DẦU KHÍ ĐÁ PHIẾN, CHÍNH TRỊ NĂNG LƯỢNG, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Trong số hàng tít lố bịch và vô trách nhiệm trên trang đầu tờ The New York Times trong những năm gần đây, “Hoa Kỳ Hy Vọng Sản Lượng Hơi Đốt Thiên Nhiên Tăng Vọt Có Thể Chế Ngự Putin” vào đầu tháng 3-2014 hình như đã vượt quá lằn mức ngớ ngẩn. Thực vậy, bài viết của hai phóng viên thường đáng tin cậy, Coral Davenport và Steven Erlanger, đã gợi ý, qua việc xuất khẩu “hơi đốt thể lỏng” (liquefied natural gas — LNG) thặng dư qua Âu châu và Ukraine, Hoa Kỳ có thể giúp các xứ liên hệ giảm thiểu tình trạng lệ thuộc nặng nề vào hơi đốt thiên nhiên của Liên Bang Nga, và do đó, tăng cường khả năng đề kháng trước lối đối xử gây hấn của Vladimir Putin.
Tạm quên đi sự kiện Hoa Kỳ hiện thiếu khả năng xuất khẩu LNG qua Âu Châu, và sẽ không thể có đủ cơ cấu hạ tầng để làm việc đó với một kích cỡ có ý nghĩa, ít ra trước thập kỷ 2020. Cũng tạm quên đi Ukraine hiện thiếu khả năng tiếp nhận LNG và có rất ít cơ may thủ đắc các cơ sở hạ tầng như thế, vì lẽ bờ biển duy nhất tọa lạc trong phạm vi Hắc Hải, trong khu vực số dân nói tiếng Nga giữ vai trò áp đảo và luôn trung thành với Mạc Tư Khoa. Cũng tạm quên đi thực tế bất cứ lượng LNG xuất khẩu tương lai nào cũng sẽ hướng đến thị trường quốc tế, vì khuynh hướng dành ưu tiên cho Á Châu, nơi giá hơi đốt 50% cao hơn Âu Châu.
Chỉ cần lưu tâm đến các nguồn thông tin cơ bản hiện rất thiếu sót: không đủ để giúp nhận chân lý do duy nhất tại sao bất cứ số LNG xuất khẩu trong tương lai nào, đến bất cứ đâu, đều không thể có mảy may tác động trên cách hành xử của tổng thống Liên Bang Nga.
Cách duy nhất để hiểu thực tế kỳ lạ nầy là cần ghi nhớ các biên tập viên báo Times, không mấy khác các chính trị gia cao cấp lưỡng đảng, đều tin tưởng quá cuồng nhiệt vào uy lực sản lượng dầu khí tăng vọt của Hoa Kỳ, đến độ đánh mất cả mọi tỉnh táo và lương tri.
Trong khi sản lượng dầu khí quốc nội ngày một gia tăng trong những năm gần đây, phần lớn qua việc sử dụng kỹ thuật dùng thủy lực dập nát các đá phiến dưới lòng đất để tách dầu khí khỏi các “trữ lượng đá phiến sét” cho đến gần đây không thể tiếp cận, nhiều nhà làm chính sách đã kết luận Hoa Kỳ đang chiếm địa vị ưu thế để bành trướng thế lực trên thế giới. Theo lời của cố vấn an ninh của tổng thống thời đó, Tom Donilon, trong tháng 4-2013: “số cung năng lượng ngày một gia tăng của Hoa Kỳ đang đem lại cho người Mỹ một tay bài mạnh mẽ hơn để theo đuổi và thể hiện các muc tiêu an ninh quốc tế.” Các lãnh đạo lưỡng đảng trong Quốc Hội cũng đồng thanh tán thưởng.
Từ thái độ vô nghĩa đó, ấn tượng đối với mọi người là sản lượng dầu khí gia tăng, một cách nào đó, sẽ tăng cường ý chí và niềm tin của các quan chức Hoa Kỳ khi phải đối đầu với các đối tác nước ngoài. Theo Davenport và Erlanger, một quan chức Tòa Bạch Ốc trước đây đã nắm bắt tâm trạng thời thượng đó một cách tuyệt diệu: “Chúng ta đã thương thảo từ một địa vị khác trước [với Liên Bang Nga] bởi lẽ chúng ta đang là quốc gia sản xuất năng lượng lớn lao hơn rất nhiều.”
Điều lẽ ra đã phải rõ ràng với bất cứ ai theo dõi những biến cố gần đây ở Crimea và Ukraine: sản lượng dầu lửa và khí đốt gia tăng của Hoa Kỳ đã không đem lại cho các quan chức Tòa Bạch Ốc bất cứ lợi điểm đặc biệt nào trong nỗ lực chống lại các động thái mang tính gây áp lực của Putin, và viễn tượng xuất khẩu khí đốt của Mỹ qua Âu Châu trong tương lai cũng khó có thể làm thay đổi các tính toán chiến lược của Putin. Tuy vậy, các quan chức cao cấp Hoa Kỳ, mê sảng với viễn ảnh một “Saudi America tương lai” đầy quyến rũ, hình như đã đơn thuần đánh mất mọi nhận thức thực tế.
Đối với bất cứ ai quen với lối ứng xử của một người mang bệnh ghiền, loại tư duy ảo tưởng nầy có thể là dấu hiệu của thời kỳ trầm trọng của bệnh ghiền nhiên liệu hóa thạch cao độ. Trong khi khả năng phân biệt hoang tưởng với thực tại tan biến, bệnh nhân luôn tin tưởng mọi vấn đề trước mắt sẽ dễ dàng khống chế, trong khi trên thực tế, sự thật lại hoàn toàn trái ngược.
Đã hẳn, sự tương đồng chẳng có gì mới mẻ, nhất là khi nói đến sự lệ thuộc của Hoa Kỳ vào dầu nhập khẩu. Trong bài diễn văn về Tình Trạng Liên Bang năm 2006, George W. Bush, cũng chẳng phải là tổng thống đầu tiên làm việc nầy, đã tuyên bố: “Hoa Kỳ hiện đang ghiền dầu lửa.” Những lời tuyên bố tương tự đã thường đồng hành với các biếm họa của giới truyền thông, Uncle Sam, như một bợm ghiền, đang tuyệt vọng chích đợt “thuốc giải ghiền dầu lửa kế tiếp”. Nhưng rất ít nhà phân tích đã nhìn xa hơn sự tương đồng để có thể hiểu: thực trạng lệ thuộc của Hoa Kỳ vào dầu lửa đã là nguyên nhân đưa đến những phương cách ứng xử lệch lạc và tự diệt ngày một gia tăng. Thực vậy, bệnh ghiền nhiên liệu hóa thạch của thế giới rõ ràng đã tác động đến khả năng phán đoán ngày một suy yếu của các bậc lãnh đạo cao cấp, như đang diễn ra trước mắt.
Bằng cớ thuyết phục nhất đã biểu hiện trong các dữ liệu chính thức của Hoa Kỳ về lượng khí thải carbon dioxide trong môi sinh. Thế giới ngày nay đang chứng kiến một lượng CO2 gấp 150% lượng khí thải trong năm 1988, khi James Hansen, giám đốc đương nhiệm Viện Nghiên Cứu Không Gian Goddard thuộc NASA, đã cảnh cáo Quốc Hội: hành tinh ngày một hâm nóng do kết quả của hiệu ứng nhà kính; và sinh hoạt của nhân loại, phần lớn dưới hình thức lượng khí thải carbon xuất phát từ quá trình tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, hầu như chắc chắn đã là nguyên nhân chính yếu.
Với một quan tâm phải chăng đối với số phận của hành tinh mạnh mẽ hơn niềm tin cuồng nhiệt đối với nhiên liệu hóa thạch, chúng ta đã có thể chờ đợi, nếu không phải một sự giảm sụt trong lượng khí thải nhà kính, ít ra một sự giảm thiểu trong tỉ suất gia tăng khí thải carbon qua thời gian. Thay vào đó, Cơ Quan Thông Tin Năng Lượng Hoa Kỳ (U.S. Energy Information Administration — EIA) đã tiên đoán lượng khí thải nhà kính toàn cầu sẽ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ trong 25 năm sắp tới, đạt mức 45,5 tỉ tấn vào năm 2040, hơn hai lần lượng khí thải ghi nhận trong năm 1998, và theo hầu hết các khoa học gia, đủ để biến hành tinh thành một địa ngục trần gian. Mặc dù hiếm khi được công nhận như thế, đây chính là định nghĩa của quá trình tự diệt do chính bệnh ghiền nhiên liệu hóa thạch.
Đối với nhiều người trong chúng ta, bệnh ghiền dầu lửa đã thẩm thấu trong đời sống hàng ngày theo nhiều phương cách ngoài vòng kiểm soát của chính mình. Chẳng hạn, qua việc cởi bỏ một cách có hệ thống và chấm dứt tài trợ các chương trình chuyên chở công cộng, người Mỹ đã trở nên ngày một lệ thuộc vào xe hơi cá nhân và xăng dầu, và đa số dân chúng sống bên ngoài các thành phố lớn khó lòng tìm được phương tiện di chuyển thay thế. Mặc dù ngày một nhiều người tìm cách tậu mãi xe chạy bằng điện, sử dụng phương tiện vận tải công cộng nếu có, hay đi xe đạp, nhưng đây cũng chỉ là một thiểu số không đáng kể. Và một nổ lực khổng lồ trong tương lai là tối cần thiết để tái cấu trúc hệ thống di chuyển và vận tải theo chiều hướng thuận lợi cho khí hậu.
Riêng đối với tầng lớp 1% trên đỉnh, bệnh ghiền nhiên liệu hóa thạch, bắt nguồn từ sức cám dỗ của phú quý và quyền uy, là một thứ còn khó đề kháng và cởi bỏ hơn nhiều. Dầu khí là loại hàng mang lại nhiều lợi lộc nhất trên thế giới, và là nguồn tài sản và ảnh hưởng lớn lao đối với giai cấp thống trị trong các xứ sản xuất năng lượng, nhất là Iran, Iraq, Kuwait, Nigeria, Liên Bang Nga, Saudi Arabia, Venezuela, United Arab Emirates, và Hoa Kỳ.
Cá nhân các cấp lãnh đạo trong các xứ nầy không nhất thiết đã được trực tiếp hưởng lợi từ việc tích lũy thu nhập từ dầu khí, nhưng chắc chắn đều nhận chân được khả năng duy trì quyền lực hầu như hoàn toàn tùy thuộc ở khả năng đáp ứng yêu cầu của các nhóm quyền lợi năng lượng đã bám trụ vững chắc, và kỷ năng phối trí các tài nguyên năng lượng nhằm thành đạt ưu thế chính trị và chiến lược. Điều nầy cũng đúng với Barack Obama, người đã giữ địa vị quán quân trong chiến lược lèo lái nỗ lực gia tăng sản lượng dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên quốc nội, không mấy khác Vladimir Putin, người đã tìm cách đẩy mạnh ảnh hưởng quốc tế của Liên Bang Nga qua chiến lược xuất khẩu nhiên liệu hóa thạch ngày một gia tăng.
Các quan chức cao cấp trong các xứ nói trên, hiểu rõ hơn chúng ta rất nhiều, là nguy cơ biến đổi khí hậu đang ngày một trầm trọng, và chỉ một sự giảm thiểu lớn lao trong mức khí thải nhà kính mới có thể ngăn ngừa các hiệu ứng tàn phá lớn lao. Nhưng chính quyền và quan chức các đại công ty năng lượng đang nối kết chặt chẽ với doanh lợi do nhiên liệu hóa thạch mang lại, hay với các quyền lợi chính trị qua quyền kiểm soát dòng chảy năng lượng, đến độ không còn có đủ khả năng vượt khỏi cơn mê sảng đối với sản lượng dầu khí ngày một lớn lao hơn.
Chính vì những lý do trên, trong khi Tổng Thống Obama thường nói đến ý muốn gia tăng các nguồn năng lượng có thể tái tạo của Hoa Kỳ, Obama cùng lúc đã vồ vập mọi kế hoạch năng lượng nói trên nhằm hậu thuẩn một sự gia tăng sản lượng dầu lửa và khí đốt thiên nhiên. Thực tế nầy cũng đúng với hầu hết các quan chức cao cấp trong chính quyền. Ngoài cửa miệng, mặc dù luôn tuyên bố đang tuân thủ nhu cầu phát huy kỹ thuật xanh, nhưng trong hành động, lại luôn dành ưu tiên cho các dự án gia tăng sản lượng dầu lửa, hơi đốt, và than. Ngay cả vào năm 2040, theo dự phóng của EIA, những nguồn nhiên liệu hóa thạch vẫn còn cung cấp khoảng 4/5 tổng số cung nhiên liệu thế giới.
Sự thiên lệch có lợi cho nhiên liệu hóa thạch so với mọi nguồn năng lượng có thể tái tạo khác, mặc dù với tất cả những gì chúng ta đã biết về biến đổi khí hậu, có thể được xem như cơn mê sảng carbon. Bạn có thể tìm thấy bằng cớ của bệnh lý trên toàn thế giới và trong vô vàn phương cách, nhưng sau đây là vài ví dụ không thể lầm lẫn của thời kỳ nghiêm trọng của bệnh lý và hệ lụy.
Khai Thác Trữ Lượng Dầu trong Vịnh Mexico
Sau khi công ty năng lượng khổng lồ BP nhận tội bất cẩn trước tòa vì đã gây ra tai họa Deepwater Horizon trong tháng 4-2010, gây thương vong cho 11 nạn nhân và vụ loang dầu khổng lồ, Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường, Environmental Protection Agency (EPA) đã quyết định chấm dứt quyền thủ đắc các hợp đồng khoan dầu mới của BP trong vùng Vịnh Mexico. Quyết định khai trừ đã được xem như một thất bại lớn lao đối với BP, công ty từ lâu đã giữ vai trò khống chế trong phạm vi khai thác dầu ngoài biển sâu trong vùng Vịnh.
Nhằm giành lại quyền tiếp cận dầu vùng Vịnh, BP đã kiện EPA và gây áp lực đối với chính quyền Obama. Cuối cùng, vào ngày 13-3-2014, sau nhiều tháng vận động hành lang và thương nghị, EPA đã loan báo BP có thể được phép tái tham dự đấu thầu nhiều hợp đồng mới, nhưng phải tuân thủ một danh sách kiểm soát chặt chẽ hơn.
Các quan chức BP xem loan báo như một thắng lợi lớn, cho phép công ty tái tích cực thăm dò và khai thác các trữ lượng dầu mới dưới biển sâu trong vùng Vịnh.
Chủ Tịch BP America và Tổng Thống John Mingé đã phát biểu: “Thỏa ước hôm nay sẽ cho phép nhà đầu tư lớn nhất Châu Mỹ một lần nữa cạnh tranh giành các khế ước và hợp đồng liên bang.”
Các quan sát viên trong kỹ nghệ dầu tiên đoán công ty BP giờ đây sẽ thủ đắc thêm nhiều hợp đồng trong vùng Vịnh, đã hẳn với sự hiện diện vốn sẵn quan trọng. Stephen Simko, một chuyên gia dầu lửa thuộc Morningstar Investment Analysts cũng đã bình luận, ” trong thực tế, với thỏa ước nầy nhiều người tin tưởng Vịnh Mexico có thể là một tích sản then chốt trong các hoạt động của BP không những trong thập kỷ nầy mà rất có thể trong nhiều thập kỷ sắp tới.” Sáu ngày sau khi EPA loan báo quyết định của mình, BP đã bỏ thầu 42 triệu USD nhằm thủ đắc 24 hợp đồng mới trong vùng Vịnh.
Như vậy, quyền lợi của BP đã khá rõ ràng, nhưng quyền lợi của nhân dân Mỹ và nhân loại nói chung trong tất cả những gì vừa nói là gì? Vâng, Tổng Thống Obama có thể nói: hoạt động khoan dầu gia tăng có thể nâng cao sản lượng dầu lửa quốc nội thêm vài trăm nghìn thùng dầu mỗi ngày, cũng như có thể đem lại vài nghìn công ăn việc làm.
Nhưng liệu tổng thống có thể nào bảo đảm với các thế hệ mai hậu, qua việc cho phép gia tăng hoạt động khoan dầu trong vùng Vịnh, tổng thống đang làm tất cả những gì có thể để giảm thiểu mối đe dọa biến đổi khí hậu như ông đã hứa hẹn trong bài diễn văn về Tình Trạng Liên Bang gần đây nhất?
Nếu tổng thống thực sự muốn tìm kiếm một phương cách đơn giản và rõ ràng để tái xác quyết lời cam kết, sau đây có thể là một chỗ tốt để bắt đầu: trong khi nhiều người còn nhớ rõ những thiệt hại do tai họa Deepwater Horizon đã gây ra và thái độ hờ hửng của các quan chức BP đối với các nạn nhân, một lựa chọn duy trì quyết định cấm BP tiếp cận các hợp đồng khoan dầu mới vì lý do môi trường và khí hậu chắc chắn đã có thể lôi cuốn được sức hậu thuẩn của quần chúng.
Sự kiện Obama lựa chọn không làm điều đó là bằng chứng một đầu hàng mới trước sức mạnh của giới quyền lực dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên — và đó chính là tác động của cơn mê sảng carbon.
Tuyến Ống Dẫn Dầu Keystone XL
Nếu giấc mơ gây áp lực với Putin của chính quyền Obama với biện pháp xuất khẩu LNG qua Âu Châu đã thất bại vì thiếu sức khả tín, đợt vận động liên hệ của phe Cộng Hòa chuẩn y dự án thiết kế tuyến-ống-dẫn-dầu-cát Keystone XL, (Keystone XL tar-sands pipeline), là một hành động điên rồ.
Keystone nhằm muc tiêu chuyển tải khí bitumen loãng giàu carbon, từ Athabasca tar sands, Canada đến các nhà máy lọc dầu trên bờ biển vùng Vịnh Mexico. Công trình xây dựng đã bị đình chỉ vì tác động tai hại đến nguồn cung nước ngọt dọc theo hệ thống ống dẫn và làm gia tăng lượng khí thải carbon dioxide toàn cầu.
Vì Keystone đi xuyên qua một biên giới quốc tế, công tác xây cất phải được không những Bộ Ngoại Giao, mà cả chính tổng thống chấp thuận. Đảng Cộng Hòa và phe bảo thủ từ lâu đã hậu thuẩn tuyến ống dẫn như hành động chống đối điều họ gọi là “khuynh hướng quá quan tâm đến các âu lo về môi trường của chính quyền”.
Hiện nay, trong bối cảnh khủng hoảng Ukraine, họ bất thần mô tả sự chấp thuận tuyến ống dẫn như tín hiệu Hoa Kỳ đang quyết tâm chống lại các động thái gây hấn của Putin ở Crimea và Ukraine.
Như nguyên ngoại trưởng Condoleezza Rice đã viết trên trang biên tập báo Washington Post: “Putin đang hành động theo dài hạn, khéo léo khai thác mọi cơ hội có thể. Chúng ta cũng phải theo cùng đường lối. Cho phép xây tuyến dẫn dầu Keystone XL và hậu thuẩn xuất khẩu hơi đốt thiên nhiên có thể xem như gửi tín hiệu chúng ta đang quyết tâm làm chính điều đó.”
Liệu có ai thực tình tin Vladimir Putin sẽ bị ảnh hưởng bởi lời loan báo của Tòa Bạch Ốc cho phép xây cất tuyến ống dẫn Keystone XL?
Chính quyền Putin hiện đang phải đối đầu với các chế tài kinh tế quan trọng và các động thái trừng phạt khác, tuy vậy vẫn không mảy may bị lay chuyển khỏi những gì ông ta tin là quyền lợi thiết thân của Liên Bang Nga. Trong bối cảnh đó, tại sao Putin lại phải âu lo Hoa Kỳ có thể nhập khẩu dầu nhiều hơn từ Canada và ít hơn từ Mexico, Nigeria, Venezuela, và các nguồn cung cấp khác, và ông phải quan tâm?
Ngoài ra, khi gợi ý: chấp thuận Keystone XL một cách nào đó có thể khiến Obama thêm quyết đoán, có thể khuyến khích Obama chấp nhận các biện pháp chế tài khe khắt hơn đối với Moscow…, một đức tin chẳng mấy khác theo đuổi điều các nhà tâm lý học gọi là “tư duy kỳ diệu” (magical thinking)…
Bảo rằng Keystone còn để chuyển tải bất cứ những gì khác hơn dầu lửa, việc xây cất Keystone một cách nào đó có thể ảnh hưởng đến quá trình lấy quyết định của tổng thống hay các biến cố dọc biên giới Liên Bang Nga…, đó cũng chỉ là những chuyện khá buồn cười.
Tuy nhiên, cơn mê sảng dầu khí đang trong thời kỳ cao độ và đã khiến người Mỹ tự cho phép tin vào những phép lạ như thế. Điều nầy cũng chỉ là triệu chứng của cơn mê sảng năng lượng hóa thạch quá cuồng nhiệt !
Vụ Thất Thoát 20 Tỉ USD ở Nigeria
Chúng ta đang nói đến vụ 20 tỉ USD, thu nhập từ dầu lửa, thất thoát khỏi ngân khố Nigeria. Ở Nigeria, nơi lợi tức trung bình chưa đến 2 USD mỗi ngày và hàng triệu người đang sống trong cảnh cực kỳ nghèo khó, đánh mất một ngân khoản khổng lồ như thế là nguyên nhân để phải cực kỳ âu lo.
Nếu được sử dụng để mua các tài hóa công, số 20 tỉ có thể đã giúp cung cấp giáo dục cơ bản và các dịch vụ y tế cho hàng triệu người, giúp giảm thiểu sự lan tràn bệnh AIDS, và giúp khởi động quá trình phát triển trong nhiều vùng nông thôn nghèo khó… Nhưng trong thực tế, phần lớn số tiền nầy có khả năng đã tẩu tán vào các trương mục ngân hàng ở hải ngoại của các quan chức Nigeria có họ hàng thân thuộc là các giới chức cao cấp.
Sư thất thoát lần đầu tiên được tiết lộ trong tháng 2 khi thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Nigeria, Lamido Sanusi, thông báo cho ủy ban điều tra quốc hội: Công Ty Dầu Lửa Quốc Gia Nigeria (NNPC) đã không chuyển đầy đủ số tiền thu nhập từ các nghiệp vụ bán dầu vào ngân khố quốc gia như luật định.
Nigeria là quốc gia sản xuất dầu hàng đầu ở Phi Châu và số thu nhập từ sản lượng dầu không thuộc phần các đối tác ngoại quốc đều phải nộp vào ngân khố quốc gia. Với giá dầu giao động trên dưới 100 USD một thùng, trên lý thuyết, Nigeria đúng ra đã phải tích lũy được hàng chục tỉ USD mỗi năm từ số dầu xuất khẩu.
Ngay sau đó, Sanusi đã bị Tổng Thống Goodluck Jonathan cho nghỉ việc vì tiết lộ NNPC đã báo cáo cho ngân hàng quốc gia số thu nhập thấp một cách khả nghi, âu lo một số lợi tức tối thiết của nhà nước đã bị thất thoát và nguy cơ gây bất ổn định cho đơn vị tiền tệ quốc gia. Sự giải thích rõ ràng duy nhất, theo ông, là các quan chức trong công ty đã biển lận số sai biệt. Sanusi đã cung cấp cho báo The New York Times thông tin: “một số tiền quan trọng đã thất thoát. Tôi không chỉ nói đến các con số. Tôi đã nêu rõ đây là một vụ tham nhũng.”
Trong khi tầm cỡ vụ gian lận khá lớn, tuy vậy, nội vụ cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Ngay từ khi Nigeria bắt đầu sản xuất dầu khoảng 60 năm trước đây, một nhóm lãnh đạo chính trị trong giới doanh thương và trong chính quyền đã kiểm soát cơ chế phân phối số thu nhập từ dầu lửa, sử dụng số thu nhập để mua chuộc cấp trên và bảo đảm quyền lợi riêng tư của chính họ. NNPC đã là tọa độ mầu mỡ của tham nhũng, vì lẽ các thao tác hay giao dịch tài chánh phần lớn đều được miễn nhiễm mọi thanh tra công cộng, do đó, cơ hội tham nhũng càng lớn lao.
Sanusi chỉ là một trong số nhỏ công chức đầy công tâm, và đã nỗ lực thăm dò chiều sâu của tệ nạn tham nhũng. Một phúc trình năm 2012 bởi người cầm đầu ngành chống tham nhũng đương thời, Nuhu Ribadu, cũng đã tiết lộ một vụ thất thoát không kém lớn lao, khoảng 29 tỉ USD, của NNPC, giữa các năm 2001 và 2011.
Đây cũng là một hình thức mê sảng năng lượng hóa thạch không kém rõ ràng khác: nạn ghiền dầu lửa phi pháp sâu xa đến độ đã đem lại nguy cơ cho hệ thống tài chánh và an sinh của 175 triệu dân.
Tổng Thống Jonathan đã hứa sẽ điều tra vụ cáo giác của Sanusi, nhưng trong thực tế, rất ít cơ may bất cứ một phần đáng kể nào trong số 20 tỉ USD thất thoát sẽ được hoàn trả cho ngân khố Nigeria.
Bệnh Ghiền và Phương Thức Cứu Chữa
Các ví dụ mê sảng năng lượng hóa thạch trên đây cho thấy trình độ thẩm thấu và tác động sâu rộng của bệnh ghiền trong văn hóa toàn cầu hiện nay. Riêng ở Hoa Kỳ, bệnh ghiền carbon đã lan tràn trong mọi tầng lớp xã hội, và càng lên cao trong nấc thang lãnh đạo các đại công ty hay trong chính quyền, cơn bệnh càng nghiêm trọng.
Làm chậm bớt nhịp độ biến đổi khí hậu chỉ mới là điều khả dĩ một khi bệnh lý đã được nhận diện, đối phó, và trung tính hóa. Ngay cả chữa trị bệnh ghiền ma túy đối với một cá nhân cũng đã là một việc làm cực kỳ khó khăn.
Tuy nhiên, nếu tái định đề tài khí hậu như một vấn đề y tế công cộng, tương tự như ghiền ma túy, chúng ta mới có thể có đủ khả năng tìm được các chiến lược hữu hiệu để chận đứng các hệ lụy tai hại nhất. Điều nầy có nghĩa cần soạn thảo các chương trình cứu chữa tuần tự từng bước, đem lại động lực thúc đẩy mọi người tìm cách giảm thiểu trình độ lệ thuộc vào dầu lửa, và áp đặt các chế tài đối với những ai đề kháng quá trình chuyển tiếp với mục dích trục lợi.
Giải tư khỏi các chứng khoán nhiên liệu hóa thạch đã hẳn là phương cách tốt nhất. Giải pháp đòi hỏi phải hy sinh những triển vọng tưởng thưởng tương lai qua quyết định từ bỏ chấp hữu các chứng khoán cùng loại, khuyến khích các qũy đầu tư tránh xa các công ty nhiên liệu hóa thạch, nói chung, chấm dứt mọi hình thức hổ trợ hoạt động của các công ty liên hệ.
Nhưng phương thức giải độc carbon quan trọng hơn hết phải đến kịp thời. Cũng như đối với các bệnh ghiền khác, bước đầu mang tính quyết định là xác quyết bệnh ghiền nhiên liệu hóa thạch đã đến thời kỳ nghiêm trọng và đang gây nguy cơ trực tiếp cho toàn thể nhân loại. Muốn có hy vọng tránh khỏi các hậu quả tai hại của biến đổi khí hậu, chúng ta phải hoạch định một chương trình từ bỏ carbon phổ quát và áp đặt các hình phạt đối với những ai liên tục khuyến khích và hổ trợ bệnh ghiền carbon.
Đã hẳn ước mơ càng cao xa, quá trình thể hiện càng gặp nhiều trở lực.
Như mọi người đều biết, mỗi khi nói đến các hệ quả địa chính trị của cách mạng dầu khí đá phiến, cấp lãnh đạo các đại công ty và chính quyền Hoa Kỳ, mặc dù hơn ai hết, đã hiểu rõ tai họa của hiện tượng biến đổi khí hậu đang đến ngày một gần và nghiêm trọng hơn, vẫn chỉ quan tâm và luôn cuồng nhiệt nhấn mạnh: cách mạng dầu khí đá phiến chính là ưu thế năng lượng của Mỹ trong chính sách đối ngoại!

Nguyễn Trường
Irvine, California, USA
17-4-2014

Advertisements