CAPITAL IN THE TWENTY-FIRST CENTURY
(TƯ BẢN TRONG THẾ KỶ 21)

“Das Kapital”(nguyên bản tiếng Đức của Karl Marx), xuất bản năm 1867, đã phải mất 5 năm mới bán được 1.000 cuốn, và còn phải đợi thêm hai thập kỷ trước khi được chuyển ngữ qua tiếng Anh. Tạp chí The Economist cũng chỉ bắt đầu quan tâm kể từ năm 1907.

Để so sánh, “Capital in the Twenty-First Century” của Thomas Piketty chỉ trong đầu hôm sớm mai đã nổi tiếng. Nguyên bản bằng tiếng Pháp, tác phẩm về phân phối lợi tức và tài phú đã trở thành một bestseller ngay từ ngày bản dịch Anh ngữ ra mắt độc giả vào tháng 3-2014. Ở Hoa Kỳ, “Capital” là tác phẩm bán chạy nhất trên Amazon.com, kể cả tiểu thuyết giả tưởng.

LỢI NHUẬN, TĂNG TRƯỞNG, TÁI PHÂN LỢI TỨC

Theo một số độc giả cánh hữu, yếu tố quyết định sự thành công của cuốn “Capital” là “đúng đề tài vào đúng thời điểm.” Bất bình đẳng trong phân phối lợi tức đột nhiên đã trở thành đề tài cực nóng, nhất là ở Hoa Kỳ. Vì lẽ, trong nhiều năm, luôn phủ nhận hố cách biệt giàu nghèo chỉ là mối ám ảnh của riêng Âu châu, người Mỹ, gần đây thương tổn vì lòng tham thái quá của Wall Street, đột nhiên đã quan tâm đến giới giàu và tái phân lợi tức.

Đó chính là sức thuyết phục của một tác phẩm dựa trên luận cứ tình trạng tập trung tài phú ngày một gia tăng là nét cố hữu của chủ nghĩa tư bản, và khuyến cáo một sắc thuế toàn cầu đánh vào tài phú như giải pháp cấp tiến.

“Capital”, vì vậy, đã hết sức quyến rũ đối với cánh tả, bị cánh hữu chê trách, và tăng cường hương vị cho kinh tế chính trị như “khoa học bi thiết”[1]trong tâm thức quần chúng.

Theo cánh hữu, nếu Piketty đã thành công tái định hướng diễn đàn tranh luận về bất bình đẳng trong phân phối lợi tức, thế giới cũng vì vậy mà nghèo nàn hơn. Bởi lẽ, theo họ, cũng giống như tác phẩm cùng tên của Karl Marx trong thế kỷ 19, “Capital” có một nội hàm uyên thâm, nhưng như một chương trình hành động, lại chứa đựng nhiều sai lầm nghiêm trọng.

“Capital,” dày 577 trang, đã đem lại ba đóng góp quan trọng.

Trước hết, Piketty, kinh tế gia đi tiên phong trong phương cách sử dụng thống kê thuế vụ để đo lường bất bình đẳng, đã kiên trì sưu tầm các tư liệu cần thiết cho công trình nghiên cứu các diễn biến về lợi tức và tài phú trong suốt 300 năm vừa qua, nhất là ở Âu châu và Hoa Kỳ.

Trong quá trình làm việc, Piketty đã minh chứng thời kỳ từ 1914 đến thập kỷ 1970 là giai đoạn lịch sử, trong đó phân phối lợi tức bất bình đẳng lẫn tài sản luỹ tích (tương đối với lợi tức quốc gia hàng năm) đều đã sụt giảm bi thảm. Kể từ thập kỷ 1970, hố cách biệt về tài sản cũng như lợi tức đã liên tục gia tăng trở lại các mức chuẩn trước thế kỷ XX.

Đã hẳn, cũng có vài lẫn lộn trong quá trình thu thập tư liệu, nhưng công trình đã làm thay đổi trình độ am hiểu lịch sử các tài phú với nhiều hệ quả đáng ngạc nhiên. Chẳng hạn, có ai biết được giá trị thừa kế hàng năm ở Pháp đã gia tăng gấp ba từ dưới 5% GDP trong thập kỷ 1950 lên khoảng 15%, không mấy xa so với đỉnh cao 25% trong thế kỷ 19? Như một công trình sưu tầm thực nghiệm, tác phẩm rõ ràng là một thành công xuất sắc.

Đóng góp thứ hai của Piketty là đã đưa ra một lý thuyết về chủ nghĩa tư bản giải thích các sự kiện trên đây và đưa ra tiên đoán guồng máy phân phối tài phú đang hướng về đâu.

Xác quyết chính của tác giả là khuynh hướng tự nhiên cố hữu của hệ thống thị trường tự do luôn đưa đến tình trạng tập trung tài sản ngày một gia tăng, bởi lẽ tỉ suất lợi nhuận tư bản và đầu tư luôn cao hơn tỉ suất tăng trưởng kinh tế. Hai cuộc thế chiến, đại khủng hoảng 1929-33, và thuế suất cao, đã hạ thấp tỉ suất lợi nhuận của tài sản trong thế kỷ 20, trong khi năng suất và dân số tăng nhanh đã nâng cao tăng trưởng. Nhưng nếu không có các yếu tố với tác động trái ngươc vừa kể, Piketty lập luận, tỉ suất lợi nhuận của tư bản cũng sẽ hướng đến tập trung tài sản — nhất là khi, như hiện nay, một dân số già cỗi cũng có nghĩa tăng trưởng sẽ phải chậm lại.

Lòng tin vào khuynh hướng tập trung tài sản luôn gia tăng của Piketty không có gì kỳ lạ hay khó hiểu. Tuy nhiên, theo cánh hữu, đó chỉ là tiên đoán cơ sở trên dự phóng hay suy diễn từ quá khứ, không phải một mô hình cố hữu của chủ nghĩa tư bản. Piketty cũng tìm thấy tỉ suất lợi nhuận của tư bản đã không sụt giảm đáng kể ngay cả khi tài sản tích luỹ gia tăng.

Ngay đối với giới phê bình, điều đó cũng rất có thể đúng, nhưng theo họ, tiên đoán của Piketty chỉ là một giả thiết, không phải một định luật bất di bất dịch.

Đó là khởi điểm của vấn đề, bởi lẽ đóng góp thứ ba của Piketty là những đề xuất chính sách cơ sở trên khuynh hướng tập trung tài sản ngày một gia tăng — một khuynh hướng chẳng những không thể tránh, mà ngay cả quan trọng nhất.

Đơn thuốc hay giải pháp của Piketty: một sắc thuế toàn cầu đánh trên tư bản (thuế suất mỗi năm bắt đầu từ 0.1% và tối đa có thể lên tới 10% trên các tài sản kếch sù). Ông cũng gợi ý một thuế suất mang tính trừng phạt 80% đối với số lợi tức trên 500.000 USD hay hơn thế.

Theo cánh hữu, đến đây, “Capital” đã trôi dạt về phía tả và mất hết khả tín. Và theo họ, Piketty đã quả quyết, thay vì giải thích, tại sao kiềm chế khuynh hướng tập trung tài sản phải được xem như phương thuốc ưu tiên (thay vì tìm cách nâng cao tỉ suất tăng trưởng). Và Piketty cũng không mấy quan tâm đến bất cứ cái giá phải trả hay trade-offs nào, hay tổn phí của nghị trình tái phân lợi tức của chính tác giả.

Họ quả quyết, hầu hết các kinh tế gia, tục thức, và khá đông doanh thương Pháp tin tưởng: thuế suất cao đánh vào lợi tức, tư bản, tài phú… sẽ làm nãn lòng giới doanh nhân và các động lực chấp nhận bất trắc.

Ngược lại, Piketty đã thản nhiên bác bỏ các suy diễn vừa nói. Và bảng liệt kê những việc cần làm của Piketty đã thu hẹp mục tiêu của ông vào giải pháp tăng thuế đánh vào giới đại tư bản. Piketty làm ngơ trước mọi phương cách mở rộng quyền sở hữu tư bản, các trái phiếu nhi đồng hay baby bonds, các tài khoản tiết kiệm tư nhân, và vài sắc thuế đánh trên tư bản, đặc biệt là thuế đánh trên di sản. Nhưng đó cũng không phải là các phương sách duy nhất, hay ngay cả chính yếu, để bảo đảm thịnh vượng chung cho quảng đại quần chúng.

CÁNH HỮU VÀ THOMAS PIKETTY

Tóm lại, theo The Economist, mục tiêu của Piketty “tước đoạt tài sản của giới giàu sặc mùi ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, nhưng không uyên bác”[2]. Điều nầy có thể giải thích lý do tại sao “Capital” là một bestseller. Nhưng một nghị trình hành động tồi!

Họ còn quả quyết “Capital” là loại “tác phẩm văn hoá-bình dân kinh tế nặng ký …”[3]

Nói chung, tác phẩm đã thu hút nhiều luồng phê bình. Các chỉ trích thường gặp có thể xếp làm bốn loại.

Loại thứ nhất liên hệ giọng điệu của Piketty, bắt đầu với nhan đề của tác phẩm. Cố tình ám chỉ đến đại tác phẩm chính yếu, magnum opus, của Karl Marx phơi bày một thái độ thiếu khiêm tốn và thiếu thiện cảm đối với hệ thống kinh tế thị trường tự do.

Vài nhà phê bình phản đối ngôn từ Piketty sử dụng, như từ “chiếm hữu” để mô tả phần lợi tức ngày một gia tăng của giới giàu — một lời chỉ trích mang hội chứng bóc lột.

Viết trong Wall Street Journal, Daniel Shuman, quản lý một quỹ đầu tư, đã căm tức “thái độ thù nghịch trung cổ đối với ý niệm tiền lãi [dành cho] tư bản tài chánh”[4].

Đây không phải chỉ là vấn đề trình bày. Piketty không hề ngụy trang thiện cảm đối với tái phân lợi tức hơn nhiều nhà phê bình tác phẩm Capital.

Clive Crook, một bình luận gia thuộc Bloomberg (và nguyên phó biên tập tạp chí The Economist), đặt câu hỏi: các cấp độ bất bình đẳng trong tương lai do Piketty dự phóng có thật sự đáng sợ như Piketty nghĩ?

Một số khác chỉ trích phần phân tích kinh tế trong tác phẩm. Lời phát biểu “r>g” (có nghĩa, tỉ suất lợi nhuận của tư bản luôn cao hơn tỉ suất tăng trưởng kinh tế) là luận cứ cơ bản của tác phẩm: tài phú có khuynh hướng tích luỹ qua thời gian. Nhưng vài nhà phê bình phàn nàn “ r ” được định nghĩa quá mập mờ, nhất là so với các trang nghiên cứu đầy số liệu kinh toán. Viết trong Foreign Affairs, Tyler Cowen thuộc George Mason University cho rằng Piketty nhìn tư bản như một “đốm màu đang tăng trưởng và đồng bộ”[5], và vì vậy, đã không lưu tâm đến những thay đổi, qua thời gian và đầu tư, trong số lợi nhuận của tư bản.

Cũng may, “Capital” đã không được viết theo, hay ít liên quan đến, kinh toán học. Piketty sử dung văn chương thế kỷ 19 để diễn đạt ý nghĩ của mình. Tác giả dễ dàng thừa nhận đầu tư mạo hiểm đem lại nhiều lợi nhuận hơn đầu tư an toàn, chẳng hạn vào trái phiếu nhà nước. Nhưng Piketty ít quan tâm đến các lựa chọn đầu tư cá nhân hơn đến tăng trưởng chung trong giá trị tài phú của nền kinh tế nói chung, kể cả mọi thứ từ máy móc trang bị kỹ nghệ đến nhà nghỉ hè và sưu tập các sản phẫm mỹ nghệ. Tư liệu của ông cho thấy, với những ngoại lệ ghi nhận, tài phú loại nầy có khuynh hướng tăng trưởng nhanh hơn nền kinh tế nói chung. Kể từ năm 1700, Piketty tính toán, tài phú toàn cầu đã ghi nhận một tỉ suất lợi nhuận trước thuế từ 4% đến 5% mỗi năm — nhanh hơn tỉ suất tăng trưởng kinh tế trung bình rất nhiều.

Một số các nhà phê bình khác cho rằng Piketty không hiểu ngay cả các nguyên tắc kinh tế cơ bản, như hiệu suất tư bản có khuynh hướng sụt giảm khi lượng tư bản tích luỹ gia tăng. Người máy thứ 100 không mang lại một sản lượng phụ trội như người máy đầu. Kevin Hassett, thuộc American Enterprise Institute, một “think tank thị trường tự do”, lại cho hiệu suất sẽ sụt giảm nhanh chóng khi tư bản gia tăng, do đó, phần lợi nhuận dành cho sở hữu chủ tư bản không gia tăng.

Bất đồng ý kiến nầy một phần bắt nguồn từ vấn đề định nghĩa. Tư bản theo Piketty bao gồm các hình thức tài phú, như đất đai, thường không hiện diện trong các mô hình sản xuất của các kinh tế gia; tỉ suất lợi nhuận hiểu theo Piketty là tốc độ gia tăng của các tài phú hơn là lợi lộc các xí nghiệp đầu tư thu nhập.

Các tư liệu Piketty sử dụng rõ ràng đã biện minh cho cách tiếp cận nầy. Ít ra, trong quá khứ, giới giàu có nhiều khả năng chuyển dịch các tài nguyên vào các hình thức tài phú có hiệu suất cao hơn, và đầu tư quá đáng thường đem lại hiệu suất tiệm giảm. Piketty cũng lập luận hiệu suất tư bản có thể được nâng cao bởi kỹ thuật đưa đến những phương cách mới thay thế nhân công bằng máy móc.

Loại phê bình thứ ba chú tâm đến sự khả dĩ Piketty đã cả tin ở khả năng tương đồng giữa tương lai và quá khứ.

Cowen tự hỏi phải chăng “r”, dù được định nghĩa ra sao chăng nữa, vẫn luôn có khuynh hướng tiếp tục cao hơn tỉ suất tăng trưởng “g”.

Viết trong National Review, Jim Petholkoukis tiên đoán: cùng một cách nhìn quá bi quan về khả năng tăng trưởng của các nền kinh tế đã nhận chìm các tiên đoán của Marx cũng có thể làm suy giảm tính chính xác trong các dự phóng tương lai của Piketty.

Trong cùng chiều hướng, vài nhà phê bình nghi ngờ sự song hành hay tương đương giữa tài phú hiện nay (phần lớn là kết quả của lợi tức lao động tăng cao) và tài phú của giới giàu nhàn rỗi của thế kỷ 19, sống nhờ vào quyền thừa kế. Quan hệ trong trường kỳ giữa “r” và “g” không mấy dính dấp với tài sản tích luỹ của Bill Gates và Jeff Bezos.

Piketty ghi nhận điều nầy, nhưng vẫn không quên nhấn mạnh khuynh hướng lợi nhuận trong trường kỳ của tư bản hay tài phú. Theo các nhà phê bình, đây là một quyết định phi lý. Tài sản của một số tỉ phú, như Warren Buffet, hình như xác nhận lập trường của Piketty: r>g (“lợi nhuận” lớn hơn “tăng trưởng”). Piketty đã có đủ lý do để xác quyết tài sản tự mình tích lũy có thể trở thành tài sản của gia đình mai sau, căn cứ trên “khuynh hướng tự tồn lâu dài của tài sản.”[6]

Phần cuối của tác phẩm, về chính sách cần có để đối phó với tình trạng bất bình đẳng gia tăng qua thời gian, đã gây nhiều tranh cãi, hay nói rõ hơn, bất đồng quan điểm: một sắc thuế toàn cầu đánh trên các tài sản kếch sù. Theo giới phê bình, phần lớn là phát ngôn nhân của giới tài phiệt, đề xuất của Piketty bị bác bỏ hoàn toàn vì bất khả thi trên bình diện chính trị, nhất là chính trị Anglo-Saxon.

Các nhà phê bình như Cowen và Greg Mankiw, một kinh tế gia tại Harvard University, lập luận: “các khuyến cáo của Piketty mang tính ý thức hệ hơn là kinh tế”[7].

“Capital” đã lên án các ưu tư của phe bảo thủ một cách vội vã. Theo họ, Piketty không mấy quan tâm đến vấn đề: liệu các nỗ lực tái phân lợi tức sẽ làm suy yếu tỉ suất tăng trưởng.

Piketty cũng luôn giả thiết một cách thoải mái bất bình đẳng ngày một gia tăng đưa đến bất ổn định. Theo họ, giả thiết nầy không nhất thiết phải luôn luôn đúng: nhiều quốc gia dân chủ đã thành công xử lý các thử thách như vậy và đã tránh được xáo trộn. Với số lượng tư liệu Piketty thu thập, Piketty lẽ ra đã có thể phân tích trong hoàn cảnh nào bất bình đẳng dẫn đến xung đột một cách hữu lợi.

Một lần nữa, sự thành công của tác phẩm và những bình luận ngày một nhiều chắc sẽ gây cảm hứng và kích thích nhiều phản hồi khác trong tương lai.

THAY LỜI KẾT LUẬN

“Capital in the Twenty-First Century”, một công trình nghiên cứu khổng lồ về tình trạng phân phối lợi tức bất bình đẳng trong quá khứ cũng như trong tương lai của Thomas Piketty , một kinh tế gia Pháp, đã là một bestseller trên Amazon.com.

“Capital” có rất nhiều ưu điểm. Tác phẩm là một công trình phân tích rõ ràng và rốt ráo một trong nhiều ưu tư kinh tế quan trọng hiện nay, đem lại cho độc giả một lối giải thích đơn giản về tình trang phân phối lợi tức bất bình đẳng ngày một gia tăng. Tài sản hay tư bản nói chung gia tăng nhanh hơn tăng trưởng kinh tế. Quan trọng hơn nữa, có rất ít lực kinh tế kiềm chế khuynh hướng tự nhiên ngày một tập trung, vì lẽ tài sản càng lớn sẽ tạo thêm nhiều cơ hội để tiết kiệm và đầu tư. Khi thiếu vắng tăng trưởng cực kỳ nhanh chóng hay trong một thời kỳ biến động và bất ổn địa-chính-trị như giữa 1914 và 1945, bất bình đẳng đã gia tăng.

Câu hỏi cần được đặt ra: Động lực nào chi phối tích luỹ và phân phối tư bản? Các vấn đề liên quan đến diễn biến thực tại trong trường kỳ của hiện tượng bất bình đẳng, tập trung tài sản, và viễn tượng tăng trưởng kinh tế luôn là trọng tâm của kinh tế chính trị. Tuy nhiên, các đáp án thoả đáng rất khó kiếm vì thiếu vắng tư liệu thích ứng và các lý thuyết hướng dẫn đủ sức thuyết phục.

Trong tác phẩm “Capital in the Twenty-First Century”, Thomas Piketty phân tích một tập hợp tư liệu độc nhất vô nhị từ 20 quốc gia, kể từ thế kỷ 18, nhằm mục đích khám phá các mô hình hay mẫu mực kinh tế và xã hội. Những khám phá của tác giả làm thay đổi mọi thảo luận và giúp chắt lọc một nghị trình cho thế hệ các nhà tư tưởng về tài phú và bất bình đẳng.

Piketty đã minh chứng đà tăng trưởng kinh tế hiện đại và nhịp phổ biến tri thức đã cho phép chúng ta tránh các bất bình đẳng trên bình diện toàn cầu như Karl Marx đã tiên đoán. Tuy nhiên, nhân loại vẫn chưa thay đổi sâu xa các cơ cấu tư bản và bất bình đẳng trong các thập kỷ lạc quan sau Đệ Nhị Thế Chiến. Lực then chốt đưa đến bất bình đẳng — khuynh hướng lợi nhuận của tư bản vượt quá tỉ suất tăng trưởng kinh tế — ngày nay đang đe doạ đưa đến những bất bình đẳng cực đoan, các phản ứng bất bình sâu rộng, cũng như đang phá hoại các giá trị dân chủ.

Nhưng khuynh hướng kinh tế không phải là hành vi của Thượng Đế. Theo Piketty, hành động chính trị đã giảm thiểu các bất bình đẳng nguy hại trong quá khứ và cũng có thể tái diễn trong tương lai.

Một công trình với tham vọng phi thường, xuất sắc, và độc đáo, “Capital in The Twenty-First Century” hứa hẹn tái định hướng sự hiểu biết của chúng ta về lịch sử kinh tế và đem lại cho chúng ta những bài học lịch sử mang tính trấn tĩnh.

Những phê bình và chỉ trích của cánh hữu không hề minh chứng những nhược điểm hay sai sót của Piketty trong quá trình sưu tầm và thu thập tư liệu, các phương pháp nghiên cứu và phân tích các thống kê phản ảnh thực tại kinh tế và xã hội trong nhiều quốc gia và nhiều thế kỷ, trước khi rút tỉa một số bài học kinh nghiệm và đúc kết một số khuyến cáo thích ứng về chính sách và nghị trình thể hiện.

Công bằng mà nói, luận cứ: các khuyến cáo của Piketty “mang tính ý thức hệ hơn là kinh tế”, thực ra, là luận cứ khá chính xác để đánh giá các nhận thức tổng quát, đầy cảm tính, mang tính suy diễn và chủ quan của các nhà phê bình trên đây.

Để kết luận, người viết xin mượn lời của Paul Krugman, New York Times: “Hình như khá an toàn để nói ‘Capital in the Twenty-First Century’, tác phẩm chính yếu của kinh tế gia Pháp Piketty, có thể sẽ là tác phẩm kinh tế quan trọng nhất của năm — và rất có thể của thập kỷ. Piketty, có thể là một chuyên viên hàng đầu của thế giới về bất bình đẳng lợi tức và tài phú, đã đóng góp nhiều hơn chỉ minh chứng với đầy đủ tư liệu quá trình tập trung lợi tức ngày một gia tăng trong tay một thiểu số thượng lưu kinh tế. Piketty cũng đã minh chứng khá hùng hồn chúng ta đang trên đường trở lại với ‘chủ nghĩa tư bản thừa kế’, trong đó các đỉnh cao lãnh đạo kinh tế đang bị áp đảo không những bởi tài phú, mà còn bởi tài phú thừa kế, trong đó dòng dõi còn quan trọng hơn nhiều so với nỗ lực và tài năng”[8]

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA
02-7-2014

——————————————————————————–

[1] …dismal science …

[2] Picketty’s focus on soaking the rich smacks of socialist ideology, not scholarship.

[3] It is the closest thing to a pop-culture sensation heavyweight economics.

[4] …medieval hostility to the notion that financial capital earns a return.

[5] …as a growing, homogeneous blob…

[6] …propensity of wealth to perpetuate itself.

[7] …Piketty’s recommendations are motivated by ideology more than economics.

[8] It seems safe to say that “Capital in the Twenty-First Century”, the magnum opus of the French economist Thomas Piketty, will be the most important economics book of the year–and maybe of the decade. Piketty, arguably the world’s leading expert on income and wealth inequality, does more than document the growing concentration of income in the hands of a small economic elite. He also makes a powerful case that we’re on the way back to ‘patrimonial capitalism,’ in which the commanding heights of the economy are dominated not just by wealth, but also by inherited wealth, in which birth matters more than effort and talent.”

Paul Krugman, New York Times

Advertisements