MỘT GÓC NHÌN CÁC CUỘC CHIẾN CỦA HOA KỲ TRONG LỊCH SỬ CẬN ĐẠI
(BÀI ĐĂNG LẠI–21-6-2014)

Filed under: Uncategorized — Để lại phản hồi

Tháng Sáu 3, 2013

MỘT GÓC NHÌN CÁC CUỘC CHIẾN CỦA HOA KỲ TRONG LỊCH SỬ CẬN ĐẠI

Trong hơn một thập kỷ vừa qua, Hoa Kỳ luôn ở trong tình trạng chiến tranh triền miên. Những cuộc chiến không tên, hay đúng hơn, chỉ lúc đầu mới có. Sau biến cố 11/9, chính quyền George W. Bush đã không đợi lâu trước khi loan báo “Cuộc Chiến Toàn Cầu Chống Khủng Bố”, hay “Global War on Terrorism ” — “GWOT”. Với rất ít ngoại lệ, các cơ quan truyền thông đã vồ vập và phổ biến tên gọi cuộc chiến. GWOT đã hứa hẹn một cuộc phiêu lưu khổng lồ mang tính chuyển biến. Sự cố mào đầu 11/9 đã sớm mang tính định hình thời đại. Trong nội bộ phái Tân Bảo Thủ, cuộc chiến đã được biết như Đệ Tứ Thế Chiến.

Tuy nhiên, ngay sau khi đảm nhiệm vai trò tổng thống trong năm 2009, Barack Obama đã hủy bỏ danh hiệu Cuộc Chiến, như ông, một lần nữa, đã làm trong bài nói chuyện tại Đại Học Quốc Phòng vào cuối tháng 5-2013. Tuy vậy, dù tên gọi đã bị xóa bỏ, cuộc chiến vẫn tiếp tục.

Cuộc chiến đã trở thành và tiếp diễn như cuộc chiến không tên. Nhưng điều đó có gì quan trọng? Chúng ta phải thú nhận: “Rất Có Ý Nghĩa”!

Thực vậy, tên gọi đem lại ý nghĩa. Khi nói đến chiến tranh, tên gọi, buộc chặt với thời điểm, luôn định hình sự hiểu biết của mọi người về cuộc xung đột mang một ý nghĩa. Các chi tiết khi cuộc chiến bắt đầu và khi chấm dứt luôn đem lại những giải thích nào đó về ý nghĩa của nó trong khi làm mất uy tín các cuộc chiến khác.

Thử xét một vài trường hợp điễn hình.

Với rất ít ngoại lệ, người Mỹ ngày nay đã mô tả nạn nồi da xáo thịt 1861-1865 như cuộc Nội Chiến. Tuy vậy, chỉ cách đây vài thập kỷ, phe hậu thuẩn kiên trì Chính Nghĩa Đánh Mất (Lost Cause) đã nhấn mạnh phải nói đến cuộc xung đột như “Cuộc Chiến Giữa các Tiểu Bang” — “War Between the States” hay “Cuộc Chiến Vì Độc Lập của Miến Nam (War for Southern Independence), hay ngay cả Cuộc Chiến Xâm Lăng Từ Miền Bắc” — “War of Northern Aggression”.

Miền Nam có thể đã đi vào lịch sử trong chiến bại, nhưng các mục tiêu dân Mỹ ở miền Nam đã theo đuổi trong cuộc chiến — nhằm duy trì một lối sống đặc thù và nguyên tắc các quyền hạn của tiểu bang (preserving a distinctive way of life and the principle of states’ rights) — là thật sự đáng giá, ngay cả cao thượng. Vì vậy, ít ra họ đã nói rõ đức tin của họ, với những tên gọi ưa thích dành cho cuộc chiến phản ảnh lòng tin.

Các sách giáo khoa ở Hoa Kỳ đã cho người Mỹ biết “Cuộc Chiến Tây Ban Nha- Hoa Kỳ” — “Spanish-American War,” đã bắt đầu từ tháng 4-1898 và chấm dứt trong tháng 8 cùng năm. Tên gọi và nhật kỳ đã phù hợp thích đáng với khuynh hướng phổ cập, từ ngày Tổng Thống William McKinley cho đến ngày nay, đã đóng khung sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Cuba như một nỗ lực vị tha nhằm giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, người Cuba không phải là người bàng quan trong thảm kịch. Vào khoảng năm 1898, họ đã phải chiến đấu nhiều năm để xua đuổi các chủ-nhân-ông-thực-dân ra khỏi đất nước. Và mặc dù cuộc chiến đã chấm dứt vào ngày 12-8, các xung đột ở Cuba vẫn tiếp nối bởi cuộc chiến ở Philippines, một thuộc địa khác của Tây Ban Nha do Hoa Kỳ chiếm giữ trước đó, vì những lý do liên hệ xa xôi đến mục tiêu giải phóng Cuba.

Thực ra, quân đội Hoa Kỳ đã chiếm đóng Philippines và đã phát động một cuộc chiến tàn nhẫn, không chỉ để chống lại Tây Ban Nha mà chính yếu để chống lại các phần tử quốc gia Philippines không sẵn sàng chấp nhận sự ngự trị của chủ nghĩa thực dân Hoa Thịnh Đốn hơn là Madrid. Do đó, qua tầm nhìn liên kết “khúc dạo đầu Cuba” với “khúc dạo cuối Philippines”, bạn sẽ có được một kiến thức lịch sử xuyên suốt: “Cuộc Chiến Tây Ban Nha-Hoa Kỳ-Cuba-Philippines 1895-1902. Quá luộm thuộm cồng kềnh? Để dễ hiểu, chúng ta có thể gọi vắn tắt “Cuộc Chiến vì Đế quốc Hoa Kỳ” — “the War for the American Empire?”

Một sự thật phủ phàng nhưng xác thực: thay vì soi sáng, sách giáo khoa cũ rích của Mỹ thường không để mô tả hay nhận diện, mà chủ yếu là chỉ để che đậy sự thật.

Mới nhìn có thể khá kỳ lạ, người Âu Châu có lúc đã nói đến các biến cố tai họa 1914-1918 như “Cuộc Chiến Vĩ Đại” — “The Great War”. Năm 1917, khi Tổng Thống Woodrow Wilson gửi lính bộ binh tham chiến bên cạnh các Đồng Minh, Tổng Thống đã vượt quá khuôn khổ một Cuộc Chiến Vĩ Đại mà còn có tầm nhìn rộng lớn xa xôi hơn. Với Tổng Thống, “Cuộc Chiến Vĩ Đại” đã trở thành “Cuộc Chiến để Chấm Dứt Tất Cả Các Cuộc Chiến” — “The War To End All Wars”.

Không may, thực tế đã không diễn ra như Tổng Thống mong đợi. Có lẽ Tổng Thống đã tiên liệu sự cáo chung của viễn kiến về một nền hòa bình vĩnh viễn, Tổng Lệnh 115 của Bộ Chiến Tranh (War Department General Order 115), ban hành ngày 7-10-1919, đã chính thức tuyên bố, ít nhất trong chừng mức liên can đến Hoa Kỳ: các cuộc xung đột vừa chấm dứt đơn thuần có thể được biết như “Cuộc Thế Chiến”.

Tháng 9-1939, Cuộc Thế Chiến Vĩ Đại đã trở thành “Đệ Nhất Thế Chiến.” Cuộc xâm lăng Ba Lan của Đức Quốc Xã đã khai trương “Đệ Nhị Thế Chiến”, cũng còn được biết dưới tên gọi “World War II” hay “WWII”. Đã hẳn, nhà độc tài Xô Viết Josef Stalin đã ưa thích tên gọi “Cuộc Chiến Ái Quốc Vĩ Đại” — “The Great Patriotic War”. Mặc dù đã được hầu như toàn thể công dân Xô Viết ưa thích ngay tức khắc, tên gọi nầy đã không được vồ vập trong các xứ khác.

Phải chăng tên gọi “Đệ Nhị Thế Chiến” đã nắm bắt một cách trung thực các biến cố bao trùm? Với cuộc thánh chiến chống Phe Trục ngày nay được sắp hạng tương đương với cuộc thánh chiến chống chế độ nô lệ, như một chương các chuyện thần thoại trong lịch sử Hoa Kỳ mọi người đều phải sùng bái suy tôn.

Trong thực tế, mặc dù rất thuận lợi và quen thuộc, Đệ Nhị Thế Chiến rất lệch lạc, chệch hướng, và không đặc biệt hữu ích. Giai đoạn nầy ít ra cũng đã chứng kiến hai cuộc chiến chỉ liên hệ mong manh với nhau — mỗi cuộc chiến có nguồn gốc, nguyên do riêng, và dẫn đến các hệ lụy khác hẳn nhau. Tách riêng hai cuộc chiến có nghĩa đã làm biến đổi bối cảnh lịch sử.

Thoạt tiên, chúng ta đã chứng kiến “Cuộc Chiến Thái Bình Dương” — cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Chính thức khởi động bởi biến cố Trân Châu Cảng ngày 7-12-1941, trong thực tế, đã bắt đầu từ một thập kỷ trước đó khi Nhật Bản phát động chính sách chinh phục Mãn Châu bằng vũ lực. Mục tiêu: quốc gia nào sẽ khống chế Đông Á? Sự thất bại nặng nề của Nhật, trong tay Hoa Kỳ sau hai bom nguyên tử trong năm 1945, đã là câu trả lời, ít ra cho đến ngày nay.

Kế đến là Cuộc Chiến ở Âu Châu, giữa Đức Quốc Xã, lúc đầu với Anh Quốc và Pháp, nhưng rút cuộc với đại liên minh dẫn đầu bởi Hoa Kỳ, Liên Xô, và một Đế Quốc Anh chóng tàn lụi. Vấn đề cần giải quyết là quốc gia nào sẽ khống chế Âu Châu? Sự thất bại của Đức Quốc Xã đã giải quyết vấn đề, ít ra cho đến nay. Không riêng một quốc gia nào đã khống chế. Trong thực tế, nhằm ngăn ngừa bất cứ một đại cường duy nhất nào kiểm soát Âu Châu, hai đại cường bên ngoài khu vực đã phân chia quyền khống chế và vùng ảnh hưởng.

Sự phân chia nầy đã đem lại cơ sở cho cuộc “Chiến Tranh Lạnh” sau đó, một cuộc chiến chưa hẳn thật sự lạnh, nhưng cũng may chưa phải là “Đệ Tam Thế Chiến”, dù bây giờ nhìn lại thái độ gây hấn và khẳng định của phái Tân Bảo Thủ.

Nhưng Chiến Tranh Lạnh đã bắt đầu từ lúc nào? Phải chăng là từ đầu năm 1947, khi T T Harry Truman quả quyết Liên Bang Xô Viết dưới thời Stalin là hình ảnh một đe dọa đang dần dà lộ diện, và rồi Hoa Kỳ đã cam kết theo đuổi chiến lược ngăn chận?

Hay đó là năm 1919, khi Vladimir Lenin xác quyết Winston Churchill đã cam kết bóp ngạt chủ nghĩa Bolshevism ngay từ lúc sơ sinh (Winston Churchill’s vow to strangle Bolshevism in its cradle) như một đe dọa minh thị từ cuộc Cách Mạng Nga, với sự can thiệp quân sự Anh Quốc-Hoa Kỳ phơi bày một quyết tâm thực hiện lời nguyền của hai đại cường?

Tách riêng cuộc chiến chống Đức Quốc Xã khỏi cuộc chiến chống Đế Quốc Nhật cũng mở ra một lối giải thích khả dĩ khác.

Nếu kết hợp cuộc xung đột Âu Châu 1914-1918 với cuộc xung đột Âu Châu năm 1939-1945 trong một tường thuật duy nhất, chúng ta có thể có Cuộc Chiến Ba Mươi Năm Thứ Hai (cuộc chiến ba mươi năm thứ nhất đã diễn ra trong giai đoạn 1618-1648) — không hẳn một xung đột Thiện chống Ác, mà là một diễn tập vô thức tự diệt phản ảnh cơn điên Âu Châu.

Xét cho cùng, lựa chọn tên gọi cho sô diễn quân sự không những ở Iraq và Afghanistan, mà cả ở một số các quốc gia trong thế giới Hồi Giáo, cũng là việc làm khá quan trọng. Mặc dù chính quyền Obama hình như cũng không ưa thích gì hơn chính quyền Bush khi phải quyết định sô diễn phải thực sự chấm dứt vào lúc nào, lựa chọn thời điểm bắt đầu trình tự cũng không kém cần thiết.

Mặc dù Hoa Thịnh Đốn hình như không mấy vội vàng đặt tên cho cuộc chiến không tên — và chắc sẽ lựa chọn một tên có lợi cho chính mình, hay giảm thiểu tính tiêu cực nếu thực sự muốn giải quyết vấn đề — có lẽ thế giới cũng nên khởi động trình tự.

Trong tinh thần đó, thử xét xem vài lựa chọn khả dĩ — những tên gọi thực sự có thể giải thích những gì đã và đang diễn tiến.

Cuộc Chiến Dài Lâu

Ra đời sau biến cố 11/9, bởi các quan chức cao cấp trong Ngũ Giác Đài, tên gọi nầy chưa bao giờ được chuẩn nhận bởi các quan chức dân sự hay công chúng. Tuy vậy, tên gọi Cuộc Chiến Dài Lâu xứng đáng được xem xét, mặc dù — hay có lẽ vì — đã mất hết sức hấp dẫn qua thời gian.

Ngay từ đầu, tên gọi đã ám chỉ những tham vọng cực kỳ lớn lao, phấn chấn với lòng tin ở hiệu quả vô song của sức mạnh quân sự Hoa Kỳ. Đó là cuộc chiến nhiều năm, một xung đột kéo dài qua nhiều thế hệ, đã đem lại nhiều hệ lụy lớn lao.

Cuộc Chiến Dài Lâu đã bắt đầu với một âm sắc hy vọng. Du nhập sơ khởi vào Afghanistan rồi vào Iraq, với thông điệp sẽ hồi hương vào dịp diễn hành chiến thắng nhân Lễ Giáng Sinh. Nhưng sau đó không lâu, mong ước rõ ràng chỉ là một ảo ảnh, và chiến thắng đã thoát khỏi tầm tay Hoa Thịnh Đốn. Trể lắm cũng đến năm 2005, nhưng rồi tin tức từ các chiến trường đã làm tan vỡ các hy vọng “tân-Wilson” đã được nhen nhúm ở quốc nội.

Với hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan tiếp diễn, ý nghĩa nguyên thủy của cả hai đã mất từ lâu. Thay vì thực sự quan trọng, các xung đột đã trở thành đồng nghĩa với “không thể chấm dứt” (interminable). Ngày nay, Cuộc Chiến Dài Lâu chỉ gói ghém ngắn gọn kinh nghiệm của quân nhân Hoa Kỳ đã phải trải nghiệm nhiều đợt triển khai đến Iraq và Afghanistan.

Đối với những quân nhân nầy, đối tượng của Cuộc Chiến Dài Lâu đã trở thành dằng dặc cố chấp — không còn để chiến thắng. Cuộc Chiến Dài Lâu chỉ có thể kết thúc vào cuối năm 2014 nếu T T Obama giữ lời hứa chấm dứt vai trò tác chiến ở Afghanistan và nếu Obama tránh khỏi bị thu hút vào cuộc nội chiến Syria. Như vậy, các quân nhân Hoa Kỳ có thể còn có hy vọng…

Cuộc Chiến Chống Al-Qaeda

Cuộc chiến bắt đầu vào tháng 8-1996 khi Osama bin Laden ra tuyên ngôn “Tuyên Chiến với người Mỹ Chiếm Đóng Hai Địa Điểm Thiêng Liêng trong vùng Thánh Địa,” có nghĩa: Saudi Arabia. Trong tháng 2-1998, tuyên ngôn thứ hai của bin Laden đã loan báo: Giết người Mỹ, quân nhân cũng như thường dân, đã trở thành “một nhiệm vụ cá nhân đối với mọi tín đồ Hồi Giáo có thể làm trong bất cứ xứ nào có thể làm như vậy.”[1]

Mặc dù T T Bill Clinton đã quan tâm, phản ứng của Hoa Kỳ đối với lời thách thức của bin Laden chỉ mang tính giới hạn và vô hiệu. Chỉ sau biến cố 11/9, Hoa Thịnh Đốn mới thực sự âu lo trước đe dọa nầy một cách nghiêm túc. Kể từ đó, ngoài cuộc phiêu lưu võ biền vô bổ vào Iraq (nơi, dưới thời Saddam Hussein, không hề có sự hiện diện của al-Qaeda), sự quan tâm của Hoa Kỳ đã tập trung vào Afghanistan, nơi quân lực Hoa Kỳ đã phát động một cuộc chiến dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, và vào dọc biên giới các bộ lạc của Pakistan, nơi một chiến dịch “drone” của CIA đang tiếp diễn.

Vào cuối nhiệm kỳ đầu của T T Obama, các cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã tường trình một chiến dịch hỗn hợp CIA/quân sự để hủy diệt phần lớn tổ chức của bin Laden. Ngay cả bin Laden cũng đã thiệt mạng.

Như vậy, liệu Hoa Kỳ đã có thể tuyên bố chiến thắng trong cuộc chiến không tên vào thời điểm nầy? Có lẽ, nhưng Hoa Kỳ không nghĩ gì nhiều về việc nầy. Thay vào đó, guồng máy an ninh quốc gia đã quan tâm nhiều hơn đến các tổ chức hậu duệ al-Qaeda khác, các nhóm chiến binh mang nhãn hiệu bin Laden theo đuổi thánh chiến của riêng họ. Các nhóm hậu duệ nầy đã lan tràn ở Maghreb, ở Yemen, Somalia, Nigeria, và Iraq thời hậu-Saddam, cùng với nhiều nhóm khác.

Vấn đề sẽ là: các nhóm nầy có phải là những nguy cơ thực sự đối với Hoa Kỳ hay nhiều lắm cũng chỉ là một thoáng âu lo — nhãn hiệu “al-Qaeda”cũng chỉ gợi nhớ cùng “một phản ứng có điều kiện” như chiêu bài chống “cộng sản” trước đây.

Người Mỹ cũng chẳng nên chờ đợi cuộc chiến sẽ sớm chấm dứt. Thực vậy, ông bầu các cuộc hành quân đặc biệt ở Ngũ Giác Đài gần đây đã suy đoán, đã hẳn không mấy thoải mái, cuộc chiến sẽ có thể tiếp diễn trên toàn cầu ít ra “từ 10 đến 20 năm nữa”. Giải thích một cách tự do, lời tiên đoán nầy có nghĩa: “Chẳng ai thực sự biết, nhưng chúng tôi hoạch định phải mất một thời gian khá lâu dài.”

Cuộc Chiến Vì Do Thái, Chống Do Thái , và Về Do Thái

Cuộc chiến nầy đã bắt đầu từ năm 1948.

Đối với nhiều người Do Thái, sự thành lập nhà nước Do Thái có nghĩa một hy vọng xa xưa đã được thể hiện.

Đối với nhiều tín đồ cơ đốc, ý thức chủ nghĩa chống Do Thái đã đạt đỉnh điểm trong Cuộc Hủy Diệt Do Thái Holocaust, Cuộc Chiến nầy đã đem lại một phương cách làm nhẹ bớt mặc cảm tội lỗi, mặc dù phần lớn đều đã được các người khác đền trả.

Đối với nhiều tín đồ Hồi Giáo, nhất là người Á Rập, đặc biệt hơn nữa là những người Á Rập đã từng sống trong xứ Palestine, động thái sáng lập nhà nước Do Thái đã phản ảnh một bất công nghiêm trọng. Đó là một hình thức xâm lăng do Tây Phương giàn dựng không được một ai chấp nhận — chủ nghĩa thực dân trá hình dưới một tên gọi khác.

Tường thuật lại cuộc tranh đấu dai dẳng tiếp theo mà không tỏ vẻ thiên lệch về phía nào là một điều khó thể thực hiện.

Tuy nhiên, sự thật hình như đã rất rõ ràng: trên bình diện can thiệp quân sự, cuối thập kỷ 1940 và thập kỷ 1950, Hoa Kỳ đã cố gắng giữ lập trường trung lập. Trong suốt thập kỷ 1960, lập trường của người Mỹ đã thay đổi. Hoa Kỳ đã trở thành quốc gia đỡ đầu chính yếu của Do Thái, cam kết duy trì và gia tăng địa vị ưu việt quân sự của Do Thái đối với các quốc gia láng giềng.

Trong những thập kỷ tiếp theo, cả hai quốc gia, Hoa Kỳ-Do Thái, đã vun quén một “quan hệ chiến lược đa diện.” Một Quốc hội Hoa Kỳ đã được thuyết phục cung cấp cho Do Thái vũ khí và nhiều hình thức viện trợ khác trị giá nhiều tỉ mỹ kim, biểu lộ những cam kết đối với an ninh và phúc lợi của nhà nước Do Thái không che đậy và bất khả thu hồi. Cả hai quốc gia san sẻ, trao đổi kỹ thuật và tình báo. Trong lúc đó, cũng như Do Thái đã không hề quan tâm đến các âu lo của Hoa Kỳ khi khai triển các vũ khí hạt nhân, Do Thái đã cố tình làm ngơ trước các yêu cầu của Hoa Kỳ phải tự chế ngưng cải biến đất đai lãnh thổ đã xâm chiếm làm “thuộc địa.”

Khi cần nhận diện những điều kiện cốt yếu tối thiểu của an ninh Do Thái, và trên bình diện định hình bất cứ thương nghị hòa bình nào giữa Palestine và Do Thái, Hoa Kỳ luôn bênh vực Do Thái.

Những tường thuật kể trên có vẻ thái quá, nhưng quả thật rất đúng trong thực tế. Với viễn kiến của Do Thái trên bình diện các đòi hỏi và điều kiện thương thảo — ưu thế quân sự vĩnh viễn và một Palestine vĩnh viễn phi quân sự với rất ít chủ quyền — Cuộc Chiến Vì Do Thái, Chống Do Thái, và Về Do Thái không có cơ may sớm chấm dứt.

Liêu Hoa Kỳ có thể hay không thể thủ lợi từ viễn cảnh kéo dài bất tận cuộc chiến nầy là điều khó quả quyết, nhưng chắc chắn Hoa Kỳ sẽ phải theo đuổi cuộc chiến nầy dài lâu.

Cuộc Chiến Vùng Trung Đông Nới Rộng

Đây là cuộc chiến sắp đánh dấu kỷ niệm một thế kỷ, trùng hợp với ngày khởi đầu của Đệ Nhất Thế Chiến.

Chẳng mấy lâu sau khi mặt trận Tây Âu lâm vào bế tắc, chính quyền Anh Quốc, tìm cách chiếm thế thượng phong, đã khởi sự giải thể Đế quốc Ottoman khi cấp lãnh đạo đế quốc nầy đã ngây ngô nhảy vào hàng ngũ đồng minh với Đức Quốc Xã, chống lại phe Đồng Minh.

Vào lúc cuộc chiến với Đức và Thổ Nhĩ Kỳ vừa chấm dứt, Anh Quốc đã bắt đầu vạch những biên giới mới, sáng chế các nhà nước, dựng lên các nhà cầm quyền phụng sự quyền lợi của chính mình, trong khi ban phát các lời hứa hẹn mâu thuẫn lẫn nhau giữa các nhóm cư dân trong những quản hạt mới của đế quốc Anh.

Để nhằm mục đích gì? Nói một cách đơn giản, người Anh có ý định làm chủ-nhân-ông từ Ai Cập đến Ấn Độ, cai trị qua trung gian hay trực tiếp. Kết quả là một vùng Trung Đông mới đã biến thành một đống rác.

Luân Đôn đã trị vì đống rác nầy, mặc dù với vô vàn khó khăn, cho đến lúc Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt. Vào thời điểm đó, qua việc từ bỏ mọi nỗ lực ngăn cản chiến tranh giữa người Á Rập và người Do Thái ở Palestine, và chấp thuận chia cắt Ấn Độ, Luân Đôn đã tỏ dấu hiệu nản lòng. Và Hoa Thịnh Đốn đã sốt sắng gánh vác vai trò thế Anh Quốc. Sức cám dỗ của dầu lửa quá mạnh! Và âu lo, mặc dù cũng quá đáng, người Xô Viết bành trướng ảnh hưởng trong vùng!

Không may, người Mỹ cũng chẳng mấy thành công gì hơn người Anh trong nỗ lực phát huy một tình trạng ổn định thân Tây Phương dài lâu. Trên nhiều phương diện, người Mỹ đã làm tình hình thêm trầm trọng, với sự phối hợp của hai cơ quan tình báo Anh-Mỹ CIA-M16 trong vai trò lật đổ chính quyền dân chủ do dân cử ở Iran năm 1953, đem lại một trường hợp thành công điễn hình, cho đến ngày nay, chưa bao giờ ngừng gây tai họa.

Tuy nhiên, phải đợi đến sau năm 1980, tình hình mới thực sự đáng quan tâm. Đó chính là năm chủ thuyết Carter đã được công bố, chỉ định Vịnh Ba Tư là quyền lợi an ninh quốc gia thiết thân, mở rộng cửa cho các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ không những trong vùng Vịnh, mà cả trong toàn vùng Trung Đông Nới Rộng (Greater Middle East — GME).

Giữa năm 1945 và 1980, một số đông quân nhân Mỹ đã phải bỏ mình chiến đấu ở Á Châu và nhiều nơi khác. Trong suốt khoảng thời gian nầy, hầu như không có quân nhân Mỹ nào đã phải hy sinh vì chiến đấu trong vùng GME.

Kể từ 1980, ngược lại, gần như không quân nhân Mỹ nào đã phải bỏ mình vì chiến đấu bất cứ ở đâu ngoài vùng GME.

Hoa Kỳ hy vọng thành đạt được gì trong Cuộc Chiến thừa kế và bất tận trong Vùng Trung Đông Nới Rộng? Bình định GME? Biến đổi GME theo đúng hình ảnh của Hoa Kỳ? Hay chỉ để độc chiếm GME?

Dù cho định nghĩa các mục tiêu cuộc chiến như thế nào chăng nữa, tình thế cũng chưa bao giờ khả quan. Một lần nữa, tình trạng nầy cũng đã gợi ý, trong một hình thức nào đó, cuộc chiến sẽ tiếp tục trong một thời gian dài lâu sắp tới.

Cuộc Chiến Chống Hồi Giáo

Cuộc chiến nầy cũng đã bắt đầu cách đây gần 1000 năm và tiếp tục trong nhiều thế kỷ, một xung đột giữa Cơ Đốc Giáo và Hồi Giáo.

Trong vòng vài trăm năm đầu, các vụ xung đột lâu lâu lại bùng phát dữ dội trên một diện rộng lớn cho đến khi nguội tắt, mãi đến cuộc thánh chiến cuối cùng vào một lúc nào đó trong thế kỷ 14.

Trong những năm tháng đó, nhiều người đã xem tôn giáo là một cái gì xứng đáng để chiến đấu và hy sinh, một đức tin các tín đồ Cơ Đốc Giáo phức tạp tinh vi hơn ngày nay không còn theo đuổi.

Tuy vậy, phải chăng chiến tranh tôn giáo ngày nay lại đã tái phát?

Hình như giáo sư Samuel Huntington đã nghĩ như vậy, mặc dù ông đã gọi sự xung đột như một “va chạm giữa các nền văn minh” (a clash of civilizations).

Vài chiến sĩ Hồi Giáo cực đoan đồng quan điểm với Giáo sư Huntington, đưa ra bằng chứng: xen vào hay can thiệp không phải lúc và không được hoan nghênh của những phần tử ngoại đạo (infidels), phần lớn trong đồng phục Hoa Kỳ, trong nhiều nơi thuộc thế giới Hồi Giáo.

Một số tín đồ Cơ Đốc Phúc Âm cũng đã chấp nhận việc làm cực đoan nầy, ngay cả hậu thuẩn các động thái quân nhân Hoa Kỳ đến chiếm đóng và các phi cơ không người lái chọn các xứ Hồi Giáo làm mục tiêu.

Khi giải thích lập trường của chính quyền Hoa Kỳ, các lãnh đạo chính trị như George W. Bush và Barack Obama luôn biểu lộ một quan điểm trái ngược. Họ tuyên bố, Hồi Giáo là một tôn giáo hòa bình, một phần trong Chúa Ba Ngôi Vĩ Đại (part of the great Abrahamic triad). Sự kiện các thành tố khác của Triad cũng cam kết tương tự: hòa bình là một mệnh đề Bush, Obama, và hầu hết người Mỹ, xem như sự thật hiễn nhiên, không cần bằng chứng. Vì vậy, không có lý do gì để các tín đồ Cơ Đốc, Do Thái và Hồi Giáo lại không thể sống chung hài hòa.

Tuy vậy, thử nhớ lại trong năm 2001 khi, trong một lúc thiếu chuẩn bị và xúc động, T T Bush đã mô tả cuộc chiến vừa mới bắt đầu như một cuộc Thánh Chiến — Crusade. Phải chăng đó là do lỡ lời vô ý thức? Nếu ngược lại, chúng ta buộc lòng phải gọi cuộc chiến nầy là Cuộc Chiến Vĩnh Viễn.

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

03-6-2013

——————————————————————————–

[1] In February 1998, a second bin Laden manifesto announced that killing Americans, military and civilian alike, had become “an individual duty for every Muslim who can do it in any country in which it is possible to do it.”

Advertisements