách ngôn “vừa đi vừa nhai kẹo cao su” (the proverbial walking-while-chewing-gum). Hoa Kỳ tin mình có thể nhai kẹo cao su để hơi thở được thơm tho ở Trung Đông trong cùng lúc đi dạo mát xuyên Á.

Tuy nhiên, tài nguyên của Ngũ Giác Đài vẫn rất hạn chế. Với các hậu quả còn rơi rớt lại sau các biện pháp cắt xén ngân sách đồng đều được biết dưới tên gọi “sequestration” (cắt xén tạm thời), cũng như các cắt xén ngân sách dự liệu tiếp theo sau hai cuộc chiến kéo dài, giới quân sự có nhiệm vụ tìm cách sử dụng ít ngân quỹ và vật liệu hơn trong một thế giới luôn chờ đợi ngân quỹ và vật liệu lúc một phải dồi dào hơn.

Ngũ Giác Đài luôn cảm thấy thực sự bị đe dọa bởi các tay chơi ngoài vòng pháp luật như Bắc Triều Tiên, và có sẵn kế hoạch một chiến dịch hành quân trên bộ lâm thời cần đến khi quan hệ giữa Bắc Triều Tiên và các quốc gia láng giềng, kể cả đồng minh khắng khít Nam Hàn của Mỹ, bị bào mòn đến độ khó hàn gắn.

Cùng lúc, Ngũ Giác Đài cũng phải đối phó với Trung Quốc, một siêu cường đang đi lên, với tham vọng bá quyền cấp vùng đã biểu hiện qua các lời tuyên bố chủ quyền đối với các vùng thuộc hải phận quốc tế, các hải đảo và đảo đá ngầm. Theo Singh, viện trợ tài chánh có thể dưới hình thức đa phương hơn là song phương, và cần tăng cường quân đội các nước ngoài để giúp họ tự đối phó với các đe dọa và khủng hoảng.

Tuy vậy, các nhà làm chính sách trong Tòa Bạch Ốc, Ngũ Giác Đài, và tập đoàn quân sự-kỹ nghệ, luôn vội vã nhấn mạnh tái cân bằng không phải chỉ là chiến lược quân sự, mà còn là sáng kiến của toàn bộ guồng máy bao gồm các nỗ lực thương mãi, kinh tế, và ngoại giao.

Danny Russel, phụ tá ngoại trưởng đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương Sự Vụ, đã nói rõ: “Chúng ta không thể không hiện diện ở đó. Một sự hiện diện mạnh mẽ của Hoa Kỳ trong khu vực sẽ thiết yếu cho hòa bình và thịnh vượng trong thế kỷ XXI.”

“Chỉ chú tâm đến khía cạnh quân sự của chiến lược tái cân bằng là không hiểu được toàn bộ. Các mục tiêu tái cân bằng của chúng ta là canh tân và tăng cường các đồng minh Á Châu-Thái Bình Dương nhằm đối phó hữu hiệu hơn với các thử thách của thế kỷ XXI.”[3]

Điều nầy bao gồm cả việc tăng cường các đối tác, kể cả Trung Quốc. Nó cũng đòi hỏi phải tăng cường thương mãi, như tổ chức Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương sắp hoàn tất (to-be-finalized Trans-Pacific Partnership — TPP), và các định chế hỗ trợ như ASEAN (Association of Southeast Asians). Bộ trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel đã chủ trì tiệc trưa với 10 vị đại sứ ASEAN vào đầu tháng 12-2013.

Joe Biden bị Kẹt Giữa Trung Quốc và Nhật Bản về Vùng Không Gian Hạn Chế (Air Restriction Zone — ARZ)

Tuy nhiên, các quan chức quân sự vẫn không che dấu đang sử dụng chiến lược tái cân bằng để biện minh các nhu cầu tạo mãi các trang bị quân sự và các cách tiếp cận mới, như phi cơ tàng hình F-35, các thủy đỉnh tàng hình, tên lửa tầm xa, và lính thủy đánh bộ . Chiến lược Thái Bình Dương đưa đến quyết định di chuyển khoảng 60% các chiến hạm và trang bị hải quân khác trong nhiệm vụ tuần tiểu Thái Bình Dương. Hàng nghìn lính thủy đánh bộ, phần lớn mới hồi hương từ các cuộc chiến ở Trung Đông, sẽ được tái bố trí khi cần đến căn cứ mới ở Darwin, Úc Đại Lợi, để hỗ trợ các cơ sở khác ở Nhật, Nam Hàn, và Hawaii.

Tình trạng vẫn còn khá căng thẳng với sự hiện diện quân sự dài lâu của Mỹ trong khu vực, với Hoa Kỳ đang xem xét tái bố trí các cơ sở lính thủy đánh bộ từ Okinama đến Guam và Hawaii. Tuy nhiên, phản ứng nhanh chóng bởi Lính Thủy Đánh Bộ và Hải Quân đối với khủng hoảng ở Philippines gần đây, được nối tiếp bởi sự hỗ trợ của Bộ Binh và Không Quân, rõ ràng đã tăng cường loại thông điệp các lực lượng Hoa Kỳ hy vọng đã gửi đi với sự hiện diện ngày một lớn lao của các lực lượng nầy.

Tuy nhiên, quan hệ phức tạp của Hoa Kỳ với Trung Quốc là trung tâm của nhu cầu tiềm năng đối với một đáp ứng quân sự tiềm năng. Sự trỗi dậy của nền kinh tế của một cường quốc Á Châu, phối hợp với tình trạng suy nhược có thể nhận thức được của Hoa Kỳ sau đại suy thoái tài chánh 2008 của Wall Sreet, đã là nguyên nhân thúc đẩy Trung Quốc bành trướng quân lực và thăm dò khu vực một cách gây hấn hơn trước đây.

Trong tháng 8-2013, Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc, Tướng Chang Wanquan, đã viếng thăm Ngũ Giác Đài với một phái đoàn quân sự. Nhận xét của ông trong cuộc họp báo chung với Bộ Trưởng Hagel đã cung cấp một cách nhìn từ bên trong quan hệ phức tạp và đôi khi mang tính phân liệt hay rối loạn tâm thần. Ông phát biểu: “Nhân dân Trung Quốc luôn yêu chuộng hòa bình. Chúng tôi nhấn mạnh các tranh chấp cần được giải quyết qua đối thoại và thương thảo.”

“[Tuy vậy,] không ai nên tùy tiện nghĩ Trung Quốc có thể đánh đổi các quyền lợi thiết thân của chúng tôi, và không ai nên đánh giá thấp ý chí của chúng tôi, và sự kiên trì bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền và quyền hàng hải của chúng tôi.”[4]

Nhiệm vụ khó khăn của chính quyền Obama, như vậy, là phải khéo léo theo đuổi một chính sách hết sức an toàn đối với các đồng minh, và luôn sẵn sàng thương thảo với các xứ như Trung Quốc.

Thái Độ của Giới Lãnh Đạo Quân Sự Hoa Kỳ Đối Với Trung Quốc

Các lãnh đạo quân sự, kể cả Hagel và Obama, đã trách móc các động thái kiểm soát không phận trong vùng Biển Hoa Đông gần đây của Trung Quốc như những hành động gây rối và đe dọa đối với sự ổn định trong khu vực. Đây là các động thái mới trong một chuổi thám hiểm bắt đầu từ các năm 2008 và 2009 của hải quân Trung Quốc, nhằm bảo đảm quyền đánh cá trong các vùng nước cạn và hải đảo trong các khu vực chia sẻ với các đồng minh của Hoa Kỳ như Philippines, Nhật , cũng như Việt Nam.

Tình trạng căng thẳng đó đã buộc các quốc gia láng giềng phải yêu cầu Hoa Kỳ có phản ứng. Nhiều phái đoàn thiện chí, kể cả phái đoàn gần đây nhất do Phó Tổng Thống Joe Biden lãnh đạo, đã tìm cách bảo đảm với các đồng minh trong khu vực Hoa Kỳ sẽ giúp giải quyết vấn đề.

Sự hiện diện của Hoa Kỳ có ý nghĩa khá nhiều. Sự kiện Obama đã bị buộc phải vắng mặt trong cuộc họp ASEAN gần đây nhất, trong tháng 10-2013, vì một cuộc khủng hoảng ngân sách khác ở quốc nội, đã đưa đến một giây phút bộc trực từ một nhà ngoại giao Nhật. Shigeo Yamaha, một viên chức chính trị thuộc tòa đại sứ Nhật ở Hoa Kỳ tại hội nghị trong tháng 10-2013, đã tuyên bố: “Thật không may tổng thống [Obama] đã không thể đến Á Châu mùa hè nầy. Đặc biệt ở Á châu, sự hiện diện luôn mang rất nhiều ý nghĩa.”[5]

Russel, thuộc Bộ Ngoại Giao, đã phát biểu: “Đây không phải là trò chơi lợi cho người nầy thì hại cho người kia (zero-sum game). Thái Bình Dương đủ rộng lớn cho mọi người, và chúng tôi không đi tìm các quốc gia phải chọn lựa giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.”[6]

GÓC NHÌN TRUNG QUỐC

Tất cả các cuộc thảo luận về các trò chơi quyền lực trong vùng Thái Bình Dương đều bắt đầu và chấm dứt với thực tại Trung Quốc. Theo Bonnie Glaser, một chuyên gia về Á Châu-Thái Bình Dương thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế có trụ sở ở D.C., và chuyên gia tư vấn của hai bộ Quốc Phòng và Ngoại Giao trước đây, “Á Châu-Thái Bình Dương về nhiều phương diện không phải chỉ là trò chơi về khả năng, mà là một trò chơi về nhận thức.”[7]

Cũng theo Glaser, các quốc gia trong khu vực rất lo ngại sự hiện diện và quyền lực ngày một gia tăng của Trung Quốc. “Họ âu lo Hoa Kỳ sẽ bị thu hút một lần nữa vào Trung Đông và sẽ không đủ khả năng ngăn chặn Trung Quốc. Hoặc chúng ta sẽ không sẵn sàng đứng lên đối mặt với Trung Quốc trong trường hợp Trung Quốc sử dụng các phương tiện cưỡng chế chống lại họ.”[8]

Philippines, chẳng hạn, đã đánh mất quyền đánh cá chung quanh các khu nước cạn Scarborough Shoals trong năm 2012 sau khi các tàu chiến Trung Quốc đã giành được quyền kiểm soát các khu vực kế cạnh. Các khu vực nhiều hải sản chỉ cách xa đất liền Philippinnes khoảng 140 dặm, và khoảng 500 dặm từ lục địa Trung Quốc.

Hòa Bình Ở Á Châu

Theo Bonnie Glaser, “Nhiều quốc gia yếu kém, dễ bị tổn thương, nhỏ bé, cảm thấy bị nhiều sức ép đã phải thích nghi với Trung Quốc, mặc dù trong vài trường hợp, họ không hề muốn. Nếu bạn ở gần bờ biển Trung Quốc, trên bình diện địa lý, bạn luôn cảm nhận bạn dễ bị thương tổn.”[9]

Trong địa hạt an ninh, một vài xứ muốn nương tựa vào Hoa Kỳ. Vài xứ khác ước muốn Hoa Kỳ luôn hiện diện như một đối trọng đối với Trung Quốc.

Trung Quốc là đối tác số 1 đối với 124 quốc gia tính đến cuối năm 2013. Hoa Kỳ chỉ có 76 đối tác như thế. Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng gần 8% trong năm rồi, so với 3,6% của Hoa Kỳ. Giữ vai trò một đối trọng thật sự rất khó lòng đối với Hoa Kỳ.

Lực lượng quân sự của Trung Quốc kém xa Hoa Kỳ về khả năng và năng lực, nhưng tăng trưởng hàng ngày song song với nền kinh tế ngày một kỹ nghệ hóa cao độ. Trong tháng 10-2013, Trung Quốc đã tiết lộ một tên lửa di động có đủ tầm với và khả năng tiêu hủy một tàu sân bay. Hoa Kỳ sử dụng những tàu chiến khổng lồ như cơ sở hàng hải.

Tom Snitch, một chuyên gia Á Châu, cố vấn kiểm soát vũ khí hạt nhân bên cạnh Bộ Ngoại Giao trong thập kỷ 1980, đã cho biết: “Nếu bạn có một tên lửa siêu thanh có thể phóng tới một tàu sân bay ở cách xa bạn một nghìn dặm, tàu sân bay còn có ý nghĩa gì?

Khi bạn nghĩ những gì người Trung Quốc có thể làm khi họ có đủ ý chí chính trị, quyết tâm và tài nguyên, và nếu họ tiếp tục di chuyển theo chiều hướng đó, bạn đang phải đối mặt với một đối thủ cạnh tranh có quyền lực thực sự ở Á Châu.”[10]

Snitch muốn nói đến chiến thuật sử dụng ngày một nhiều quyền lực và từ từ tiến tới kiểm soát toàn bộ khu vực của chính quyền Trung Quốc. Họ có lẽ đang nghĩ, phải chăng Hoa Kỳ đang thiết kế chốt Á Châu-Thái Bình Dương? Nếu vậy, hãy thử xem chốt đó sẽ mạnh đến mức nào. Trung Quốc cũng muốn thăm dò xem Hoa Kỳ đang sẵn sàng cam kết uy tín quốc gia, quyền lực, và quan hệ kinh tế đến mức độ nào.

Chỉ đơn thuần chạy theo tốc độ phát triển kỹ thuật của Trung Quốc cũng đã là một công tác khổng lồ. Thực sự không ai có thể tiên đoán một cách chính xác khả năng bắt kịp Trung Quốc của Hoa Kỳ trong tương lai dài lâu.

Tái Cân Bằng Đang Hụt Hơi

Theo Glaser, “đây không phải là một đề tài tĩnh. Đây là đề tài rất năng động. Người Trung Quốc luôn di chuyển về phía trước. Họ sản xuất rất nhiều chiến hạm, rất nhiều tiềm thủy đỉnh. Họ có một số lượng tên lửa khổng lồ và rất chính xác. Đây là một thách thức đối với Hoa Kỳ phải duy trì khả năng tiếp cận và tự do thao diễn. Đó là một dấu hỏi lớn lao.”[11]

Xin Đừng Bỏ Cuộc

Vẫn còn hy vọng khi Hoa Kỳ và Trung Quốc vẫn đang tiếp tục thẩm định quan hệ giữa hai quốc gia trong khu vực. Theo Singh từ Bộ Quốc Phòng, “chúng tôi tự cảm thấy như một thành phần trong cùng một gia đình trong khu vực nầy. Có những lúc Hoa Kỳ không đồng ý với các đồng minh của gia đình và giữa các đồng minh với nhau. Chúng tôi không quá ngây thơ để cả tin đã thấu triệt được mọi chông gai khi phải đối phó với một số vấn đề như vậy.”[12]

Trong thực tế, lối ứng xử của Trung Quốc luôn mang tính tự nhiên của một đại cường đang đi lên. Singh chỉ muốn cảnh cáo những động thái có thể xem như mang tính gây bất ổn định. Theo Singh, Trung Quốc và các quốc gia trong khu vực có bổn phận chỉ đưa ra những đòi hỏi dựa trên luật pháp quốc tế.

Và các xứ khác cũng đang bắt đầu chấp nhận một phần gánh nặng lớn hơn. Nhật Bản gần đây đã loan báo có thể gia tăng ngân sách quốc phòng 5% trong vòng 5 năm tới, về phi cơ giám sát không người lái, các chiến đấu cơ phản lực, và các diệt lôi hạm.

Russel thuộc Bộ Ngoại Giao cũng cho biết “không khí căng thẳng với Trung Quốc cho thấy tầm quan trọng của các nỗ lực can dự cấp cao giữa hai quốc gia.”

Ông nói tiếp, “chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc với Trung Quốc trong cả hai địa hạt có thể thỏa thuận và bất đồng. Nhằm mục đích tìm cách giải quyết một số thử thách cấp thiết — biến đổi khí hậu, cấm phổ biến nguyên tử, phát triển bền lâu — tất cả các quốc gia trong khu vực sẽ phải cùng nhau làm việc.”[13]

Nhưng triệt thoái khỏi Trung Đông, nhất là khỏi Afghanistan, vẫn là thử thách nghiêm trọng nhất đối với Hoa Kỳ, nhất là khi Hoa Kỳ phải cùng lúc tăng cường sự hiện diện trong nhiều khu vực khác.

Chiến Tranh Trên Bộ ở Á Châu

Iraq và Afghanistan là hai quốc gia hoàn toàn tách biệt về tài nguyên thiên nhiên cũng như phát triển. Tuy vậy, các quan chức giữ vai trò quyết định không thể làm gì khác hơn là nhìn bạo lực đang nhận chìm Iraq kể từ ngày quân đội Mỹ triệt thoái trong năm 2011, như một cảnh cáo nghiêm trọng đối với mọi quyết định rời bỏ Afghanistan quá sớm. Số quân nhân có thể được phép tiếp tục đồn trú ở Afghanistan sau năm 2014 hiện chưa rõ ràng. Vài ước tính rò rĩ cho biết con số để lại phía sau có thể lên tới 10.000 theo dự thảo thỏa ước BSA. Quân số nầy nhỏ hơn con số 13.600 cần thiết , do John Allen và Jim Mattis, hai tướng tư lệnh thủy quân lục chiến được trọng nễ về khả năng lãnh đạo và hoạch định ở Afghanistan, khuyến cáo. Con số nầy, tuy vậy, cũng chỉ là con số ước tính khá bảo thủ so với số quân tuyệt đối cần thiết.

Mattis, nguyên tư lệnh thuộc Bộ Tư Lệnh Trung Ương và nổi tiếng bộc trực, trước đây đã cho biết nhu cầu của Afghanistan có thể trên 20.000 quân trong một thời gian dài lâu, mặc dù hiểu rõ các chính trị gia ở Hoa Thịnh Đốn rất có thể sẽ cắt xén.

Mattis đã tuyên bố trước Ủy Ban Quân Lực Thượng Viện trong tháng 3-2013:”Trong lúc những tiến bộ không thể chối cãi ở Afghanistan đã được ghi nhận, tiến bộ và bạo lực luôn cùng hiện hữu.” Mattis cũng đã đơn cử “sự thiếu vắng cam kết của Hoa Kỳ có thể nhận thức được trong khu vực” như một trong những đe dọa lớn nhất đang đối diện xứ sở.” Cảm tưởng nầy, nếu không được tích cực xóa bỏ, bất cứ sự thiếu rõ ràng nào đối với ý định của Hoa Kỳ trong khu vực, đặc biệt đối với tương lai Afghanistan, hòa bình ở Trung Đông, và định hình một kết cục có thể chấp nhận được ở Syria, cũng có thể giảm thiểu sự cam kết của các đồng minh đối với lập trường của chúng ta và đem lại khoảng trống không gian các tay chơi khác sẵn sàng lấp đầy với vai trò lãnh đạo khó chấp nhận.”

Mattis nói thêm, sự thành công ở Afghanistan một phần lớn lệ thuộc vào hậu thuẩn liên tục từ phía Hoa Kỳ, nhất là trước cuộc bầu cử ở Afghanistan trong năm 2014, cũng như vào việc bảo toàn khả năng tự chiến đấu của các Lực Lượng An Ninh Quốc Gia Afghanistan (ANSF). “Không dành sự hỗ trợ cho ANSF sẽ hạn chế rất nhiều khả năng của chúng ta ngăn ngừa sự trở lại địa bàn ẩn náu an toàn của các lực lượng khủng bố và một sự trỗi dậy của phe Taliban đang đe dọa chính quyền Afghanistan. Kẻ thù của chúng ta đang tự che dấu và kiên nhẫn chờ cơ hội để trỗi dậy theo đuổi các nghị trình của mình.” [14]

Liệu sự cam kết của Hoa Kỳ đối với Á Châu sẽ dài lâu hơn một thập kỷ can dự ở Iraq và Afghanistan vẫn còn chờ được ấn định, nhất là trong số những người đo lường thời gian bằng thế kỷ.

TRẬT TỰ Á CHÂU-THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ TỪ GÓC NHÌN CỦA NHẬT

Vào những ngày đầu tháng 12-2013, lễ kỷ niệm lần thứ 70 Bản Tuyên Ngôn Cairo đã được tổ chức ở nhiều nơi trên toàn cầu để ghi nhận lòng yêu chuộng hòa bình và tôn trọng công lý của nhân loại.

Ngày 01-12-1943, lãnh đạo Trung Quốc, Hoa Kỳ, và Anh Quốc đã công bố Bản Tuyên Ngôn Cairo, kêu gọi một chiến thắng sau cùng trong cuộc chiến chống phát xít trên mặt trận phía Đông. Bản Tuyên Ngôn đã bày tỏ sự quyết tâm loại bỏ chủ nghĩa phát xít Nhật và buộc Nhật phải trao trả “tất cả các lãnh thổ đã xâm chiếm vì tham lam và bạo lực” trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương. Bản Tuyên Ngôn cũng đã củng cố quy chế pháp lý quốc tế về sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc.

Trên căn bản của Tuyên Ngôn Cairo, Phe Đồng Minh đã thiết kế Bản Tuyên Bố Potsdam trong năm 1945, loan báo cuộc chiến chống phát xít đã chấm dứt và buộc Nhật phải đầu hàng vô điều kiện. Bản Tuyên Bố cũng là căn bản pháp lý cho việc thực thi các điều khoản của Tuyên Ngôn Cairo và cơ chế hòa bình toàn cầu trong thời hậu chiến đang được thiết kế.

Bản văn Tuyên Chiến với Nhật Bản ngày 9-12-1941 do chính quyền Trung Quốc công bố cũng đã ghi rõ “tất cả các hiệp ước, thỏa ước và hợp đồng liên can đến quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản sẽ bị hủy bỏ.”

Tuyên Chiến với Nhật của Trung Quốc, Tuyên Ngôn Cairo, Tuyên Bố Potsdam và Hiệp Ước Yalta, cùng với các vụ xét xử phát xít hậu chiến, các bản án của tòa, và các sắp xếp định chế , đều là những phần quan trọng của hệ thống quan hệ quốc tế và hệ thống pháp lý quốc tế hiện đại sau Đệ Nhị Thế Chiến. Hiện nay tất cả vẫn còn hiệu lực bó buộc không thể tranh cãi.

Hiện nay, trong khi thế kỷ mới đã đi vào thập kỷ thứ hai, Hoa Kỳ đã phát động chiến lược tái cân bằng trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, chính quyền Nhật đã có những tác động gây hấn, khuấy động các tranh chấp lãnh thổ với các quốc gia lân bang, không chút quan tâm đến trật tự thế giới được thiết kế sau khi cuộc chiến chống phát xít thành công. Các động thái nầy đã gây căng thẳng trong khu vực và đã cản trở các quốc gia khác trong vùng đang theo đuổi các mục tiêu hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Hành động của Nhật cũng là một trở ngại đối với chiến lược tái cân bằng của Hoa Kỳ.

Trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ, những luận cứ của Nhật đều sai lầm trên cả hai bình diện lịch sử và pháp lý.

Một mặt, Nhật tự nhận là quốc gia đầu tiên ở Á Châu đã thiết kế “100 năm lợi thế trong hệ thống xã hội” nhờ ở sự khai triển chủ nghĩa đế quốc sau Thời Phục Hưng Minh Trị Thiên Hoàng, một nỗ lực bạch hóa lịch sử xâm chiếm lãnh thổ các xứ khác bằng vũ lực và thực thi chính sách thuộc địa ở Á Châu.

Một mặt khác, Nhật nhấn mạnh hệ thống pháp lý quốc tế sau Đệ Nhị Thế Chiến vẫn chỉ là sự tiếp nối “hệ thống pháp lý hiện đại cơ sở trên Thỏa Ước Hòa Bình Westphalia. Nhật từ chối công nhận hệ thống pháp lý quốc tế đương đại được thiết kế cơ sở trên cuộc chiến chống phát xít và trật tự thế giới hậu chiến.

Nhật lập luận, sự sáp nhập từ thôn tính thuộc địa là cội nguồn duy nhất của chủ quyền lãnh thổ. Bằng cách đó, chính quyền Nhật đã khuấy động nỗi luyến tiếc mang tính quốc gia chủ nghĩa trong quốc nội và phát động các đòi hỏi lãnh thổ trên thế giới. Những quan điểm lịch sử và luật quốc tế hữu khuynh nầy trái ngược với ý niệm công lý khai triển trong trật tự thế giới hậu chiến và cấu thành một vi phạm trắng trợn các nguyên tắc căn bản của hệ thống pháp lý quốc tế đương đại.

Nhật đã dõi theo con đường hữu khuynh ngày một xa hơn kể từ khi Shinzo Abe trở lại nắm chính quyền. Abe đã tái thiết chế lý thuyết ông đã tìm cách thực thi trong suốt nhiệm kỳ đầu, nói rõ hơn, là trở lại khởi điểm sau Đệ Nhị Thế Chiến và thay đổi hệ thống hậu chiến. Lấy lý do phục hồi ý thức lịch sử và văn hóa ưu việt của Nhật, Abe đã gợi ý xét lại hiến pháp chủ hòa thời hậu chiến của Nhật. Abe đã tỏ rõ ý muốn thay đổi quy chế của Nhật như một vịt què trên bình diện chính trị quốc tế trói buộc bởi Hoa Kỳ và mở ra một kỷ nguyên chính trị quốc tế mới.

Trong chính quyền đối nội, Abe ấp ủ chủ nghĩa toàn trị và tìm kiếm quyền lực độc tôn của một thủ tướng. Ông đã bổ nhiệm nhiều bà con, bạn bè và con cháu của các bạn bè của các bậc cha anh vào các chức vụ thứ trưởng hay quan chức hành chánh. Những động thái nầy đã vi phạm nguyên tắc dân chủ: “các viên chức dân sự phải giữ thái độ trung lập chính trị.” Xúc tiến “hội nghị bảo đảm an ninh quốc gia mới đây” và “luật bảo vệ các tài liệu tối mật” của Abe đã phản ảnh khuynh hướng độc tài trong chính trị Nhật Bản. Những động thái nầy đã bị các cơ quan truyền thông quốc nội chỉ trích như “phủ nhận quyền tiếp cận thông tin của công chúng” và phục hồi (resurrection) Taisei Yohusankai hay “Hiệp Hội Trợ Giúp Đế Chế” (Imperial Aid Association), một tổ chức bán phát xít do giới quân phiệt Nhật tạo lập trước Đệ Nhị Thế Chiến.

Về vấn đề Á Châu, chính quyền Abe đang theo đuổi “chiến lược cổng Á Châu” (Asia Portal strategy), chủ trương:”Nhật Bản là đại diện của Á Châu.” Một mặt, Nhật đang thúc đẩy mạng lưới bao vây Trung Quốc; một mặt khác, Nhật đang sử dụng TPP, căn cứ quân sự của Hoa Kỳ, và chính sách quốc phòng hỗn hợp, để can thiệp vào chiến lược tái cân bằng Á Châu-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, nhằm xây dựng một định chế cộng đồng Á Châu do Nhật khống chế loại trừ Trung Quốc và Hoa Kỳ, và chấm dứt trật tự Á Châu hậu chiến.

Các quan điểm về lịch sử, luật quốc tế, và Á Châu của Nhật rõ ràng không những vi phạm Tuyên Ngôn Cairo chống phát xít, Tuyên Bố Potsdam, và Thỏa Hiệp Yalta, mà còn trực tiếp trái ngược với luật pháp quốc tế đương đại. Đó cũng là những quan điểm trái ngược với niềm tin chung vào hòa bình và công lý, và quyền lợi chung của các quốc gia Á Châu-Thái Bình Dương, cũng như quyền lợi của nhân dân Nhật.

*

* *

Nói chung, sau quyết định tái cân bằng và tái cân bằng của tái cân bằng của người Mỹ, bàn cờ chính trị Á Châu-Thái Bình Dương đang diễn ra giữa các tay chơi: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, và ASEAN (không mấy thống nhất).

Đã hẳn, đạt được thế cân bằng quyền lực giữa bốn tay chơi hay có thể nhiều hơn nữa là một nghị trình không dễ hoàn tất. Trong lúc chờ đợi, nhân loại chỉ còn có thể cầu nguyện cho hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên toàn thế giới!

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

11-01-2014

——————————————————————————–

[1] …the US “is here to stay as a pacific power.”

[2]”The last 10 years have been more anomaly than the standard,” says Vikram Singh, a deputy assistant defense secretary and principal adviser to the Pentagon’s top brass on South and Southeast Asian affairs. It’s unusual for the U.S. to fight two simultaneous large-scale wars, he says, adding the shift is about refocusing America’s vast resources on a part of the world “where stability is so important.”

“We have been a Pacific power for generations,” he says, citing the continued American presence in Guam and Japan since the end of World War II. “This is not something new.”

[3] “We can’t afford not to be there,” says Danny Russel, assistant secretary of State for East Asian and Pacific Affairs. “A strong U.S. presence in the region will be essential to peace and prosperity in the 21st century. To focus on the military aspect of the rebalance alone misses the bigger picture, Russel said in an email to U.S. News. “The goals of our rebalance are to modernize and deepen our Asian and Pacific alliances to more effectively cope with the challenges of the 21st century.”

[4] “The Chinese people always have their love of peace,” Gen. Chang Wanquan said. “We insist related disputes be solved through dialogue and negotiation.[However,] nobody should fantasize that China would barter away our core interests, and no one should underestimate our will, and our determination in defending our territory, sovereignty and maritime rights.”

[5] “It was unfortunate that the president couldn’t make it to Asia this summer. Especially in Asia, showing up means a lot.”

[6] This is not a zero-sum game. The Pacific is big enough for everyone, and we are not looking for countries to choose between the U.S. and China.”

[7] The Asia-Pacific is very much not just a capacities game, but it’s a perceptions game.

[8] “They’re worried that the U.S. is going to again get sucked back into the Middle East and won’t be able to deter China,” she says. “Or, we won’t be willing to stand up to China in the event that China is using coercive means against them.”

[9] “Countries that are weak and vulnerable and small feel they are under pressure to accommodate China, when in some cases they don’t want to,” she says. “If you’re close to China’s coastline, you feel you are vulnerable geographically.”

[10] “If you have a hypersonic missile that can hit a carrier from a thousand miles away, what good does a carrier do you?” says Tom Snitch, an Asia expert who served as a nuclear and weapons control adviser to the State Department in the 1980s.When you start thinking about what [the Chinese] have been able to do when they put their political will behind it, and their resources behind it, you’re facing — if they continue to move in this direction — a real contestant to power in Asia.”

[11] “This is not a static issue, it’s very dynamic,” says Glaser. “The Chinese are moving forward all the time. They are churning out lots of ships, lots of submarines. They have an enormous amount of missiles, highly accurate. It is challenging for the U.S. to maintain [its] ability to have access and freedom to maneuver. That’s a big question mark.”

[12] “We see ourselves as a part of the family in this region,” says DOD’s Singh. There are times when the U.S. disagrees with its allies and disagrees among allies, he says. “We don’t want to be naive about how hard some of these things can be to address.”

[13] “We will continue working with China both on areas where we agree and those where we disagree,” he says. “In order to tackle some of our most pressing challenges — climate change, non-proliferation, sustainable development — all countries of the region will have to work together.”

[14] Not supporting the ANSF will greatly limit our ability to prevent the return of terrorist safe havens and a Taliban resurgence that threatens the Afghan government. Our enemies are hedging and contemplating whether the opportunity will arise for them to pursue their agendas.

Advertisements