GIÁM SÁT, PHỈ BÁNG, VÀ AN NINH QUỐC GIA

Trong hơn nửa năm vừa qua, các tiết lộ của Edward Snowden về Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (NSA) đã được phổ biến rộng rãi trên các báo Washington Post, New York Times, The Guardian, Der Spiegel ở Đức, và O Globo ở Brazil, cũng như ở nhiều nơi khác. Tuy vậy, không một ai nêu rõ: một phối hợp các yếu tố giúp các chương trình giám sát toàn cầu NSA ngày một lan rộng là việc làm quá dễ dàng và cám dỗ đối với Hoa Thịnh Đốn.

Câu trả lời khá đơn giản. Đối với một đế quốc đang mất dần quyền kiểm soát kinh tế và đang lâm vào thời buổi lúc một phải kiệm ước nhiều hơn, các thành tựu kỹ thuật mới nhất của NSA không mấy khác một giao dịch hời giá khi đang cần phóng chiếu quyền lực và giám sát chặt chẽ các đồng minh chư hầu — trong thực tế, không mấy khác phương cách để chộp lấy độc quyền thế kỷ. Ngay cả khi tai họa rõ ràng đang đi kèm, các chương trình giám sát của NSA đã đến với một giá chiết giảm quá lớn không một quan chức cao cấp nào ở Hoa Thịnh Đốn có thể từ chối.

Trong hơn một thế kỷ, từ chiến dịch bình định Philippines trong năm 1898 đến các cuộc thương thảo với Liên Hiệp Âu Châu ngày nay, giám sát và thu lượm thông tin xấu xa thô bĩ đã là các vũ khí then chốt trong việc tìm kiếm địa vị áp đảo toàn cầu của Hoa Thịnh Đốn. Không có gì đáng ngạc nhiên, trong thời gian hành xử quyền hành pháp lưỡng đảng hậu-11/9, George W. Bush và Barack Obama đã chủ trì quá trình xây dựng từng bước, đôi khi kín đáo, một “chòi canh kỹ thuật số” — a digital panopticon, được thiết kế để kiểm soát sinh hoạt truyền thông của nhân dân Mỹ và lãnh đạo các nước ngoài trên khắp thế giới.

Mục tiêu của chương trình tình báo quốc nội và toàn cầu vô tiền khoáng hậu — một chương trình rõ ràng hàm chứa nhiều tranh luận đầy bất trắc trong quốc nội và ở hải ngoại — là gì?

Để trả lời, một nhận thức lịch sử trên hơn một thế kỷ giám sát của Hoa Kỳ có thể dẫn chúng ta qua vô số thông tin do NSA thu thập, liên quan đến ý nghĩa chiến lược của chương trình đối với siêu cường cuối cùng của hành tinh. Những gì quá khứ phơi bày là một quan hệ dài lâu giữa sự giám sát của chính quyền Hoa Kỳ và các tủi nhục chính trị, một kinh nghiệm giúp soi sáng lý do không được xác nhận tại sao NSA đã phải giám sát các đồng minh thân cận nhất của chính Hoa Kỳ.

Một sự giám sát như vậy không những giúp đem lại tin tức tình báo có lợi cho ngoại giao, quan hệ thương mãi, chiến tranh và hòa bình, mà còn thu thập các thông tin thầm kín riêng tư có thể đem lại lực đòn bẩy — như để hăm dọa hay bắt chẹt — trong các giao dịch và thương thảo nhạy cảm đủ loại.

“Chòi canh toàn cầu” của NSA, như vậy, đã rất cần thiết để thỏa mãn giấc mơ đế quốc lâu đời. Chỉ cần nhấn vài nút then chốt trên bàn phím máy vi tính, NSA đã giải quyết được vấn đề đã gây khó khăn cho các cường quốc trên thế giới, ít ra ngay từ thời Caesar Augustus: bằng cách nào để có thể kiểm soát các lãnh đạo cấp địa phương bất trị, những lãnh đạo thường là nền móng của quyền lực đế quốc, qua việc moi móc tìm kiếm thông tin thiết yếu và thường thô bỉ để uốn nắn hay ép buộc các lãnh đạo địa phương phải vâng theo.

GIÁM SÁT, KIỆM ƯỚC, PHỈ BÁNG

Cho đến nay, một hệ thống giám sát như vậy đã chứng tỏ vừa tốn kém, vừa cần nhiều nhân lực. Tuy nhiên, ngày nay, không như hệ thống giám sát của Quân Đội Hoa Kỳ trong Đệ Nhất Thế Chiến, hay xâm nhập thầm kín và nghe lén điện thoại của FBI trong thời Chiến Tranh Lạnh, NSA có thể giám sát toàn thế giới và lãnh đạo các quốc gia chỉ với một số ít các cuộc điều tra qua cáp quan thính thị (probes into the Internet’s fiber optic cables) trên mạng Internet.

Kỹ thuật mới mang tính “toàn thức” và “toàn cầu”(omniscient and omnipresent), vượt khỏi bất cứ những gì bất cứ ai không được phép tiếp cận các tài liệu tuyệt mật có thể tưởng tượng, ít ra trước các tiết lộ gần đây của Edward Snowden. Chẳng những phổ cập ngoài sức tưởng tượng, hệ thống giám sát NSA còn là một chiến lược đặc biệt ít tốn kém, so với bất cứ hình thức phóng chiếu uy quyền toàn cầu nào khác. Và trên tất cả, hệ thống đã giúp thể hiện giấc mơ đế quốc lớn lao nhất — một hệ thống toàn thức không chỉ hạn chế trong vài hải đảo như ở Philippines cách đây một thế kỷ, hay vài quốc gia như trong kỷ nguyên Chiến Tranh Lạnh, mà thực sự mang tính toàn cầu.

Trong thời buổi kiệm ước ngày một gia tăng ngay cả đối với đế quốc, và khả năng kỹ thuật đặc biệt ngoại lệ, tất cả mọi chuyện liên quan đến hệ thống giám sát của NSA đều thúc đẩy Hoa Thịnh Đốn nhanh nhẩu vồ vập lấy cơ may. Cơ chế ít tốn kém trong việc phóng chiếu cũng như duy trì quyền lực toàn cầu, đã hẳn, có vẻ thiếu thông minh, một giải-pháp-rẻ-tiền-phải-có đối với bất cứ tổng thống Hoa Kỳ nào trong thế kỷ XXI — trước khi các tài liệu mới của NSA, nhờ Snowden, bắt đầu xuất hiện hàng tuần trên trang đầu các báo và toàn thế giới đã bắt đầu phản ứng gay gắt: Một blowback!

Trong khi hố cách biệt ngày một lớn dần giữa tầm với toàn cầu và khả năng kiểm soát giới hạn của Hoa Thịnh Đốn, trong khi Hoa Kỳ đang tranh thủ duy trì 40% lực lượng vũ trang thế giới (con số năm 2012) chỉ với 23% sản lượng kinh tế gộp toàn cầu, Hoa Kỳ cần tìm các phương cách mới nhằm hành xử quyền lực của mình một cách tiết kiệm hơn.

Khi Chiến Tranh Lạnh bắt đầu, Quân Đội Hoa Kỳ được trang bị nặng nề — với 500 căn cứ ở hải ngoại vào khoảng năm 1950 — vẫn còn có thể duy trì và cáng đáng, bởi lẽ Hoa Kỳ đang kiểm soát khoảng 50% sản lượng gộp toàn cầu.

Nhưng khi bách phân sản lượng của Hoa Kỳ suy giảm — ước tính xuống khoảng 17% vào năm 2016 — và phí tổn an sinh xã hội không ngừng gia tăng, từ 4% GDP trong năm 2010 lên tới khoảng 18% vào năm 2050, cắt xén phí tổn đang trở thành một điều khẩn thiết, nếu Hoa Thịnh Đốn muốn thượng tồn như siêu cường duy nhất hành tinh. So với 3.000 tỉ USD, phí tổn trong cuộc chiến xâm lăng và chiếm đóng Iraq, ngân sách 2012 của NSA chỉ vào khoảng 11 tỉ USD cho cả chương trình giám sát toàn cầu lẫn chiến tranh không gian (cyberwarfare) — một tiết kiệm Ngũ Giác Đài khó thể làm ngơ.

Tuy vậy, món hàng hời giá chẳng bao lâu đã chứng tỏ quá đắt, đến độ không thể lường trước. Chỉ riêng kích cỡ của chương trình giám sát cũng đã phơi bày vô số nguy cơ xâm nhập, hoặc bởi một nhóm phản chiến lẻn vào trụ sở FBI ở Media, Pennsylvania trong năm 1971, hay bởi Edward Snowden truy cập các tài liệu NSA tại tiền trạm Hawaii trong năm 2012.

Một khi các chương trình bí mật bị phơi bày, sự thật sẽ chứng tỏ không một ai thích bị giám sát. Lãnh đạo các quốc gia đầy tự trọng sẽ không bao giờ tha thứ các ngoại cường quan sát họ như các chú chuột bị nhốt trong lồng. Người dân thường cũng ghê tởm với ý nghĩ các nhà cầm quyền luôn quan sát đời sống riêng tư hàng ngày của họ như các vi khuẩn dưới kính hiển vi.

VÒNG LẪN QUẨN GIÁM SÁT

Trong thế kỷ vừa qua, tình trạng căng thẳng, giữa khuynh hướng bành trướng của guồng máy nhà nước và mạng lưới giám sát thường xuyên và ngày một chặt chẽ các quyền tự do dân sự của công dân, luôn tiếp diễn và gia tăng.

Trước hết là sự phát triển nhanh chóng của các kỹ thuật phản gián dưới áp lực của các cuộc chiến hải ngoại. Kế đến, việc áp dụng bừa bãi và thường phi pháp các kỹ thuật giám sát trong quốc nội bên sau bức màn bí mật. Và cuối cùng, các cải cách muộn màng và miễn cưỡng khi báo chí và quần chúng khám phá các lạm dụng ghê tởm của FBI, CIA, hay hiện nay, của NSA.

Trong vòng một thế kỷ vừa qua — trong khi truyền thông hiện đại đã tiến bộ từ thư từ bưu điện, đến điện thoại, đến mạng lưới Internet — chương trình giám sát của chính quyền đã tiến theo bước nhảy vọt, trong khi tự do dân sự chập chững theo sau một cách chậm chạp cùng nhịp với các quy luật và pháp chế.

Vòng giám sát đầy ấn tượng đầu tiên đã diễn ra trong Đệ Nhất Thế Chiến và sau đó. Âu lo trước tiềm năng phá hoại của người Mỹ gốc Đức sau khi Hoa Kỳ tuyên chiến với Đức Quốc trong năm 1917, hàng ngũ FBI và Tình Báo Quân Sự đã gia tăng từ những tổ chức nhỏ bé để trở thành những cơ quan hùng mạnh với trách nhiệm nhổ tận gốc mọi dấu hiệu thiếu trung thành bất cứ ở đâu trên đất Mỹ, dù bằng lời nói hay hành động.

Từ khi chỉ có 9% dân Mỹ có điện thoại, theo dõi và giám sát lòng trung thành của 10 triệu người Mỹ gốc Đức đòi hỏi một số nhân viên bưu điện kếch sù để khám xét khoảng 30 triệu thư hạng nhất và 350.000 trật tự viên để theo dõi các dân nhập cư, thành viên các nghiệp đoàn, và đảng viên xã hội đủ loại.

Trong suốt thập kỷ 1920, các thành viên bảo thũ Cộng Hòa, kinh hoàng trước đe dọa đối với các bí mật riêng tư, đã dần dà bắt đầu thu gọn guồng máy an ninh của Hoa Thịnh Đốn. Sự thay đổi đã đạt đỉnh cao với việc bải bỏ đơn vị mật mã của chính quyền bởi Ngoại Trưởng Henry Stimson trong năm 1929, với lời cảnh cáo đáng ghi nhớ : “Giới thượng lưu quý phái không đọc thư riêng của nhau.”[1]

Trong đợt giám sát quần chúng kế tiếp trong Đệ Nhị Thế Chiến, FBI đã khám phá: nghe trộm dây nói đã đưa đến một phó sản bất ngờ, với tiềm năng đem lại quyền lực chính trị đặc biệt — phỉ báng. Nhằm chặn đứng khả năng dò thám của phe địch, Tổng Thống Franklin Roosevelt đã dành cho FBI quyền kiểm soát toàn bộ ngành phản gián, và trong tháng 5-1940, đã cho phép Giám Đốc J. Edgar Hoover quyền nghe trộm dây nói.

Những gì biến Hoover thành một lãnh đạo đầy quyền lực ở Hoa Thịnh Đốn là điện thoại. Với 20% dân Hoa Kỳ và toàn bộ giới thượng lưu chính trị lúc đó đã có dây nói, và với quyền nghe trộm tại các tổng đài địa phương, FBI đã có thể dễ dàng kiểm soát các cuộc điện đàm giữa các thành phần có tiềm năng phá hoại và những thành phần thù nghịch với tổng thống ở quốc nội, đặc biệt là các lãnh tụ phong trào chủ trương biệt lập như phi công Charles Linbergh và Thượng Nghị Sĩ Burton Wheeler.

Tuy vậy, ngay cả với các cuộc điện đàm tập trung có thể giám sát từ các tổng đài, văn phòng an ninh cũng còn cần một khối nhân lực khổng lồ cho công tác phản gián thời chiến. Nhân viên FBI đã tăng vọt từ 650 năm 1924 lên đến 13.000 năm 1943. Sau khi Roosevelt mệnh chung vào đầu năm 1945, Harry Truman được biết kích cỡ khác thường của công tác giám sát bởi FBI. Tháng 5-1945, Truman đã ghi trong nhật ký: “Chúng ta không muốn có Gestapo hay Cảnh Sát Mật Vụ. FBI đang đi theo hướng đó. Họ đang ngụp lặn trong các chuyện bỉ ổi xấu xa trong đời sống tình dục và đe dọa phỉ báng trắng trợn.”[2]

Sau một phần tư thế kỷ nghe trộm dây nói không cần giấy phép của pháp đình, Hoover đã xây dựng một văn khố về các sở thích tình dục trong giới quyền lực của Mỹ và sử dụng nó để định hình chiều hướng chính trị của Hoa Kỳ. Hoover đã cho phân phối hồ sơ về lời đồn đồng tính luyến ái của Adlai Stevenson nhằm đánh bại ứng cử viên tổng thống đảng Dân Chủ trong cuộc bầu cử tổng thống 1952, cho phổ biến băng ghi âm tán tỉnh phụ nữ của Martin Luther King, và giám sát quan hệ ngoại hôn của T T Kennedy với người tình mafia Judith Exner… Và đó cũng chỉ là phương cách sử dụng các điều bỉ ổi xấu xa để giữ giới quyền lực Hoa Thịnh Đốn trong vòng lèo lái của chính cá nhân Hoover.

William Sullivan, trưởng phân bộ tình báo quốc nội FBI trong suốt thập kỷ 1960, đã hồi tưởng, “Ngay khi [Hoover] biết được bất cứ điều gì bất lợi cho một nghị sĩ, ông có thể gửi một trong số thuộc cấp lên khuyến cáo vị nghị sĩ ‘trong tiến trình một cuộc điều tra, chúng tôi đã tình cờ nắm được dữ liệu nầy về con gái của ngài…’ Từ đó, vị thượng nghị sĩ luôn nằm trong túi của ông ta.”[3]

Sau khi qua đời, một kết toán chính thức đã tìm thấy Hoover đã có đến 883 hồ sơ như thế về các nghị sĩ và 722 hồ sơ về các dân biểu.

Trang bị với những thông tin nhạy cảm, Hoover nắm toàn quyền quyết định hướng đi của quốc gia và phát động các chương trình do chính ông lựa chọn, kể cả Chương Trình Phản Gián nổi tiếng của FBI (COINTELPRO), quấy nhiễu một cách bất hợp pháp các phong trào tranh đấu Dân Quyền và chống-đối-chiến-tranh-Việt-Nam qua các thủ đoạn tuyên truyền đen tối, xâm nhập các văn phòng, và kích động…

Vào cuối cuộc chiến Việt Nam, Nghị Sĩ Frank Church cầm đầu tiểu ban điều tra các lạm quyền vừa nói. Một trợ tá trong cuộc điều tra của Church đã nhớ lại,”ý định của COINTELPRO” là thủ tiêu nhiều sinh mạng và hủy diệt thanh danh.”[4] Những khám phá nầy đã dẫn đến việc thiết lập, trong khuôn khổ Luật Giám Sát Tình Báo Hải Ngoại năm 1978, các tòa án FISA có trách nhiệm cấp giấy phép nghe trộm dây nói vì an ninh quốc gia trong tương lai.

GIÁM SÁT TRONG KỶ NGUYÊN INTERNET

Trong nỗ lực tìm kiếm các vũ khí mới để chống khủng bố tiếp theo sau sự kiện 11/9, Hoa Thịnh Đốn đã nghĩ đến giám sát điện tử — một thành tố trong chiến lược hành xử quyền lực toàn cầu hiện nay.

Trong tháng 10-2001, chưa thỏa mãn với các quyền hạn rộng lớn khác thường của Luật Ái Quốc (Patriot Act) mới được ban hành, Tổng Thống Bush đã ra lệnh cho NSA bắt đầu kiểm soát một cách thầm lặng mọi trao đổi thông tin tư nhân qua các công ty điện thoại trên toàn quốc, không cần đến giấy phép của các tòa FISA.

Chẳng bao lâu sau, NSA đã bắt đầu rà soát Mạng Internet về các thư điện tử, các dữ liệu tài chánh, các tin nhắn, dựa trên lý thuyết mong manh các “dữ liệu hậu thiên không được hiến pháp bảo vệ”[5].

Thực vậy, qua việc xâm nhập Mạng Internet về văn bản và Mạng Lưới Các Tổng Đài Điện Thoại Công Cộng song hành về dây nói, NSA đã có thể tiếp cận mọi phương tiện truyền thông trên thế giới. Vào cuối hai nhiệm kỳ của Bush trong năm 2008, Quốc Hội đã ban hành các luật không những để hợp pháp hóa một cách hồi tố các chương trình phi pháp, mà còn dọn đường cho việc phát triển không bị kiềm chế guồng máy giám sát của NSA.

Thay vì kiềm chế, Tổng Thống Obama đã đích thân giám thị sự bành trướng của NSA trong nhiều phương cách: kích cỡ — hàng tỉ thông điệp thu thập trên toàn cầu, và đặc biệt giám sát một số lãnh đạo thế giới. Đã hẳn, những gì đem lại nhiều quyền lực cho NSA cũng chính là mạng Internet — hệ thống phân bố các cáp quang thính thị hiện đang nối kết 40% nhân loại.

Vào lúc Obama vào tòa Bạch Ốc, NSA cuối cùng cũng đã sẵn sàng khai triển các phương tiện truyền thông tân tiến cần thiết cho chương trình giám sát hầu như đã hoàn hảo. Hệ thống đã đủ khả năng bao trùm hoàn cầu cũng như theo dõi các cá nhân riêng biệt. Hệ thống đã hoàn thành mọi dụng cụ kỹ thuật tất yếu — nhất là các điểm tiếp cận để thu thập dữ kiện, mật mã vi tính để giải mã, các kho bảo quản khối dữ liệu kỹ thuật số, và các máy vi tính khổng lồ cần thiết cho việc ngấu nghiến và khai thác trong nháy mắt (nanosecond processing) các kho dữ liệu nầy.

Vào năm 2012, việc tập trung qua trung gian số hóa — tiếng nói, hình ảnh, văn bản, và các truyền thông tài chánh, vào mạng lưới cáp quang thính thị toàn cầu — đã cho phép NSA kiểm soát toàn thế giới qua việc thâm nhập 190 trung tâm dữ liệu, một tiết kiệm phi thường trong các đề án giám sát chính trị và chiến tranh không gian.

Với vài trăm cuộc thăm dò cáp quan thính thị và giải mã vi tính hóa, NSA ngày nay có thể nắm bắt các chi tiết đời tư vững chắc, những gì J.Edgar Hoover đã từng thiết tha tìm kiếm, và cung cấp loại giám sát quần chúng toàn diện, một việc làm cảnh sát mật vụ Stasi của Đông Đức đã từng sử dụng. Tuy vậy, những so sánh như thế cũng chỉ dừng ở đó.

Xét cho cùng, một khi nhân viên FBI đã thu thập hàng nghìn cuộc điện đàm, các tốc ký viên đã chép lại vô số bản sao, và các nhân viên văn phòng đã tồn trữ số tài liệu bẩn thĩu vào các tủ hồ sơ, J. Edgar Hoover cũng chỉ biết được những việc làm trong nội bộ giới thượng lưu trong một thành phố: Hoa Thịnh Đốn.

Để thu thập các chi tiết thầm kín tương tự cho một quốc gia, Stasi đã phải cần đến một cảnh sát mật vụ cho mỗi sáu công dân Đông Đức hay một số lượng nhân viên khổng lồ khó thể duy trì lâu dài.

Ngược lại, phối hợp yếu tố kỹ thuật của NSA với dữ liệu Internet từ các trung tâm, đã cho phép con số 37.000 nhân viên NSA ngày nay thể hiện cùng khối lượng công tác trên toàn cầu với mỗi nhân viên phụ trách khoảng 200.000 dân số.

Trong tài liệu Tuyệt Mật 2012 trên đây, NSA cho thấy các đồng minh “Five Eyes” (Úc, Canada, New Zealand, Anh Quốc) với 190 “chương trình tiếp cận” nhằm xâm nhập hệ thống cáp quang thính thị toàn cầu qua Internet, trong địa hạt giám sát và chiến tranh không gian (Nguồn: NRC Handelsblad, November 23, 2013).

GIẤC MƠ LÂU ĐỜI

Dưới thời Obama, những dấu hiệu đầu tiên cho thấy chương trình giám sát của NSA sẽ sử dụng thông tin thu thập được, để khai thác các câu chuyện bẩn thĩu trong sinh hoạt chính trị và xã hội, giống như FBI dưới thời Hoover. Tháng 9-2013, tờ The New York Times đã tường trình: kể từ năm 2010, NSA đã sử dụng phần mềm tinh xảo để tạo dựng “nhiều biểu đồ mạng lưới xã hội …, giải mã càng nhiều chuyện bí mật cá nhân càng tốt …, và chọn lựa những thông tin nhạy cảm, chẳng hạn, thường gọi điện cho các chuyên gia tâm thần, những tin nhắn đêm khuya, cho đến những đối tượng ngoại hôn.”[6]

Với kinh phí 250 triệu USD mỗi năm cho dự án tình-báo-tín-hiệu (Sigint Enabling Project), NSA đã thầm lén xâm nhập các mã số được thiết kế nhằm bảo vệ các bí mật cá nhân. Theo tài liệu NSA năm 2007, “Trong tương lai, các siêu cường, sẽ được xây đắp hay sụp đổ, cơ sở trên sức mạnh của các chương trình phân tích mật mã. Đó là tấm vé vào cửa để Hoa Kỳ duy trì quyền tiếp cận không hạn chế và sử dụng môi trường trao đổi thông tin vi tính — cyberspace.”[7]

Qua việc thu thập thông tin — thông thường, mật thiết, hay nhục nhã — liên quan đến các lãnh đạo nước ngoài, các thống đốc thuộc địa đế quốc, từ thời La Mã xa xưa đến Hoa Kỳ đương đại, đã thủ đắc trí thông minh và vẻ oai nghiêm cần thiết của một toàn quyền thuộc địa đối với các xã hội bản địa. Tầm quan trọng và thử thách khả năng kiểm soát giới thượng lưu địa phương, đã hẳn, thật sự thiết yếu.

Trong quá trình bình định Philippines sau năm 1898, chẳng hạn, nhà cầm quyền thuộc địa Hoa Kỳ đã khuất phục các lãnh đạo Philippines ương ngạnh, qua phương cách cảnh sát thâm nhập để thu thập tin tức tình báo chính trị và các việc làm thô bĩ cá nhân. Và đã hẳn đó cũng chỉ là những gì J. Edgar Hoover đã làm ở Hoa Thịnh Đốn trong các thập kỷ 1950 và 1960.

Thực vậy, Đế Quốc Anh hùng mạnh, cũng như tất cả các đế quốc khác, là một tấm thảm toàn cầu được dệt bằng các dây liên hệ chính trị với giới lãnh đạo hay thượng lưu tay chân địa phương — từ các sultan Mã Lai và các maharajas Ấn Độ đến các sheik vùng Vịnh và các thủ lãnh bộ lạc Tây Phi.

Như sử gia Ronald Robinson có lần đã nhận định, Đế Quốc Anh đã trãi rộng trên toàn cầu trong hai thế kỷ qua sự cộng tác với các lãnh đạo địa phương, để rồi đã phải tan rã chỉ trong vòng hai thập kỷ, khi “cộng tác” (collaboration) đã biến thể để trở thành “bất hợp tác”(non-cooperation).

Sau quá trình giải thể thuộc địa nhanh chóng trong thập kỷ 1960, giúp biến thể số đông đế quốc Âu Châu thành 100 quốc gia mới, cấp lãnh đạo các quốc gia nầy cũng đã sớm nhận ra chính mình cũng đã trở thành giai cấp thượng lưu tay chân của đế quốc toàn cầu Hoa Kỳ đang bành trướng. Đã hẳn, ngày nay Hoa Thịnh Đốn cũng đang bất thần cần đến loại thông tin riêng tư có thể giúp khuất phục các tay chân mới.

Giám sát các lãnh đạo bản xứ luôn cung cấp cho các đại cường thế giới — Anh Quốc hồi đó và Hoa Kỳ hiện nay — các thông tin thiết yếu cho việc hành xử quyền thống lĩnh toàn cầu. Công tác tình báo đã đem lại quyền xâm nhập đặc biệt thiết yếu cho tầm nhìn đế quốc, cho ý thức cấp trên thiết yếu trong vai trò thống trị quần chúng dưới quyền.

Giám sát cũng cung cấp thông tin thiết yếu cho cách xử lý các thành phần chống đối với các hành động ngụy trang hay lực lượng quân sự. Tình báo chính trị và kinh tế cũng rất hữu ích trong việc tương tác với các đồng minh trong các cuộc thương nghị đủ loại. Và có lẽ quan trọng hơn hết, thông tin về các lỗi lầm thiếu sót của các lãnh đạo cũng rất hữu ích để ép buộc các lãnh đạo nầy phải chấp hành.

Vào cuối năm 2013, tờ The New York Times đã phúc trình, khi nói đến dò thám giới thượng lưu toàn cầu, người ta cũng đã ghi nhận trên 1.000 mục tiêu giám sát ở Hoa Kỳ và Anh Quốc trong những năm gần đây, xuống tận các nhân vật chính trị trung cấp trên chính trường quốc tế.[8]

Các tiết lộ bởi Edward Snowden đã cho thấy: NSA đã giám sát các nhà lãnh đạo trong 35 quốc gia trên thế giới, kể cả tổng thống Brazil, Dilma Rousseff, các tổng thống Mexico Felipe Calderon và Enrique Pena Nieto, Thủ Tướng Đức Angela Merkel, và tổng thống Indonesia, Susilo Bambang Yudhoyono.

Cũng nên kể thêm, các động thái giám sát các “quyền lợi ngoại giao của Pháp” trong cuôc bỏ phiếu tại Liên Hiệp Quốc trong tháng 6-2010 về các chế tài đối với Iran, và giám sát các cấp lãnh đạo thế giới trong cuộc họp thượng đỉnh G-20 tại Ottawa trong tháng 6-2010. Xét theo bề ngoài, hình như chỉ một số thành viên trong liên minh lịch sử “Five Eyes” tình-báo-tín-hiệu (Úc, Canada, New Zealand, và Anh Quốc), được miễn nhiễm giám sát NSA, ít ra trên lý thuyết.[9]

Tóm lại, tình báo bí mật về các đồng minh rõ ràng có thể đem lại cho Hoa Thịnh Đốn nhiều lợi điểm ngoại giao đáng kể. Chẳng hạn, trong suốt thời gian LHQ tranh luận về sự kiện Hoa Kỳ xâm lăng Iraq trong các năm 2002-2003, NSA đã chặn đứng các cuộc điện đàm của Tổng Thư Ký Kofi Anan và giám sát chặt chẽ cấp lãnh đạo sáu quốc gia “Middle Six” — các quốc gia thuộc Thế Giới Thứ Ba trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, để mua chuộc giành phiếu đúng lúc. Lãnh đạo số hai của NSA đặc trách các mục tiêu trong khu vực cũng đã trao đổi văn thư với các đồng minh Five Eyes, đòi hỏi các thông tin tay trong (insider information) về phản ứng của các xứ thành viên đối với cuộc tranh luận đang diễn tiến về vấn đề Iraq, kế hoạch bỏ phiếu về các nghị quyết liên hệ…và nhiều thông tin khác có thể giúp các nhà làm chính sách Hoa Kỳ một lợi khí để thành đạt các kết quả thuận lợi đối với các mục đích của Mỹ.

Nêu rõ nhu cầu cần có các thông tin bất lợi trong các cuộc thương thảo tay đôi, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã thúc đẩy tòa đại sứ của Mỹ ở Bahrain trong năm 2009 về các chi tiết có hại trong thế giới Hồi Giáo liên quan đến các hoàng thân, như các thông tin bất lợi cho hoàng thân nào? Hoàng thân nào thích tứ đổ tường hay dùng ma túy?

Thực vậy, trong tháng 10-2012, một quan chức NSA được biết dưới danh hiệu “DIRNSA “, hay Tổng Giám Đốc Keith Alexander, đã đề nghị phương cách sau để đối phó với các thành phần Hồi Giáo cực đoan: “Tính dễ bị tổn thương của những thành phần nầy, nếu bị phơi bày, có thể gây nghi ngờ lòng tận tụy của họ đối với chính nghĩa thánh chiến, dẫn đến chỗ mất hết uy quyền. NSA đã gợi ý ‘dễ bị tổn thương’ có thể bao gồm ‘xem phim tình dục trực tuyến’ hay ‘sử dụng một phần ngân quỹ tặng dữ nhận được để tài trợ các chi tiêu cá nhân.’ Tài liệu NSA đã nhận diện một mục tiêu tiềm năng — một nhà giáo dục được trọng vọng đã phạm lỗi tạp-hôn-trực-tuyến (online promiscuity).” [10]

Cũng như tập trung truyền thông, mạng Internet cũng chuyển dịch hầu hết các sinh hoạt tình dục thương mãi vào “môi trường trao đổi thông tin vi tính”. Với khoảng 25 triệu tụ điểm dâm ô trên thế giới và khoảng 10,6 tỉ trang được tìm xem mỗi tháng trong năm 2013 tại 5 tụ điểm tình dục hàng đầu, sinh hoạt khiêu dâm trực tuyến đã trở thành ngành doanh thương toàn cầu. Trong thực tế, vào năm 2006, tổng số thu nhập toàn ngành đã lên đến 97 tỉ USD. Với vô số khách ăn chơi tìm vào các tụ điểm trên mạng Internet và không một ai thú nhận điều đó, NSA dễ dàng tiếp cận các thói quen gây bối rối cho khách chơi trên thế giới, dù đó là các chiến binh Hồi Giáo hay các lãnh đạo chính trị Âu Châu.

Theo James Bamford, tác giả hai tác phẩm về NSA, “Hoạt động của NSA giống một cách kỳ lạ các hoạt động của FBI dưới thời J. Edgar Hoover trong thập kỷ 1960, khi FBI sử dụng phương cách nghe trộm với mục tiêu khám phá các tệ trạng dễ gây thương tổn, như các vi phạm tình dục, nhằm trung hòa hóa các đối tượng.”[11]

Jameel Jaffer, thuộc ACLU, đã cảnh cáo: một tổng thống có thể “đòi hỏi NSA sử dụng kết quả giám sát để làm mất uy tín các đối thủ chính trị, các nhà báo, hay các nhà hoạt động nhân quyền. NSA cũng đã từng dùng uy quyền tương tự trong quá khứ và không một ai nên ngây thơ cả tin sẽ không hành động như vậy trong tương lai.”[12]

Ngay cả cuộc thảo luận tái duyệt các hoạt động của NSA, do Tổng Thống Obama triệu tập gần đây, cũng đã phải thú nhận: “Dưới ánh sáng của các bài học lịch sử của chính chúng ta … vào một thời điểm nào đó trong tương lai, các quan chức cao cấp trong chính quyền sẽ quyết định dữ-liệu-bạ khổng lồ (massive database) các thông tin riêng tư nhạy cảm luôn sẵn sàng để được lạm dụng.”[13]

Thực vậy, Edward Snowden đã lên án NSA, trong thực tế, đang thể hiện việc giám sát như thế. Trong bức thư tháng 12-2013, gửi cho nhân dân Brazil, Snowden đã viết: “Họ [NSA] ngay cả đang theo dõi xem ai đang có tư tình hay xem phim ảnh khiêu dâm, để lâm thời cần thóa mạ thanh danh của đối tượng.”[14]

Nếu Snowden đúng, một mục tiêu then chốt của chương trình giám sát các lãnh đạo thế giới của NSA chẳng phải là an ninh quốc gia Hoa Kỳ, mà chỉ để bắt chẹt chính trị — như đã từng xẩy ra từ năm 1898.

Một sự giám sát bằng kỹ thuật số như thế luôn hàm chứa một tiềm năng thóa mạ nguy hiểm, như mọi người đều nhớ Thống Đốc New York Eliot Spitzer buộc lòng đã phải từ chức trong năm 2008 sau vụ nghe trộm điện thoại thông thường, tiết lộ Spitzer đã sử dụng các dịch vụ mãi dâm; hay, để đơn cử một ví dụ khác, sự kiện loại trừ bộ trưởng ngân sách của Pháp, Jérôme Cahuzac trong năm 2013, tiếp theo sau vụ nghe trộm phơi bày tài khoản bí mật trong ngân hàng Thụy Sĩ.

Như thường lệ, nguồn thóa mạ chính trị vẫn luôn là tình dục và tiền bạc, cả hai NSA đều có thể theo dõi khá dễ dàng.

Với tính nhạy cảm cao độ của truyền thông hành chính, các lãnh đạo thế giới đã phản ứng mạnh mẽ đối với các phúc trình về chương trình giám sát NSA — với Thủ Tướng Merkel đòi hỏi quy chế chước miễn “Five-Eyes-exempt status” đối với Đức; Nghị Viện Âu Châu bỏ phiếu cắt xén việc chia sẻ các dữ liệu ngân hàng với Hoa Thịnh Đốn; và Tổng Thống Brazil Rousseff đã hủy bỏ cuộc công du đến Hoa Kỳ và hợp đồng thuê hệ thống vệ tinh truyền thông 560 triệu USD nhằm giúp Brazil tránh khỏi mạng Internet do Hoa Kỳ kiểm soát.

TƯƠNG LAI QUYỀN LỰC TOÀN CẦU CỦA HOA KỲ

Qua hành động phổ biến các tài liệu tuyệt mật của NSA, Edward Snowden đã đem lại cho chúng ta một ý niệm về kiến trúc đang thay đổi trong quyền lực toàn cầu của Hoa Kỳ.

Ở cấp độ rộng rãi nhất, “chốt” kỹ thuật số của Obama bổ túc cho chiến lược quốc phòng tổng quát của Mỹ, trong năm 2012, đã thông báo giảm thiểu các lực lượng quy ước trong khi bành trướng vào không gian và môi trường trao đổi thông tin vi tính, cyberspace, mới và ít tốn kém .

Trong khi cắt xén một cách khiêm tốn ngân sách vũ khí và trang thiết bị cũng như kích cỡ các lực lượng quân sự, Tổng Thống Obama đã đầu tư hàng tỉ vào chương trình xây dựng một kiến trúc mới về kiểm soát thông tin toàn cầu. Nếu cộng số 791 tỉ kinh phí xây dựng Bộ An Ninh Quốc Nội (Department of Homeland Security) với số 500 tỉ chi tiêu vào dạng thức tình báo toàn cầu ngày một gia tăng tính bán quân sự từ sau biến cố 11/9, Hoa Thịnh Đốn đã đầu tư 1,2 trillion (1.200 tỉ USD) vào guồng máy quyền lực toàn cầu mới.

Guồng máy hành chánh về an ninh lớn đến độ một thẩm duyệt hành chánh gần đây của Obama đã khuyến cáo cần tái quy định chặt chẽ quyền tiếp tục thu thập thông tin các cuộc điện đàm của dân Mỹ và giám sát các cấp lãnh đạo nước ngoài trong một tương lai có thể tiên liệu của NSA.

Môi trường trao đổi thông tin vi tính cho phép Hoa Thịnh Đốn hành xử uy quyền toàn cầu trên một vũ đài kiệm ước, mặc dù đã phải trả giá với nguy cơ đánh mất lòng tin của các đồng minh thân cận nhất — một mâu thuẩn chắc sẽ gây nhiều bất trắc khó khăn cho vai trò lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ trong nhiều năm sắp tới.

Henry Stimson cũng cần được cập nhật: Trong thời đại Internet, các bậc thượng lưu không những đọc thư riêng của nhau, họ còn tìm xem phim dâm ô của nhau. Ngay cả khi vững tin không có gì phải che dấu, tất cả chúng ta, dù là lãnh đạo thế giới hay dân thường, đều có đủ lý do để phải quan tâm.

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

27-02-2014

——————————————————————————–

[1] Gentlemen do not read each other’s mail.

[2] We want no Gespo or Secret Police. FBI is tending in that direction. They are dabbling in sex-life scandals and plain blackmail.

[3] The moment [Hoover] would get something on a senator,” recalled William Sullivan, the FBI’s chief of domestic intelligence during the 1960s, “he’d send one of the errand boys up and advise the senator that ‘we’re in the course of an investigation, and we by chance happened to come up with this data on your daughter…’ From that time on, the senator’s right in his pocket.

[4] The intent of COINTELPRO was to destroy lives and ruin reputations.

[5] …not constitutionally protected metadata …

[6] In September 2013, the New York Times reported that the NSA has, since 2010, applied sophisticated software to create “social network diagrams…, unlock as many secrets about individuals as possible…, and pick up sensitive information like regular calls to a psychiatrist’s office, late-night messages to an extramarital partner.”

[7] In the future, superpowers will be made or broken based on the strength of their cryptanalytic programs. It is the price of admission for the U.S. to maintain unrestricted access to and use of cyberspace.

[8] In late 2013, the New York Times reported that, when it came to spying on global elites, there were “more than 1,000 targets of American and British surveillance in recent years,” reaching down to mid-level political actors in the international arena.

[9] Revelations from Edward Snowden’s cache of leaked documents indicate that the NSA has monitored leaders in some 35 nations worldwide — including Brazilian president Dilma Rousseff, Mexican presidents Felipe Calderón and Enrique Peña Nieto, German Chancellor Angela Merkel, and Indonesia’s president Susilo Bambang Yudhoyono. Count in as well, among so many other operations, the monitoring of “French diplomatic interests” during the June 2010 U.N. vote on Iran sanctions and “widespread surveillance” of world leaders during the Group 20 summit meeting at Ottawa in June 2010. Apparently, only members of the historic “Five Eyes” signals-intelligence alliance (Australia, Canada, New Zealand, and Great Britain) remain exempt — at least theoretically — from NSA surveillance.

[10]” [Their] vulnerabilities, if exposed, would likely call into question a radicalizer’s devotion to the jihadist cause, leading to the degradation or loss of his authority.” The agency suggested that such vulnerabilities could include “viewing sexually explicit material online” or “using a portion of the donations they are receiving… to defray personal expenses.” The NSA document identified one potential target as a “respected academic” whose “vulnerabilities” are “online promiscuity.”

[11] The NSA’s operation is eerily similar to the FBI’s operations under J. Edgar Hoover in the 1960s where the bureau used wiretapping to discover vulnerabilities, such as sexual activity, to neutralize their targets.

[12]…a president might “ask the NSA to use the fruits of surveillance to discredit a political opponent, journalist, or human rights activist. The NSA has used its power that way in the past and it would be naïve to think it couldn’t use its power that way in the future.”

[13] …[I]n light of the lessons of our own history… at some point in the future, high-level government officials will decide that this massive database of extraordinarily sensitive private information is there for the plucking.

[14] They even keep track of who is having an affair or looking at pornography, in case they need to damage their target’s reputation.

Advertisements