CHỐT Á CHÂU-THÁI BÌNH DƯƠNG hay DIỆN MẠO MỚI CỦA ĐẾ QUỐC

Vào dịp cập nhật tương lai cuốn Từ Điển Quỷ Quyệt (The Devil’s Dictionary) của tác giả Hoa Kỳ, Ambrose Gwinnett Bierce (1842-1914), chuyên mổ xẻ các đạo đức giả ngôn ngữ học (linguistic hypocrisies) trong đời sống hiện đại, một từ duy nhất sẽ đi kèm cụm từ mới “Chốt Thái Bình Dương”: triệt thoái (retreat).

Thực tế nầy có thể biểu hiện phương cách định tính kỳ lạ: một nỗ lực hăng say tái định hướng chính sách quân sự và đối ngoại của chính quyền Obama đối với Á Châu. Xét cho cùng, đội ngũ của Obama đã nhấn mạnh: chốt Thái Bình Dương là một tái khẳng định hùng mạnh quyền lực của Hoa Kỳ trong một khu vực chiến lược trên thế giới, và một tái xác quyết được cân nhắc cẩn trọng đối với các đồng minh của Hoa Kỳ trong chiến lược chống Trung Quốc.

Thực vậy, đôi khi “chốt Thái Bình Dương” hình như không hẳn là một vạn ứng linh đơn đối với các căn bệnh trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Phải chăng nguyên nhân chính là thái độ bối rối trước các tai họa ở Iraq và Afghanistan? Hay vì âu lo các đối thủ đang tan biến và Ngũ Giác Đài đã đánh mất lý do để hiện hữu?

Như vậy, liệu có nên theo gót Trung Quốc, siêu cường tương lai duy nhất đang lên? Và nếu mọi người đang âu lo về tình hình kinh tế Hoa Kỳ hiện nay, lúc đó Tổ Chức Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership hay TPP), một thỏa ước mậu dịch tự do cấp vùng Hoa Kỳ đang thương thảo, có thể là liều thuốc tăng cường các đại công ty Hoa Kỳ đang thèm muốn.

Tuy nhiên, trong thực tế, “tái cân bằng chiến lược” đã được chính quyền Obama xúc tiến như một đông thái điều chỉnh chính sách đối ngoại giữa nhiệm kỳ vẫn chỉ mạnh mẽ trong ngôn từ và khá yếu ớt trong thực chất. Xét cho cùng, trong kỷ nguyên thắt lưng buộc bụng và công luận quốc nội đang chống đối, Hoa Thịnh Đốn có thể gặp nhiều khó khăn di chuyển một số tài nguyên phụ trội đáng kể đến Á Châu. Ngay cả thỏa ước TPP cũng là chỉ là một xác nhận khá nhiều quyền lực kinh tế trong khu vực đã nằm trong tay Trung Quốc.

Ngoài ra, thiết tưởng cũng cần lưu ý đến một giai đoạn lịch sử dài lâu hơn. Tiến trình triệt thoái của Hoa Kỳ khỏi Á Châu đã tiếp diễn từ thập kỷ 1970, mặc dù động thái rút về hậu phương — theo thuật ngữ quân sự nỗi tiếng “strategic movement to the rear — đã không diễn ra nhanh chóng hay đã không được đi kèm bởi cụm từ “sứ mệnh hoàn tất” (mission accomplished).

“Chốt,” một từ được chính quyền quảng bá ồn ào, lúc một tỏ ra như một lỗ hổng chênh vênh ngay từ nền móng.

LỰC LƯỢNG HOA KỲ Ở HẢI NGOẠI ĐANG DẦN DÀ GIẢM THIỂU

Trong thời Chiến Tranh Lạnh, Hoa Kỳ đã lâm chiến và đổ máu ở Á Châu nhiều hơn ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Từ 1950 đến 1953, nhân danh Liên Hợp Quốc, quân lực Hoa Kỳ đã chiến đấu giành quyền kiểm soát trên bán đảo Triều Tiên, để rồi đã phải chấm dứt cuộc chiến với một thỏa ước ngưng bắn và một bế tắc hầu như với cùng một lằn ranh chia cắt như trước khi bắt đầu. Vào một thời điểm, khi cuộc chiến Việt Nam lan rộng trong các thập kỷ 1960 và 1970, số quân Hoa Kỳ ở Á Châu đã lên trên 800.000.

Tuy nhiên, kể từ khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, Hoa Thịnh Đốn đã dần dà, tuy rất chậm chạp, triệt thoái từng đợt khỏi Á Châu. Số quân Mỹ trong vùng cho đến nay đã sụt xuống dưới mức 100.000. Con số nầy đã được ghi nhận trong suốt hai nhiệm kỳ của George W. Bush khi lực lượng quân sự Mỹ đang bị sa lầy ở Iraq và Afghanistan, và nhiều nhà bình luận đã bắt đầu buộc tội chính quyền George W. Bush đã đánh mất Á Châu vào tay một Trung Quốc đang lên.

Nhìn vào những con số trên đây, người ta khó lòng để không kết luận: trọng tâm chiến lược của Hoa Thịnh Đốn đã dịch chuyển dần ra khỏi vùng Thái Bình Dương.

Hãy nhìn kỷ Triều Tiên. Hòa bình vẫn chưa đổ vỡ trên bán đảo nầy. Trong thực tế, vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên và sự canh tân quân sự sâu rộng của Nam Hàn cũng chỉ có tác dụng làm gia tăng tình trạng căng thẳng.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã nhiều lần giảm thiểu, cả về kích cỡ lẫn ý nghĩa, lực lượng quân sự của mình ở Nam Hàn trong một diễn trình thường ngắt quãng. Trong vòng 45 năm vừa qua, Hoa Thịnh Đốn đã ba lần đơn phương rút bớt quân khỏi bán đảo — mặc dù cả ba lần đều không được sự đồng tình của chính quyền Nam Hàn.

Quân số Mỹ đã lên tới gần 70.000 vào đầu thập kỷ 1970 khi chính quyền Nixon lần đầu tiên triệt thoái trọn một sư đoàn 20.000 quân nhân. Về sau, chính quyền Carter, khởi sự cũng muốn triệt thoái toàn bộ lực lượng quân sự Mỹ, nhưng rút cuộc cũng đã phải bằng lòng với quyết định rút bớt một số quân nhỏ bé hơn. Năm 1991, với sự tan rã của Liên Bang Xô Viết, chính quyền George H.W. Bush cũng đã đơn phương rút các vũ khí nguyên tử chiến thuật khỏi bán đảo.

Trong thế kỷ XXI, dấu chân các lực lượng quân sự Mỹ ở Nam Hàn một lần nữa đã giảm thiểu từ 37.000 xuống còn 28.500 hiện nay, lần nầy có sự đồng thuận giữa Hoa Thịnh Đốn và Seoul. Mới đây, Hoa Kỳ đã gửi thêm 800 binh sĩ đến Nam Hàn như tín hiệu cảnh cáo của Mỹ trước thái độ hung hăng của Bắc Triều Tiên, nhưng cũng phải luân chuyển 9 tháng một lần.

Ngoài ra, số quân Hoa Kỳ đồn trú gần vùng phi quân sự giữa Nam và Bắc Hàn từ lâu đã mang ý nghĩa một cam kết: Mỹ sẽ can thiệp trong bất cứ một xung đột nào xẩy ra giữa hai chính quyền Nam và Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, Ngũ Giác Đài gần đây đã ám chỉ sẽ để lại phía sau một số quân. Cả hai xứ vẫn còn đang thương thảo việc chuyển giao, sáu thập kỷ sau cuộc chiến, trách nhiệm “kiểm soát hành quân thời chiến” (wartime operational control), một việc lẽ ra đã phải thực hiện từ lâu. Sự giảm bớt quân lực thường khi đi kèm với quyết định đóng cửa và củng cố các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ, kể cả số quân khá lớn đồn trú ngay giữa thủ đô Seoul của Nam Hàn. Nhiêm vụ kiểm soát hành quân thời chiến sẽ được hoàn toàn trao lại cho người Triều Tiên trong ít năm sắp tới.

Dù sao, “dấu chân” quân lực Mỹ đang ngày một thu gọn không chỉ ở Triều Tiên. Một quá trình tái phối trí âm thầm hơn đã giảm thiểu quân số Mỹ trên bộ ngay cả ở Nhật, từ khoảng 46.000 trong năm 1990 xuống còn 38.000 hiện nay. Và những thay đổi lớn hơn cũng đang được cứu xét.

Vào năm 2000, nhân một cuộc viếng thăm Okinawa, một hải đảo cực Nam Nhật Bản, Tổng Thống Bill Clinton đã hứa hẹn sẽ rút bớt quân Mỹ trên hải đảo. Vào thời điểm đó, dân chúng Okinawa rất giận dữ về một loạt sát hại và hãm hiếp, cũng như nhiều tai nạn, liên quan đến quân nhân Hoa Kỳ gây thương vong và đe dọa sức khỏe của quần chúng Okinawa với đủ thứ ô nhiễm, do sự hiện diện của hơn 30 căn cứ quân sự của Mỹ.

Kể từ đó, Hoa Thịnh Đốn đã theo đuổi một kế hoạch đóng cửa căn cứ Không Lực-Thủy Quân Lục Chiến lâu đời Futenma Marine Air Force Base — một cơ sở tọa lạc một cách nguy hiểm ngay giữa lòng một thành phố hiện đại — và xây dựng một căn cứ thay thế ở một nơi khác trên hải đảo. Kế hoạch đó cũng đòi hỏi tái phân phối 9.000 lính thủy đánh bộ trong vùng Thái Bình Dương. Nếu kế hoạch được thực thi, lực lượng quân sự Mỹ ở Nhật sẽ giảm bớt khoảng 25%.

Tại những nơi khác thuộc Á Châu, dưới áp lực chống đối của dân địa phương, Hoa Kỳ đã phải đóng cửa hai căn cứ quân sự ở Philippines trong năm 1991, rút bớt gần 15.000 quân khỏi xứ nầy và thay thế các căn cứ thường trực bằng một “thỏa ước thăm viếng bởi các lực lượng quân sự khiêm tốn hơn,”– a more modest visiting forces agreement.

Trong những năm gần đây, Hoa Thịnh Đốn cũng đã “thương thảo các thỏa ước hợp tác”với nhiều xứ khác trong khu vực, kể cả cựu thù Việt Nam, tuy vậy, vẫn chưa xây cất bất cứ căn cứ mới quan trọng nào. Ngoài những lực lượng ở Nhật, Nam Hàn, và trên các tàu chiến và tiềm thủy đỉnh, sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ trong phần còn lại của khu vực Á Châu-Thái Bình Dương đều không đáng kể.

Đã hẳn, một sự giảm bớt về nhân số và đóng cửa một số căn cứ không nhất thiết phải là những dấu hiệu triệt thoái. Xét cho cùng, Ngũ Giác Đài đã chú tâm chuyển tiếp đến một tư thế tác chiến mềm dẻo hơn, xem nhẹ những căn cứ cố định và thay thế bằng các đơn vị đáp ứng nhanh và nhẹ nhàng hơn. Trong khi đó, sự canh tân và hiện đại hóa quân lực Hoa Kỳ đã có nghĩa hỏa lực đã gia tăng ngay cả khi dấu chân của quân lực ở Á Châu-Thái Bình Dương đã giảm bớt. Ngoài ra, Hoa Kỳ đã đặt nặng việc sử dụng các Lực Lượng Hành Quân Đặc Biệt như một phần của chiến lược chống khủng bố trong những xứ như Philippines, Thailand, và Indonesia, trong khi đẩy mạnh một vài lớp tường tên lửa tự vệ tầm xa trong khu vực. Tất cả các chính sách đó đã đi trước chốt Á Châu-Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, xu hướng mới kể từ thập kỷ 1970 đang ngày một rõ nét. Ngay cả khi khả năng đã được nâng cấp, lực lượng quân sự Hoa Kỳ cũng đã từ từ chuyển sang phòng tuyến ngoại vi Á Châu, với các căn cứ Guam và Hawaii ngày một quan trọng trong khi các căn cứ ở Triều Tiên và Nhật Bản đang âm thầm xuống cấp.

Trong khi từ bỏ một phần phạm vi ảnh hưởng, Hoa Thịnh Đốn cũng đang gia tăng sức ép đối với các đồng minh, buộc họ phải gánh chịu một phần kinh phí hỗ trợ các lưc lượng Hoa Kỳ hiện diện trên lãnh thổ ngày một lớn hơn, tạo mãi các hệ thống vũ khí từ Hoa Kỳ ngày một tốn kém, và nâng cấp hay tăng cường quân lực của chính mình.

Cũng như trước đây người Mỹ đã từng tìm cách Việt-Nam-hóa và Iraq-hóa hai cuộc chiến trong cùng lúc chính người Mỹ đang triệt thoái đội quân viễn chinh, Hoa Kỳ ngày nay cũng đã dần dà xúc tiến chính sách Á-Châu-hóa Thái Bình Dương.

CHỐT HỮU DANH VÔ THỰC

Chốt Á Châu đã được quảng bá như phương cách chận đứng xu hướng đang trôi dạt bất định và củng cố địa vị của Hoa Kỳ như tay chơi Á Châu. Tuy nhiên, cho đến nay, tái cân bằng, tuy được cổ súy ồn ào, trong thực tế, chính yếu cũng chỉ là một trò chơi rỗng ruột, một shell game, một hình thức hoán chuyển các lực lượng Hoa Kỳ ngay bên trong Á Châu.

Trò chơi nầy đã hoán vị 18.000 lính thủy đánh bộ tại căn cứ Futenma. Trên hơn 15 năm qua, Hoa Thịnh Đốn và Tokyo đã không thể đạt được một thỏa ước đóng cửa căn cứ Futenma đã xuống cấp và thiết kế một căn cứ thay thế. Đại đa số cử tri Okinawa vẫn bác bỏ kế hoạch xây một căn cứ mới, một căn cứ gây tai họa môi sinh trên hải đảo. Ngoài ra, Okinawa cũng đã là nơi đồn trú của hơn 70% các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ ở Nhật Bản, và cư dân trên hải đảo cũng đã chán ngán các tai ương các quân nhân Mỹ đã gây ra cho các cộng đồng sở tại.

Không sớm thì muộn, khoảng 5.000 lính thủy đánh bộ sẽ được chuyển đến một căn cứ nới rộng trên đảo Guam, một dự án khổng lồ do chính quyền Nhật Bản tài trợ. 2.700 thủy quân lục chiến khác sẽ được tái bố trí đến Hawaii. Và khoảng 2.500 thủy quân lục chiến khác sẽ được luân chuyển qua căn cứ Không Quân Hoàng Gia Úc ở Darwin.

Từ 8.000 đến 10.000 thủy quân lục chiến sẽ tiếp tục đồn trú ở Okinawa — hay, ít ra, Hoa Thịnh Đốn và Tokyo có thể muốn như thế. Và điều nầy còn lệ thuộc ở vòng đàm phán mới nhất đang diễn tiến.

Vào cuối tháng 12-2013, Thống Đốc Okinawa, Hirokazu Nakaima, đã thay đổi lập trường và không còn chống đối việc thiết kế một căn cứ mới, một phần với ngân khoản 300 tỉ yen mỗi năm Tokyo đã hứa bơm vào kinh tế Okinawa trong 8 năm sắp tới.

Tuy vậy, thỏa ước nầy vẫn chưa hoàn toàn ngã ngũ. Trong cuộc bầu cử trong tháng giêng 2014 trong thành phố Nago, đơn vị có thẩm quyền đối với Henoko, địa điểm của căn cứ mới sẽ được xây dựng, Thị Trưởng Susumu Inamine đã thắng cử nhiệm kỳ hai sau khi cam kết tiếp tục chống đối dự án xây dựng liên hệ. Số cử tri đi bầu khá cao, cũng như biên độ tái đắc cử của Inamine — mặc dù đảng cầm quyền bảo thủ hứa sẽ cung cấp 50 tỉ yen cho Nago nếu cử tri từ chối hậu thuẩn thị trưởng đương nhiệm. Cùng lúc, các nhóm công dân khác cũng đang tiếp tục tìm cách chận đứng dự án trước tòa.

Ngoài việc hoán chuyển thủy quân lục chiến trong vùng Thái Bình Dương, chốt Á Châu còn có thể làm được gì khác? Cũng chẳng bao nhiêu! Bốn tàu chiến cận duyên đang được gửi đến Singapore để tăng cường lực lượng tuần duyên trong khu vực. Bắt đầu với một cử chỉ nhỏ: chiếc tàu thực nghiệm, với phí tổn sản xuất vượt quá ngân sách dự trù khá nghiêm trọng, cũng đã là một thất bại. Chiếc thứ nhất, đến được Singapore, cũng đã phải trở về cảng xuất phát chỉ sau 8 giờ hạ thủy — vấn đề mới nhất trong chuổi các vấn đề đang khiến Quốc Hội phải tái xét số phận của chương trình.

Ngũ Giác Đài cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của một tái điều chỉnh hoạch định thế cân bằng các hạm đội Hoa Kỳ trên toàn cầu. Hiện nay, tỉ số bố trí các tàu chiến trong Thái Bình Dương và bên ngoài Thái Bình Dương là 50-50. Trong những năm sắp đến, tỉ số nầy có thể thay đổi thành 60-40, có lợi cho Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, tỉ số tự nó sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu tổng số các hạm đội sụt giảm. Hải Quân mới đây đã đệ trình kế hoạch gia tăng kích cỡ hạm đội từ 285 hiện nay lên 306 trong vòng 30 năm sắp tới. Nhưng kế hoạch hiện đang cơ sở trên những phân phối ngân sách tương lai tưởng tượng: 1/3 cao hơn những phân phối Hải Quân đã nhận được trong các thập kỷ gần đây. Một kịch bản thực tế hơn, trong kỷ nguyên thắt lưng buộc bụng, là một sụt giảm kích cỡ hạm đội xuống mức 250 tàu chiến hay ít hơn, khi số tàu chiến giải nhiệm (decommisioned) cao hơn con số tàu chiến mới gia nhập hạm đội (commissioned) hàng năm.

Trong địa hạt không lực, tình trạng cũng không mấy khác. Chốt cũng lúc một bị giới hạn nhiều hơn, so với những gì Hoa Kỳ đang triển khai trong khu vực. Như Michael Auslin thuộc American Enterprise Institute đã xác nhận trước Quốc Hội trong mùa hè vừa qua, “Không Lực Hoa Kỳ đã hoán chuyển các F-22, B-52, và B-2 trong khắp vùng , nhất là ở Guam và Okinawa, và đang có thêm rất ít phi cơ để có thể gửi đi [Á Châu-Thái Bình Dương] một cách đều đặn.”[1]

Thực vậy, Hoa Thịnh Đốn đang thúc đẩy sản xuất các chiến đấu cơ phản lực F-35 — Nhât Bản đã hứa mua 28 đơn vị — nhưng không may cho các đồng minh của Hoa Kỳ. Theo phúc trình của tổng thanh tra Ngũ Giác Đài, loại phi cơ nầy, như hệ thống vũ khí tốn kém nhất trong lịch sử, hiện đang phải đối đầu với 719 vấn đề kỹ thuật. Đó quả thật là quá nhiều vấn đề đối với một hệ thống vũ khí với giá 200 triệu một đơn vị (gần 300 triệu đối với vài hệ thống F-35).

Trọng tâm tương lai của Ngũ Giác Đài ở Á Châu là Không-và-Hải Chiến, một kế hoạch hội nhập liên quân Không và Hải Lực đặc nhiệm, ra đời trong năm 2010, nhằm mục tiêu ngăn cản các quốc gia thù nghịch tiếp cận hải và không phận trong khu vực. Bộ Binh, do cảm nhận bị bỏ quên, cũng đã đưa ra sáng kiến “Pacific Pathways initiative”, nhằm biến cải một lực lượng phần lớn đặt căn cứ trên đất liền thành một lực lượng viễn chinh hàng hải, có khả năng cạnh tranh với Lính Thủy Đánh Bộ.

Tuy nhiên, các đồng minh của Hoa Thịnh Đốn trong vùng Thái Bình Dương cũng không nên đặt nhiều hy vọng ở các kế hoạch nầy. Chương trình trong thực tế chỉ là một nổ lực chặn đứng nạn hao mòn nhân lực trong bộ binh, ước tính khoảng 10% trong vòng vài năm tới — với tín hiệu thu gọn nhiều hơn nữa trong một tương lai gần. Như nhà khoa học chính trị Andrew Bacevich viết, “Các Tuyến Hàng Hải Thái Bình Dương chỉ mơ tưởng một lực lượng tương đối nhỏ sẽ lui tới vùng Viễn Đông, lâm thời khi có biến động, hoặc do thiên tai, hoặc nhân tạo, Bộ Binh sẽ không bị bỏ quên.”[2]

Trong khi chốt Á Châu có thể không mấy quan trọng, vẫn có một điều khá chắc chắn: Chốt sẽ rất tốn kém, ngay cả khi đã có sẵn phần đóng góp của các đồng minh. Chẳng hạn, dự án mở rộng căn cứ Guam hiện được ước tính tốn khoảng 8,6 tỉ USD hay nhiều hơn nữa, với chỉ 3 tỉ do Tokyo đóng góp. Theo ước tính của Ngũ Giác Đài, tổng phí tổn di dời Thủy Quân Lục Chiến đã có thể lên đến 12 tỉ. Và theo ước tính của Sở Government Accountability Office, ngay cả con số nầy vẫn còn quá thấp. Riêng phí tổn di dời đến Guam cũng đã gấp đôi. Do đó, không có gì đáng ngac nhiên khi Thượng Viện — trong tinh thần một thỏa ước lưỡng đảng bất bình thường — đã chỉ trích con số chi phí ước tính là quá thấp.

Sự thật đơn giản là Ngũ Giác Đài không còn có đủ tài nguyên như trong nhiều thập kỷ vừa qua để vung vãi. Chỉ riêng phí tổn di dời các lực lượng trong phạm vi Thái Bình Dương cũng đã quá tốn kém, phí tổn khổng lồ của các triển khai mới, quan trọng hơn, thật sự sẽ rất khó lòng được Quốc Hội thông qua. Và đó là chưa kể cử tri trong các quốc gia đồng minh — Nhật, Nam Hàn, và Úc — cũng sẽ chống đối các sắc thuế cần thiết khi chính họ phải bắt đầu thanh toán phần đóng góp của chính mình.

TẠI SAO Á CHÂU? TẠI SAO BÂY GIỜ?

Ngay cả khi chốt Thái Bình Dương là hỏa mù hơn là hỏa lực, Hoa Kỳ cũng không phải chỉ là một cọp giấy ở Á Châu. Siêu cường duy nhất, dù đang trải nghiệm quá trình tuột dốc, vẫn luôn là tay chơi quân sự hùng mạnh nhất trong khu vực. Với tàu sân bay, diệt lôi hạm, chiến đấu cơ phản lực, và tàu ngầm nguyên tử, tất cả đều có nghĩa Hoa Kỳ luôn có thể chứng tỏ uy lực của mình khi cần.

Nhưng yếu tố nhận thức cũng rất quan trọng trong địa chính trị, và hiện nay Trung Quốc đang giữ ưu thế trong trò chơi nhận thức. Bắc Kinh rất giàu tiền bạc và đã sử dụng số ngoại tệ thặng dư lớn lao để gạ gẫm các xứ trong khu vực, ngay cả khi cùng lúc đã phung phí một phần thiện cảm của các quốc gia láng giềng qua các yêu sách lãnh thổ và hành động quân sự. Tuy vậy, trong năm 2010, Trung Quốc cũng đã hợp tác với các lân bang Đông Nam Á thiết lập một khu mậu dịch tự do đủ lớn để cạnh tranh hữu hiệu với Âu Châu và Bắc Mỹ.

Mặc dù Trung Quốc vẫn chưa đủ khả năng phóng chiếu quyền lực của mình, và còn kém xa Hoa Kỳ trong một tương lai có thể tiên liệu, chi tiêu quân sự trên 10% trong suốt thập kỷ vừa qua cũng đã giúp thu hẹp khoảng cách với Nhật và Hàn Quốc.

Tình hình căng thẳng trong vùng đã gia tăng, hậu quả của các tranh chấp về các hải đảo giữa Nhật và Trung Quốc, chung quanh vùng Biển Hoa Nam giàu tiềm năng dầu lửa, và cả trong không phận sau khi Trung Quốc đơn phương thiết lập “khu vực nhận dạng phòng không”[3] của chính mình trong tháng 11, bao gồm cả các hải đảo đang trong vòng tranh chấp Senkaku/Diaoyu.

Hành động “khẳng định quyền lực” của Trung Quốc vẫn là yếu tố duy nhất có thể biến chốt Thái Bình Dương thành một nguy cơ thực tế. Nhiều quốc gia — như Việt Nam hay Philippines — trước đây đã từng có thái độ thiếu rõ ràng đối với sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ, giờ đây đang sẵn sàng trải thảm nghênh đón các lực lượng quân sự Mỹ. Nhật Bản hiện đang lấy cớ đe dọa của Trung Quốc để làm ngơ hiến pháp hòa bình và gia tăng hợp tác với Ngũ Giác Đài. Và Hoa Kỳ cũng đang tỏ ra hăng hái xây đắp các quan hệ song phương — từ Ấn Độ đến Úc Đại Lợi đến Triều Tiên — thành một bờ đê ngăn chặn đà trỗi dậy của Trung Quốc.

Ngay cả khi chẳng có mấy chất lượng, chốt Thái Bình Dương cho đến nay vẫn lúc một mang tính hiện thực bởi lẽ nhiều tay chơi rời rạc đang tìm thấy tính hữu ích của niềm tin.

Đối với Trung Quốc, thực tế nầy đang đem lại một lý do tiện lợi để tậu mãi các hệ thống vũ khí hiện đại nhằm từ chối quyền kiểm soát không và hải phận của Mỹ.

Đối với các đồng minh của Mỹ, chốt Thái Bình Dương đang đem lại một hợp đồng bảo hiểm đòi hỏi họ phải trả bảo phí dưới hình thức tăng cường quân lực của chính mình.

Ở Hoa Kỳ, các thành phần diều hâu đang hoan hỉ với quyết định trở lại Á Châu như một Rambo, trong lúc các thành phần bồ câu than phiền chủ nghĩa võ biền cố hữu trong các chính sách mới. Ngũ Giác Đài đang có thêm cơ hội lựa chọn căn cứ mới; các đại công ty sản xuất vũ khí có nhiều cơ may tìm được các hợp đồng với lợi nhuận kếch sù; nhiều đại công ty khác cũng thấy viễn tượng có nhiều cơ hội tiếp cận các thị trường hải ngoại qua trung gian của thỏa ước TPP.

NGUY CƠ TIỀM ẨN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA GIỚI LÃNH ĐẠO CÁC NƯỚC LỚN

Tuy nhiên, một thực tế quan trọng ở Á Châu cũng cần được lưu ý khi thẩm định chốt Á Châu của một Hoa Thịnh Đốn đang quan tâm ngày một nhiều hơn đến các mối lợi thiển cận trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương.

Kể từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ chưa bao giờ có thể áp đặt ý muốn của mình lên khu vực. Hoa Kỳ đã lâm vào thế bế tắc trong cuộc chiến Triều Tiên, đã phải chấp nhận thất bại trong cuộc chiến Việt Nam, cũng như đã không thể ngăn ngừa Bắc Triều Tiên thủ đắc vũ khí nguyên tử.

Hoa Kỳ cũng không thể ngăn ngừa hai đồng minh Nhật Bản và Nam Hàn tranh giành các hải đảo nhỏ bé giữa hai quốc gia. Và quan hệ kinh tế của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc — một hổ thuộc cơ sở trên sản xuất thái quá và tiêu thụ thái quá — là cái thắng kiềm hãm chủ nghĩa đơn phương và biệt lệ của Hoa Kỳ trong khu vực.

Trong kỷ nguyên kiệm ước kinh tế và phối hợp chính sách với Trung Quốc, chốt Á Châu-Thái Bình Dương không mấy khác một vũ điệu phức tạp trong đó Hoa Kỳ đã bị buộc phải chấp nhận nhiều bước lùi trong khi vẫn thúc đẩy các đồng minh của mình phải tiến bước.

Tình hình có thể xem như lối xử sự “khôn vặt”, nhỏ nhen trong phương cách san sẻ gánh nặng an ninh, nhưng tái cân bằng vẫn rất tốn kém và đầy tai ương… Và Á-Châu-hóa Thái Bình Dương qua xuất khẩu vũ khí và các thỏa ước thăm viếng, trao đổi, và thao diễn quân sự … cũng không mấy khác đổ dầu vào lửa trong cuộc chạy đua võ trang quan trọng nhất trong thế giới ngày nay.

Tàu sân bay cồng kềnh, kệch cởm, ì ạch, được biết như Hiệp Chủng Quốc, lẽ ra đã phải thực thi một chốt xứng đáng với tên gọi: một chuyển dịch từ chủ trương chiến tranh triền miên qua tinh thần yêu chuộng hòa bình. Thay vào đó, Hoa Kỳ chỉ gây xáo động mặt nước và để lại phía sau nhiều bất ổn định.

Trong bối cảnh đó, Thủ Tướng bảo thủ Nhật, Shinzo Abe, một lãnh tụ sốt sắng biến quân lực Nhật thành một lực lượng ngày một ít mang tính tự vệ, rõ ràng đã vi phạm hiến pháp hòa bình của xứ sở, và hy vọng vào một ngày đẹp trời sẽ chấm dứt dị ứng nguyên tử của người Nhật khi chương trình tái võ trang tương lai bắt đầu.

Trong lúc chờ đợi, căng thẳng ngày một gia tăng với lập trường lúc một mang tính khẳng định của Trung Quốc, và với Abe có biệt tài kích động trong phương cách sử dụng lịch sử để thể hiện nghị trình đối nội và gia tăng tình hình căng thẳng trong khu vực.

Trong tháng 12-2013, để kỷ niệm ngày tròn năm đầu trong nhiệm kỳ, Abe đã dành 30 phút đến viếng thăm đền thờ nạn nhân chiến tranh nổi tiếng Yasukuni Shrine, nơi chôn cất 14 tội phạm chiến tranh trong Đệ Nhị Thế Chiến. Cả Trung Quốc lẫn Triều Tiên, từng trải nghiệm cách đối xử bạo tàn bởi quân đội Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến, đã lấy làm kinh ngạc và giận dữ, mặc dù Abe, đã cố tình khởi động và đã cãi chính cuộc viếng thăm chẳng hề có ý định tôn vinh các tội phạm chiến tranh.

Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới Davos trong tuần lễ cuối tháng 1-2014, thủ tướng Nhật lại sử dụng lịch sử các cuộc chiến toàn cầu tai họa để nhấn mạnh đề tài một lần nữa. Đúng vào năm kỷ niệm Đệ Nhất Thế Chiến thứ 100, trong một dịp tiếp xúc với báo chí, thủ tướng Nhật đã so sánh quan hệ giữa Nhật và Trung Quốc hiện nay không mấy khác quan hệ giữa Đức và Anh Quốc trước Đệ Nhất Thế Chiến. Có nghĩa, Abe đã so sánh tình hình Á Châu hiện nay với thời kỳ khi hai đế quốc hùng mạnh nhất (tương tự quan hệ kinh tế của Trung Quốc và Nhật Bản hiện nay) đã lâm chiến và đã biến Âu Châu thành một lò sát sanh khổng lồ.

Được hỏi: Với sự tương đồng theo nhận thức của ông, phải chăng thủ tướng có thể sẽ tìm cách giảm thiểu tình hình căng thẳng hiện nay với Trung Quốc? Thủ Tướng Abe rõ ràng đã cho biết là không — chừng nào Trung Quốc còn tiếp tục vun đắp lực lượng quân sự. Chánh Văn Phòng Phủ Thủ Tướng đã vội vàng nhấn mạnh: Thủ tướng không tiên đoán một cuộc chiến mới.

Trước tinh thần quốc gia và chống Nhật ở Trung Quốc, với cuộc thi đua võ trang ngày một gay gắt, và với các yêu sách lãnh hải gần những khu vực giàu năng lượng mang tính gây hấn của Trung Quốc, đây đúng là thời điểm cần phải tìm cách làm lắng dịu tình hình, thay vì thái độ chẳng mấy ôn hòa của thủ tướng Nhật!

Tuy nhiên, mới đây chính quyền Obama cũng đã hoan hỉ trước quyết định của thủ tướng Abe đầu tư nhiều hơn vào các loại vũ khí tân tiến dành cho quân đội.

Trong một thế giới với tình hình ngày một căng thẳng, trong những năm gần đây, Hoa Thịnh Đốn đã ồn ào quảng bá “chốt” hay “tái cân bằng” Á Châu-Thái Bình Dương. Sự nhấn mạnh của chính quyền Obama rõ ràng đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực qua các động thái tổ chức một vòng đai liên minh các quốc gia chống một Trung Quốc đang lên, và đã “khởi động những âu lo bị ‘bao vây’ hay ‘đắp bờ’ trước đây của Trung Quốc trong kỷ nguyên Chiến Tranh Lạnh.”

Như đã phân tách trên đây, “chốt” của Obama đang chứng tỏ mang nặng các ngôn từ cường điệu nhưng trống rỗng về thực chất — sức mạnh quân sự mới. Những ai quan tâm đến Đệ Nhất Thế Chiến chắc hẳn còn nhớ ngôn từ cường điệu, phối hợp với những tai biến nhỏ và bất ngờ, có thể có đủ lực tác động làm gia tăng căng thẳng đến mức vỡ bờ.

Đã hẵn, thế kỷ XXI không phải là các năm 1914 hay 1941, mặc dù rất có thể không mấy ai đủ quan tâm trước tư duy lỗi thời bên sau chốt Á Châu-Thái Bình Dương của Hoa Thịnh Đốn, sự tăng cường và hiện đai hóa quân sự của Nhật, và các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trên hành tinh hiện nay, “con đường tư bản” của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, được cân bằng một cách mong manh bởi phép lạ kinh tế đang chậm dần, rất có thể sớm đưa Trung Quốc lên địa vị áp đảo như siêu cường tương lai, là một thực tai không ai được quyền xem thường.

Trong thực tế, Hoa Thịnh Đốn cũng nên đặt câu hỏi liệu trên “hành tinh đang trong tình trạng môi trường suy sụp và phản tác dụng phôi thai”, sự trỗi dậy của một đế quốc mới là “một-có-thể”.

Trong giao thời, chốt Á Châu của Hoa Thịnh Đốn đang nhắc nhở chúng ta các đầu óc lãnh đạo trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương cũng rất có thể vẫn còn lưu luyến với kỷ nguyên tiền-Đệ-Nhất-Thế-Chiến.

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

07-02-2014

——————————————————————————–

[1] As the American Enterprise Institute’s Michael Auslin testified before Congress this past summer, “The U.S. Air Force already rotates F-22s, B-52s, and B-2s throughout the region, primarily in Guam and Okinawa, and there are few more planes that can be sent on a regular basis.”

[2] …Andrew Bacevich writes, “Pacific Pathways envisions relatively small elements milling about the Far East so that whatever happens, whether act of God or act of evil-doers, the service won’t be left out.”

[3] …air defense identification zone…

Advertisements