NOAM CHOMSKY VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI

Phương cách định hình chính sách đối ngoại là vấn đề cơ bản trong quốc tế vụ. Trong những bình luận sau đây, Noam Chomsky đã đưa ra một số gợi ý giúp nghiên cứu đề tài một cách thiết thực và hữu ích, luôn tập trung vào trường hợp Hoa Kỳ, vì nhiều lý do.

Trước hết, Hoa Kỳ giữ địa vị độc tôn trong sinh hoạt và tác động toàn cầu. Thứ hai, Hoa Kỳ là xã hội mở một cách khác thường, có thể nói là duy nhất, có nghĩa chúng ta biết nhiều hơn về xứ nầy. Cuối cùng, đây rõ ràng là trường hợp quan trọng nhất đối với người Mỹ, những người có khả năng ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách ở Hoa Kỳ — và cố nhiên đối với những kẻ khác, trong chừng mức hành động của họ có thể ảnh hưởng đến các lựa chọn như thế. Tuy nhiên, các nguyên tắc tổng quát cũng có thể ứng dụng trong các cường quốc quan trọng khác, và xa hơn nữa.

Có một “dạng chuẩn được tiếp nhận”, chung cho giới hàn lâm, các tuyên bố của chính quyền, và công luận. Theo dạng chuẩn nầy, trách nhiệm cơ bản của chính quyền là bảo đảm an ninh, và âu lo hàng đầu của Hoa Kỳ và đồng minh từ năm 1945 là đe doạ từ Nga.

Có một số phương cách để đánh giá chủ thuyết nầy. Một câu hỏi rõ ràng cần được đặt ra: Điều gì đã xẩy ra khi đe doạ từ Nga đã tan biến trong năm 1989? Câu trả lời: mọi việc vẫn tiếp tục không mấy khác.

Hoa Kỳ ngay tức khắc đã xâm lăng Panama, giết hại hàng nghìn thường dân và dựng lên một chế độ khách hàng bù nhìn. Đây là việc bình thường. Lần đầu tiên, một hành động quan trọng trong chính sách đối ngoại đã không thể biện minh bằng một đe doạ từ Nga.

Thay vào đó, một chuổi các duyên cớ biện minh cho cuộc xâm lăng đã được nguỵ tạo, sụp đổ ngay sau khi phân tích xem xét . Các cơ quan truyền thông sốt sắng phụ hoạ, ca tụng sự thành công rực rỡ sau khi đã đánh bại Panama, không chút quan tâm các lý do đưa ra rõ ràng lố bịch: hành động xâm lăng là một vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế và đã bị lên án khắp nơi, nhất là ở châu Mỹ La Tinh. Hành động phủ quyết một quyết nghị của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc lên án các tội phạm của quân đội Hoa Kỳ trong suốt cuộc xâm lăng, với phiếu trắng duy nhất của Anh quốc.

Tất cả đều là lệ thường. Và tất cả đã bị bỏ quên — cũng là thường lệ…

TỪ EL SALVADOR ĐẾN BIÊN GIỚI NGA

Chính quyền George H. W. Bush đã ban hành một chính sách an ninh quốc gia và một ngân sách quốc phòng mới, như một phản ứng trước sự sụp đổ của kẻ thù toàn cầu. Đó cũng không mấy khác trước, mặc dù với những duyên cớ mới. Nhưng rồi, Hoa Kỳ cũng cần phải duy trì một guồng máy quân sự hầu như cùng kích cỡ với lực lượng quân sự gộp của phần thế giới còn lại, với kỹ thuật tinh xảo và tiền tiến hơn nhiều — nhưng không phải để tự vệ chống lại một Liên Bang Xô Viết không còn tồn tại. Đúng ra, lý do chính là “trình độ tinh xảo của kỹ thuật ngày một cao ” của các cường quốc trong Thế Giới Thứ Ba. Giới trí thức đều hiểu rõ sụp đổ trong giễu cợt là không chính đáng, và vì vậy, đã duy trì một thái độ im lặng thích ứng.

Các chương trình mới đều nhấn mạnh, Hoa Kỳ cần phải duy trì “cơ sở kỹ nghệ quốc phòng của mình”. Đó là một mỹ từ, ám chỉ kỹ nghệ kỹ thuật cao nói chung, cơ sở trên sự can thiệp rộng lớn của nhà nước trong địa hạt nghiên cứu và phát triển, thường dưới sự giám sát của Ngũ Giác Đài, trong một khuôn khổ các kinh tế gia tiếp tục gọi là “kinh tế thị trường tự do” của Hoa Kỳ.

Một trong số những dự liệu đáng lưu ý nhất của các kế hoạch mới dính dáng đến Trung Đông. Đúng như vậy, Hoa Thịnh Đốn đã tuyên bố phải duy trì các lực lượng can thiệp trong một khu vực trọng yếu, nơi các vần đề lớn “đã không thể để yên ngay trước cửa Điện Cẩm Linh”. Trái với 50 năm bịp bợm, người ta đã yên lặng thú nhận ưu tư chính không phải là Nga, mà chính là cái được gọi là chủ nghĩa quốc gia cực đoan — có nghĩa chủ nghĩa quốc gia độc lập không thuộc quyền kiểm soát của Hoa Kỳ.

Tất cả đều đã tác động rõ ràng đến dạng chuẩn, nhưng đã không được lưu ý — hay có lẽ, chính vì vậy mà đã không được lưu ý.

Tất cả các biến cố quan trọng khác đã xẩy ra ngay sau khi “Bức Tường Bá Linh Sụp Đổ”, chấm dứt Chiến Tranh Lạnh. Một biến cố đã xẩy ra ở El Salvador, xứ dẫn đầu nhận viện trợ quân sự của Hoa Kỳ, ngoài Do Thái-Ai Cập — một trường hợp riêng biệt, và với một hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhất. Đó là tương quan hỗ thuộc rất chặt chẽ và quen thuộc.

Tổng tư lệnh Salvador đã ra lệnh cho Lữ Đoàn Atlacatl xâm nhập Đại Học Jesuit và ám sát sáu nhà trí thức hàng đầu Mỹ La Tinh, tất cả đều là giáo sĩ dòng Jesuit, kể cả giáo sĩ Viện Trưởng, Fr. Ignacio Ellacuria, và bất cứ nhân chứng nào, có nghĩa: người quản gia và con gái của bà. Lữ Đoàn, vừa mới hồi hương sau khoá huấn luyện chống bạo động cao cấp tại Trung Tâm và Trường Chiến Tranh Đặc Biệt John F. Kennedy, Bộ Binh Hoa Kỳ, ở Fort Bragg, North Carolina, là đơn vị đã để lại phía sau nhiều dấu vết đẫm máu hàng nghìn nạn nhân dân sự trong suốt chiến dịch nhà-nước-khủng-bố do Hoa Kỳ chủ xướng ở El Salvador, một phân bộ của chiến dịch khủng bố và tra tấn rộng lớn hơn trong khắp khu vực. Tất cả đều là thường lệ. Và bị phớt lờ và hầu như quên lãng ở Hoa Kỳ và bởi các đồng minh của Mỹ, một thường lệ khác. Nhưng biến cố đó cũng cho chúng ta biết rất nhiều về các yếu tố chi phối chính sách, nếu chúng ta quan tâm nhìn vào thế giới thật.

Một biến cố quan trọng khác đã xẩy ra ở Âu châu. Chủ Tịch Xô Viết Mikhail Gorbachev đã đồng ý cho phép Đức quốc thống nhất và trở thành một thành viên của NATO, một đồng minh quân sự đối nghịch. Trong ánh sáng lịch sử mới mẻ, đây là nhượng bộ đáng ngạc nhiên nhất. Đã có một trao đổi — một quid pro quo. Tổng Thống Bush và Bộ Trưởng Ngoại Giao James Baker đã đồng ý: NATO sẽ không bành trướng “một ‘inch’ về hướng Đông,” có nghĩa vào Đông Đức. Nhưng ngay sau đó, họ đã mở rộng NATO vào Đông Đức.

Dĩ nhiên, Gorbachev đã rất giận dữ, nhưng khi than phiền, Gorbachev đã được Hoa Thịnh Đốn cho biết đây chỉ là một lời hứa miệng, một thoả hiệp thượng lưu quý phái — a gentleman’s agreement, vì vậy, không có hiệu lực. Nếu Gorbachev ngây ngô chấp nhận lời nói miệng của các lãnh đạo Hoa Kỳ, thì đó là vấn đề riêng của Gorbachev.

Tất cả những sự kiện nầy, cũng vậy, chỉ là thường lệ, cũng như sự chấp nhận và yên lặng chuẩn y sự bành trướng của NATO vào Hoa Kỳ và Tây phương nói chung. T T Bill Clinton lúc đó đã bành trướng NATO sâu rộng hơn, đến tận biên giới của Nga. Ngày nay, thế giới đang đối diện với một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, phần lớn cũng do hệ quả của các chính sách vừa nói.

CƯỠNG ĐOẠT NGƯỜI NGHÈO — MỘT LỰC HẤP DẪN

Một nguồn bằng chứng khác là các tài liệu lịch sử giải mật. Loại tài liệu gồm những tường thuật tiết lộ các động lực thực sự bên sau các chính sách của nhà nước. Câu chuyện rất phong phú và phức tạp, nhưng một vài đề tài luôn tiếp tục giữ một vai trò lấn át. Một đề tài rõ ràng rất mạch lạc tại một hội nghị ở Tây Bán Cầu do Hoa Kỳ triệu tập ở Mexico trong tháng 2-1945 khi Hoa Thịnh Đốn áp đặt “Một Hiến Chương Kinh Tế của Mỹ châu,” được thiết kế nhằm loại bỏ chủ nghĩa quốc gia về kinh tế “dưới mọi hình thức”[1]. Có một điều kiện đã không được nói ra. Chủ nghĩa quốc gia về kinh tế rất thích ứng với Hoa Kỳ với nền kinh tế dựa rất nhiều vào can thiệp hàng loạt của nhà nước.

Sự loại bỏ chủ nghĩa quốc gia về kinh tế đối với các nước khác rõ ràng đã xung đột với lập trường của Mỹ La Tinh vào thời điểm đó, một lập trường các quan chức Bộ Ngoại Giao Mỹ đã mô tả như “triết lý của Chủ Nghĩa Quốc Gia Mới, một chủ nghĩa chọn lựa các chính sách được thiết kế nhằm mang lại một sự tái phân tài phú rộng lớn và nâng cao mực sống của quần chúng.” Như các nhà phân tích chính sách Hoa Kỳ đã phụ hoạ, “người Mỹ La Tinh vững tin những người thụ hưởng đầu tiên việc phát triển các tài nguyên của một xứ phải là nhân dân của xứ đó.”[2]

Đã hẳn, điều đó sẽ không được chấp nhận. Hoa Thịnh Đốn hiểu: người thụ hưởng đầu tiên phải là những nhà đầu tư Mỹ, trong khi Mỹ La Tinh phải làm tròn chức năng dịch vụ của chính mình. Như cả hai chính quyền Truman và Eishenhower đã làm rõ, Mỹ La Tinh không nên “phát triển kỹ nghệ quá đáng” có thể phương hại đến quyền lợi của Hoa Kỳ. Vì vậy, Brazil có thể sản xuất thép với chất lượng thấp các công ty Hoa Kỳ không quan tâm, nhưng có thể “quá lạm” nếu cạnh tranh với các xí nghiệp Mỹ.

Những ưu tư tương tự cũng đã được ghi nhận trong suốt thời kỳ hậu-Đệ Nhị Thế Chiến. Hệ thống toàn cầu luôn do Hoa Kỳ khống chế đã bị đe doạ bởi điều các tài liệu nội bộ gọi là “các chế độ cực đoan và theo chủ nghĩa quốc gia,” đáp ứng các đòi hỏi của quần chúng: cần theo đuổi đường lối phát triển độc lập. Đó chính là ưu tư đã thúc đẩy Hoa Kỳ quyết định lật đổ các chính quyền đại nghị của Iran và Guatemala trong các năm 1953 và 1954, cũng như nhiều cuộc đảo chính khác.

Trong trường hợp Iran, một ưu tư quan trọng là tác động tiềm năng của một Iran độc lập đối với Ai Cập, lúc đó đang rối loạn do chính sách thực dân của Anh Quốc. Ở Guatemala, ngoài tội phạm của một quốc-gia-dân-chủ-mới đã trao quyền cho tầng lớp thôn dân chiếm đa số và xâm phạm tài sản của công ty United Fruit Company — đã đủ nghiêm trọng, ưu tư của Hoa Thịnh Đốn là tình trạng bất an trong tầng lớp lao động và trong quần chúng các xứ lân bang độc tài do Hoa Kỳ hậu thuẩn.

Trong cả hai trường hợp, hậu quả đã dẫn đến tình trạng hiện hữu. Từ năm 1953, không một ngày nào Hoa kỳ không hành hạ tàn nhẫn dân Iran. Guatemala luôn là một trong số các quốc gia bị đối xử hà khắc kinh tởm nhất trên thế giới. Cho đến ngày nay, dân Mayans đã phải luôn lẫn tránh hậu quả của các chiến dịch quân sự trên các vùng cao nguyên của chính quyền diệt chủng với sự hậu thuẩn của T T Ronald Reagan và các quan chức cao cấp dưới quyền. Như vị giám đốc Oxfam, một bác sĩ Guatemala, gần đây đã tường trình:

“Môi trường chính trị, xã hội, và kinh tế, suy đồi tồi tệ. Các cuộc tấn công các nhân vật bảo vệ Nhân Quyền đã gia tăng 300% trong năm vừa qua. Có bằng chứng rõ ràng một chiến lược được tổ chức hết sức hữu hiệu bởi khu vực tư và Quân Đội. Cả hai đã kiểm soát chính quyền với mục đích duy trì hiện trạng và áp đặt mô hình kinh tế khai thác tài nguyên, đẩy dân địa phương ra khỏi đất đai vườn tược của họ, nhường chỗ cho kỹ nghệ khai thác mỏ, các đồn điền dừa và mía đường. Bên cạnh phong trào xã hội bảo vệ đất đai và quyền lợi bị kết tội, các lãnh đạo cũng bị cầm tù, và nhiều người khác bị sát hại.”[3]

Không chi tiết nào của tình trạng nầy được tiết lộ ở Hoa Kỳ và nguyên nhân rất rõ ràng của tệ nạn vẫn luôn được giữ kín hay lấp liếm.

Trong thập kỷ 1950, T T Eisenhower và Bộ Trưởng Ngoại Giao John Foster Dulles đã giải thích khá rõ ràng tình trạng lưỡng nan Hoa Kỳ đã phải đối diện.

Họ phàn nàn: thế giới Cộng Sản đã thụ hưởng một lợi điểm bất công. Người Cộng Sản đã có thể “trực tiếp mời gọi quần chúng” và “nắm quyền kiểm soát các phong trào nhân dân, một điều họ không đủ khả năng sao chép. Giới nghèo là đối tượng người Cộng Sản mời gọi và đã luôn muốn cưỡng đoạt giới giàu.”[4]

Thực trạng nầy đã tạo ra nhiều vấn đề. Một cách nào đó, Hoa Kỳ khó lòng mời gọi giới nghèo với chủ thuyết của mình là chỉ giới giàu mới có quyền cưỡng đoạt người nghèo.

TIỀN ĐẠO CUBA

Một minh hoạ rõ ràng của mẫu chuẩn tổng quát là Cuba, khi Cuba phục hồi độc lập năm 1959. Trong vòng ít tháng, các cuộc tấn công quân sự đã bắt đầu. Chẳng bao lâu sau, chính quyền Eisenhower đã bí mật quyết định lật đổ chính quyền Cuba. Kế đến, John F. Kennedy đã trở thành tổng thống. Tổng Thống mới có ý định chú ý nhiều hơn đến châu Mỹ La Tinh, và vì vậy, khi nhậm chức, đã thành lập một nhóm nghiên cứu nhằm thể hiện các chính sách, do sử gia Arthur Schlesinger cầm đầu, với trách nhiệm tóm tắt các kết luận cho tổng thống mới

Như Schlesinger đã giải thích, đe doạ trong một Cuba độc lập là “ý tưởng của Castro nắm mọi vấn đề trong đôi tay của chính mình”. Đó chính là ý tưởng được quần chúng Mỹ La Tinh ưa thích, “nơi sự phân phối đất đai và các hình thức tài phú quốc gia khác thuận lợi cho các giai cấp hữu sản, và giới nghèo và tầng lớp thiếu may mắn, kích thích bởi tấm gương cách mạng Cuba, nay đang đòi hỏi cơ hội thụ hưởng một mực sống tử tế tươm tất .”[5] Lại thêm một thế lưỡng nan mới cho Hoa Thịnh Đốn.

Như CIA đã giải thích, “Ảnh hưởng sâu rộng của chủ nghĩa Castro không là một hàm số của quyền lực Cuba… Hình ảnh của Castro đang lớn lao bởi lẽ điều kiện kinh tế và xã hội khắp châu Mỹ La Tinh đang mời gọi đối lập với nhà cầm quyền đang ngự trị và khuyến khích đòi hỏi những đổi thay cực đoan, theo mô hình Cuba. Kennedy đã âu lo, viện trợ của Nga có thể biến Cuba thành một mô hình kiểu mẫu, một “showcase” cho phát triển, đem lại cho khối Xô Viết thế tay trên trong khắp Mỹ La Tinh.

Hội Đồng Hoạch Định Chính Sách Bộ Ngoại Giao đã cảnh cáo “nguy cơ căn bản chúng ta đang phải đối diện ở Castro là tác động của chính sự hiện diện của chế độ Castro trên phong trào tả phái trong nhiều xứ Mỹ La Tinh… Sự kiện đơn thuần là Castro tượng trưng cho một thách thức thành công đối với Hoa Kỳ, một phủ nhận chính sách bán cầu trong một thế kỷ rưởi của chúng ta — có nghĩa, từ Chủ Thuyết Monroe năm 1823, khi Hoa Kỳ đã tuyên bố ý định khống chế bán cầu.”[6] .

Mục tiêu tức thì vào lúc đó là chinh phục Cuba, nhưng điều đó đã khó thể thành đạt vì quyền lực của một Anh Quốc thù nghịch. Tuy vậy, đại chiến lược gia John Quincy Adams, vị cha tinh thần của chủ thuyết Monroe và Manifest Destiny, đã thông báo cho các bạn đồng nghiệp: qua thời gian, Cuba rồi ra cũng sẽ lọt vào tay của chúng ta bởi “các định luật sức hút chính trị,”(the laws of political gravitation) như một quả táo rơi từ cây cao. Tóm lại, quyền lực Hoa Kỳ ngày một gia tăng và quyền lực của Anh Quốc ngày một suy giảm.

Năm 1898, chẩn đoán của John Quincy Adams đã được thể hiện. Hoa Kỳ đã xâm chiếm Cuba dưới chiêu bài giải phóng. Để nhắc lại lời các sử gia Ernest May và Philip Zelikow, trong thực tế, Hoa Kỳ đã ngăn chận sự giải phóng của đảo quốc khỏi Tây Ban Nha và đã cải biến Cuba thành một thuộc địa trong thực tế. Và Cuba vẫn luôn là một thuộc địa cho mãi đến tháng 1-1959, khi Cuba giành lại được độc lập. Từ thời điểm đó, Cuba đã luôn phải trải nghiệm các cuộc chiến khủng bố bởi Hoa Kỳ, nhất là trong các năm dưới chính quyền Kennedy, và đã bị bóp ngạt kinh tế — không phải bởi người Nga.

Luôn lấy cớ chúng ta đang tự bảo vệ trước đe doạ của Nga — một lối giải thích lố bịch nhưng nói chung không bị thách thức. Một trắc nghiệm đơn giản của chiêu bài nầy là những gì đã thực sự xẩy ra khi bất cứ đe doạ nào của Nga có thể quan niệm được đều đã tan biến. Chính sách của Hoa Kỳ đối với Cuba đã trở nên ngày một khắc nghiệt, dẫn đầu bởi phe Dân Chủ tự do, kể cả Bill Clinton, người đã qua mặt Bush từ phía hữu trong cuộc bầu cử 1992. Trên bề mặt, các biến cố nầy lẽ ra đã phải có tác động lớn lao đối với giá trị của khuôn khổ học thuyết trong địa hạt tranh luận về chính sách đối ngoại và các yếu tố hậu thuẩn. Tuy nhiên, một lần nữa, tác động nầy vẫn quá nhẹ nhàng.

CHỦ NGHĨA QUỐC GIA: MỘT VI KHUẨN

Để mượn ngôn từ của Henry Kissinger, chủ nghĩa quốc gia độc lập (independent nationalism) là một vi khuẩn có thể lây lan (a virus that might spread contagion). Kissinger đang nói đến Chí Lợi của Salvador Allende. Vi khuẩn là ý tưởng có thể có một con đường đại nghị hướng đến một hình thức dân chủ xã hội nào đó. Phương cách đối phó với một đe doạ như thế là triệt tiêu vi khuẩn và chủng ngừa những ai có thể bị lây nhiễm, đặc biệt là bằng cách áp đặt “các nhà-nước-an-ninh-quốc-gia-ám-hại” (murderous national security states). Đó là những gì đã từng xẩy ra ở Chí Lợi, nhưng điều quan trọng là xác nhận tư duy phải bám trụ trên toàn thế giới.

Chẳng hạn, đó là các tư duy bên sau quyết định chống đối chủ nghĩa quốc gia của người Việt vào đầu thập kỷ 1950 và hỗ trợ nổ lực tái chiếm cựu thuộc địa của Pháp. Người ta âu lo chủ nghĩa quốc gia của người Việt là một vi khuẩn có thể lây lan đến các xứ lân bang, kể cả Indonesia giàu tài nguyên. Điều đó ngay cả đã có thể đưa Nhật Bản — học giả Á châu John Dower đã gọi là một superdomino — trở thành một trung tâm kỹ nghệ thương mãi của một trật tự độc lập mới — loại trật tự một Nhật Bản đế quốc trước đó đã chiến đấu để thiết lập. Điều đó cũng đã có thể có nghĩa Hoa kỳ đã phải thất bại trong cuộc chiến Thái Bình Dương, — không phải một lựa chọn được xét đến trong năm 1950. Phương thuốc đã rõ ràng và phần lớn đã được thể hiện: Việt Nam trong thực tế đã bị tàn phá và bao vây bởi các chế độ độc tài quân phiệt nhằm chận đứng tai hoạ vi khuẩn lây lan.

Về sau, khi hồi tưởng lại, cố vấn an ninh quốc gia thời Kennedy-Johnson, McGeorge Bundy đã phản ảnh: Hoa Thịnh Đốn lẽ ra đã phải chấm dứt cuộc chiến Việt Nam ngay từ năm 1965, khi chế độ độc tài Suharto đã được thiết lập ở Indonesia, với các cuộc tàn sát khủng khiếp CIA đã so sánh với các tội ác của Hitler, Stalin, và Mao. Tuy nhiên, các biến cố đau thương nầy đã được hồ hởi chào đón ở Hoa Kỳ và các xứ Tây phương nói chung, vì lẽ “cuộc tắm máu choáng ngợp nầy (staggering bloodbath),” như báo chí đã mô tả một cách khoái chí, đã chấm dứt bất cứ đe doạ lây lan nào và mở rộng cửa Indonesia giàu tài nguyên cho các xứ Tây Phương khai thác.

Sau đó, cuộc chiến tàn phá Việt Nam lẽ ra đã không còn cần thiết, như chính McGeorge Bundy cũng đã phải công nhận khi hồi tưởng.

Sự thật cũng tương tự ở Mỹ La Tinh trong cùng những năm tháng: vi khuẩn nầy rồi đến vi khuẩn khác đã bị tấn công một cách tàn bạo, để rồi hoặc phải bị huỷ hoại hay suy nhược đến độ chỉ còn có thể sống lất lây. Từ đầu thập kỷ 1960, một dịch bệnh đàn áp vô tiền khoáng hậu đã được áp đặt lên lục địa trong lịch sử hung bạo của bán cầu, trải rộng đến Trung Mỹ, trong thập kỷ 1980 dưới thời Ronald Reagan, một thảm trạng không cần được tái thẩm định.

Tình trạng cũng không mấy khác ở Trung Đông. Quan hệ độc nhất vô nhị giữa Hoa Kỳ và Do Thái đã được thiết kế trong hình thức hiện nay trong năm 1967, khi Do Thái đã tấn công vũ bảo vào Ai Cập, trung tâm của chủ nghĩa quốc gia thế tục Á Rập. Với hành động đó, Do Thái đã bảo vệ Saudi Arabia, đồng minh của Mỹ, lúc đó đang can dự vào cuộc xung đột quân sự với Ai Cập ở Yemen. Đã hẳn, Saudi Arabia là một nhà nước Hồi Giáo chính thống cực đoan, và cũng là một nhà nước rao giảng hay truyền giáo, đã chi tiêu những số tiền khổng lồ nhằm thiết kế học thuyết Wahhabi-Salafi ra các xứ ngoài. Cũng cần phải nhớ: Hoa Kỳ, cũng như Anh Quốc trước đó, đã có khuynh hướng hỗ trợ Hồi Giáo chính thống chống lại chủ nghĩa quốc gia thế tục, thường được cảm nhận như là nguồn cội của một “đe doạ độc lập và lây lan (a threat of independence and contagion)”.

BÍ MẬT Là THIẾT YẾU

Cũng có nhiều điều để nói, nhưng tài liệu lịch sử cũng đã minh chứng rất rõ ràng chủ thuyết chuẩn không mấy giá trị. An ninh, theo nghĩa bình thường, không phải là yếu tố chính yếu trong việc hình thành chính sách.

Cần lặp lại, “theo nghĩa bình thường”. Nhưng khi lượng định giá trị chủ thuyết chuẩn, chúng ta cần phải hỏi “an ninh” trong thực tế có nghĩa gì: an ninh cho ai?

Một đáp án: an ninh cho uy quyền nhà nước. Có nhiều minh chứng. Hãy chọn minh chứng hiện nay. Trong tháng 5-2014, Hoa Kỳ đã đồng ý hậu thuẩn quyết nghị của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc kêu gọi Toà Hình Sự Quốc Tế điều tra các tội ác chiến tranh ở Syria, nhưng với một điều kiện: sẽ không có điều tra các tội ác chiến tranh có thể có của Do Thái. Hay theo Hoa Thịnh Đốn, mặc dù thực sự cũng không cần thiết phải thêm vào điều kiện cuối cùng nầy. Lý do: Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất đã tự chước miễn chấp hành hệ thống luật pháp quốc tế. Trong thực tế, cũng đã có sẵn pháp chế Quốc Hội cho phép tổng thống quyền sử dụng quân lực để “ứng cứu” bất cứ công dân Mỹ nào bị đưa đến The Haye để xét xử — “Đạo Luật Xâm Chiếm Hoà Lan” (The Netherlands Invasion Act), như đôi khi còn được gọi ở Âu châu. Điều đó, một lần nữa, minh chứng tầm quan trọng phải bảo vệ an ninh của uy quyền nhà nước.

Nhưng bảo vệ an ninh nhà nước trước nguy cơ nào? Trong thực tế, cũng có trường hợp khá chắc chắn âu lo chủ yếu của chính quyền là an ninh của uy quyền nhà nước trước quần chúng. Như bất cứ ai đã dành thời gian mãi miết tìm kiếm tư liệu ở văn khố đều biết rõ, bí mật của chính quyền rất hiếm khi bắt nguồn từ động lực an ninh thuần tuý, nhưng cần thiết để che dấu trước quần chúng nhân dân. Và vì nhiều lý do “chính đáng,” cố vấn chính quyền và học giả tự do nổi tiếng, Samuel Huntington, giáo sư khoa học chính quyền thuộc Đại Học Harvard, đã giải thích rõ ràng. Theo lời của chính Samuel Huntington : “Các kiến trúc sư về quyền lực ở Hoa Kỳ đã phải tạo dựng một lực có thể cảm nhận được nhưng không thể thấy. Uy quyền luôn mạnh mẽ khi được duy trì trong bóng tối; phơi bày ra ánh sáng mặt trời, uy quyền bắt đầu tan biến.”[7]

Huntington đã viết ra nhận định đó trong năm 1981, khi Chiến Tranh Lạnh được hâm nóng trở lại, và ông cũng đã giải thích thêm, “bạn có thể phải rao giảng [can thiệp hay hành động quân sự khác] theo một phương cách khả dĩ tạo ra một ấn tượng sai như bạn đang chiến đấu chống lại chính Liên Bang Xô Viết. Đó là điều Hoa Kỳ đã luôn làm kể từ Học Thuyết Truman.”[8]

Những sự thật đơn thuần nầy rất hiếm khi được xác nhận, nhưng đã giúp soi sáng uy quyền và chính sách quốc gia, còn vang vọng mãi cho đến ngày nay.

Uy quyền nhà nước phải được bảo vệ khỏi các kẻ thù quốc nội. Ngược lại, an ninh của người dân đã không được bảo đảm trước uy quyền nhà nước. Một minh chứng ấn tượng hiện nay là sự kiện tấn công vũ bão vào Hiến Pháp bởi chương trình giám sát rộng lớn của chính quyền Obama. Đã hẳn, hành động nầy đang được biện minh bởi chiêu bài “an ninh quốc gia.” Đó là lệ thường đối với mọi hành động của mọi nhà nước, và vì vậy, có rất ít thông tin.

Khi chương trình giám sát của Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (NSA) bị phơi bày do các tiết lộ của Edward Snowden, các quan chức cao cấp đã lên tiếng cho biết chương trình đã giúp ngăn chặn 54 hành động khủng bố. Sau khi điều tra, con số đã sụt từ 54 xuống còn 12. Một nhóm quan chức cao cấp còn khám phá trong thực tế chỉ có một trường hợp duy nhất: một người nào đó đã gửi 8.500 USD đến Somalia. Đó là tổng thành quả của một cuộc tấn công ồ ạt vào Hiến Pháp, và dĩ nhiên, vào nhiều người khác trên khắp thế giới.

Thái độ của Anh Quốc cũng rất đáng quan tâm. Theo tường trình của báo The Guardian, trong năm 2007, chính quyền Anh đã kêu gọi cơ quan dò thám khổng lồ của Hoa Thịnh Đốn “phân tích và giữ lại mọi số điện thoại di động và số fax, điện thư, và địa chỉ các nhà cung cấp mạng lưới internet của số công dân Anh, đã được rà soát và thu thập. Đó là một chỉ dấu hữu ích về ý nghĩa tương đối, trong mắt chính quyền, các quyền riêng tư của công dân của chính họ và các yêu cầu hay đòi hỏi của Hoa Thịnh Đốn.”[9]

Một ưu tư khác là an ninh của quyền hạn riêng tư. Một minh chứng hiện nay là các thoả ước mậu dịch khổng lồ hiện đang trong vòng thương thảo, các thoả ước Xuyên Thái Bình Dương và Xuyên Đại Tây Dương. Các thoả ước nầy đang được thương thảo trong vòng bí mật — nhưng cũng không hoàn toàn bí mật.

Đó là những thoả ước không hoàn toàn bí mật đối với hàng trăm luật sư các đại công ty, những người đã soạn thảo các điều khoản chi tiết. Thực ra cũng không mấy khó khăn để đoán biết kết quả sẽ là những gì, và một vài tiết lộ về các kết quả nầy đã gợi ý các phỏng đoán hay chờ đợi cũng khá chính xác. Cũng như NAFTA và nhiều thoả ước khác, đây không phải là những “thoả ước tự do mậu dịch”. Trong thực tế, đây cũng không phải ngay cả các “thoả ước mậu dịch”, mà chính yếu là các thoả ước về “quyền lợi của giới đầu tư”.

Một lần nữa, bí mật là cực kỳ quan trọng “để bảo vệ các cử tri quốc nội trọng yếu” của các chính quyền liên hệ — “các đại công ty đa quốc gia” hay còn được gọi “the corporate sector”.

THẾ KỶ CUỐI CÙNG CỦA VĂN MINH NHÂN LOẠI

Còn có rất nhiều thí dụ khác, quá nhiều để ghi nhận, các sự kiện đã được xác nhận và có thể đã được đem ra dạy trong các trường cấp I trong các xã hội tự do.

Nói một cách khác, đang có đầy đủ bằng chứng: bảo vệ “quyền lực nhà nước”(state power) trước quần chúng quốc nội và bảo vệ “uy quyền tư nhân tập trung” (concentrated private power) là những động lực định hướng và định hình quá trình hình thành chính sách. Đã hẳn, đây không phải là điều khá đơn giản. Có nhiều trường hợp đáng ghi nhận, một số khá hiện đại, trong đó các cam kết vẫn bất nhất hoặc mâu thuẫn, nhưng dù sao cũng chỉ nên xem như một tiếp cận đầu tiên khá tốt và đối nghịch một cách cực đoan với “chủ thuyết chuẩn đã được tiếp nhận” (received standard doctrine).

Đến đây, thử bàn đến loại vấn đề an ninh của quần chúng. Trong địa hạt nầy, tưởng cũng tương đối dễ dàng để chứng minh: đây là một ưu tư bên lề hay biên tế đối với các nhà hoạch định chính sách. Hãy lấy hai thí dụ đáng chú ý nhất hiện nay: hâm nóng toàn cầu và vũ khí hạt nhân.

Như mọi người bình thường đều biết, đây là những đe doạ thảm khốc đối với an ninh của nhân loại. Từ phía chính sách nhà nước, chúng ta nhận thấy chính quyền hiện đã cam kết tăng tốc cả hai loại đe doạ. Trong phạm vi nầy, các ưu tư hàng đầu — bảo vệ “uy quyền nhà nước” và bảo vệ “uy quyền tư nhân tập trung”– đang định hình phần lớn các chính sách của nhà nước.

Trước hết, hiện tượng hâm nóng toàn cầu. Hiện nay, Hoa kỳ đang hết sức hồ hởi về “100 năm tự túc về năng lượng” trong khi đang trở thành “ Saudi Arabia của thế kỷ tới” — có lẽ là thế kỷ cuối cùng của văn minh nhân loại nếu các chính sách hiện nay cứ dai dẳng kéo dài.

Điều nầy minh chứng rõ ràng bản chất của ưu tư về an ninh hoàn toàn bất lợi cho quần chúng. Nó cũng minh chứng lối tính toán đạo đức của chủ nghĩa tư bản nhà nước Anh-Mỹ đương đại: số phận các thế hệ con cháu của chúng ta chẳng là gì quan trọng khi so sánh với nhu cầu doanh lợi cao hơn của các đại công ty trong tương lai.

Những kết luận trên đây đang được tăng cường bởi cái nhìn nghiêm chỉnh các hệ thống tuyên truyền. Hiện đang có chiến dịch quan hệ quần chúng khổng lồ và công khai của tập đoàn Đại Năng Lượng và thế giới doanh thương (Big Energy and the business world) ở Hoa Kỳ, với nỗ lực thuyết phục công chúng: hiện tượng hâm nóng toàn cầu hoặc hoang tưởng, phi thực, hoặc không phải hệ qủa của sinh hoạt con người. Và cũng đã có một vài thành quả.

Hoa Kỳ đang được xếp hạng thấp hơn các xứ khác trong trình độ ưu tư về hiện tượng hâm nóng toàn cầu, và kết quả thay đổi tuỳ theo tầng lớp xã hội: trong nội bộ các đảng viên Cộng Hoà, đảng hầu như hoàn toàn hậu thuẩn uy quyền của tài phú và tập đoàn các đại công ty, thứ hạng thấp hơn rất nhiều so với chuẩn mực toàn cầu.

Tạp chí truyền thông hàng đầu, the Columbia Journalism Review, trong số mới nhất, có một bài viết đáng quan tâm về đề tài nầy, đã quy kết thứ hạng trên đây cho học thuyết truyền thông “phải chăng và quân bình.” Nói một cách khác, nếu một tờ báo cho đăng một ý kiến phản ảnh các kết luận của 97% các khoa học gia, tờ báo cũng phải cho đăng một phản hồi phản ảnh quan điểm của các công ty năng lượng.

Đó quả thật là những gì đang xẩy ra, nhưng chắc chắn không hề có một chủ thuyết “phải chăng và quân bình.” Vì vậy, nếu một tờ báo đăng một bài tố cáo hành động tội phạm chiếm đóng Crimea của Tổng Thống Nga Vladimir Putin, tờ báo chắc chắn không phải đăng một bài nêu rõ, ngay cả đó là một hành vi tội phạm, Nga vẫn có một lập trường hùng mạnh và thuyết phục hơn lập trường của Hoa Kỳ cách đây hơn một thế kỷ khi chiếm đóng vùng Đông Nam Cuba, kể cả một hải cảng quan trọng, và đã bác bỏ yêu cầu trao trả lại từ ngày Cuba đã phục hồi độc lập. Sự thật trần truồng nầy cũng xác thực trong nhiều trường hợp tương tự. Chủ thuyết truyền thông trong thực tế chỉ “phải chăng và công bình” khi đối diện với ưu tư về uy quyền tập trung tư nhân và của khu vực các đại công ty đa quốc gia, nhưng chắc chắn là không đối với những đối tượng khác.

Riêng về đề tài vũ khí hạt nhân, hồ sơ về các thành tích lịch sử cũng tương tự và rất kinh hoàng. Trong những thời kỳ xa xưa, hồ sơ thành tích đã tiết lộ rõ ràng an ninh của quần chúng không bao giờ là một “ưu tư” chính sách, và luôn như thế. Nơi đây, chúng ta không có thì giờ để tái duyệt những thành tích gây sốc, nhưng vẫn không có gì để nghi ngờ lịch sử đã minh chứng những than thở của Tướng Lee Butler, tư lệnh cuối cùng của Bộ Tư Lệnh Không Quân Chiến Lược, được trang bị với vũ khí nguyên tử. Theo chính lời của Tướng Butler, cho đến nay chúng ta đã thượng tồn hay sống sót trong kỷ nguyên hạt nhân “nhờ một hỗn hợp kỷ năng, may mắn, ơn trời, và tôi nghĩ ơn trời mang tính quyết định.”[10] Và chúng ta khó có thể tiếp tục trông cậy vào ơn trời trong khi các nhà làm chính sách luôn chơi trò roulette với số phận của nhân loại và luôn theo đuổi các yếu tố vận hành quá trình hình thành chính sách.

Như đại đa số chúng ta đều đã ý thức, chúng ta hiện đang đối diện với các quyết định hiểm nghèo nhất trong lịch sử nhân loại. Có nhiều vấn đề phải giải quyết, nhưng có hai quyết định mang ý nghĩa áp đảo: huỷ diệt môi trường và chiến tranh hạt nhân. Lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta đang đối mặt với sự khả dĩ huỷ diệt mọi viễn tượng của một đời sống an bình — và cũng không phải trong một tương lai xa vời. Đây là lý do khẩn thiết để phải quét sạch các đám mây mù ý thức hệ và đối mặt một cách chân thành và thực tế với vấn đề hình thành các quyết định chính sách, và những gì chúng ta có thể làm để thay đổi các quyết định sinh tử nầy trước khi quá muộn.

Để trả lời câu hỏi: An ninh của ai? Một đáp án dựa trên các minh chứng lịch sử vừa xem xét: đó chính là phương cách Hoa Thịnh Đốn đang tự bảo vệ và bảo vệ khu vực các đại công ty.

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

15-7-2014

Chú thích: Noam Chomsky là Giáo Sư hưu trí, Phân Khoa Ngữ Học và Triết Lý thuộc Viện Massachusetts Institute of Technology; và Tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng như Failed States, Hegemony or Survival, Hopes and Prospects, Intervention, Masters of Mankind, Occupy, Power systems, Rogue States…

——————————————————————————–

[1] …”An Economic Charter of the Americas” designed to eliminate economic nationalism “in all its forms.

[2]…”the philosophy of the New Nationalism [that] embraces policies designed to bring about a broader distribution of wealth and to raise the standard of living of the masses.” As U.S. policy analysts added, “Latin Americans are convinced that the first beneficiaries of the development of a country’s resources should be the people of that country.”

[3] There is a dramatic deterioration of the political, social, and economic context. Attacks against Human Rights defenders have increased 300% during the last year. There is a clear evidence of a very well organized strategy by the private sector and Army. Both have captured the government in order to keep the status quo and to impose the extraction economic model, pushing away dramatically indigenous peoples from their own land, due to the mining industry, African Palm and sugar cane plantations. In addition the social movement defending their land and rights has been criminalized, many leaders are in jail, and many others have been killed.

[4] In the 1950s, President Eisenhower and Secretary of Stata John Foster Dulles explained quite clearly the dilemma that the U.S. faced. Theycomplained that the Communists had an unfair advantage. They were able to “appeal directly to the masses” and “get control of mass movements , something we have no capacity to duplicate. The poor people are the ones they appeal to and they have always wanted to plunder the rich.

[5] …threatening in an independent Cuba was “the Castro idea of taking matters into one’s own hands.

[6] As the CIA explained, “The extensive influence of ‘Castroism’ is not a function of Cuban power… Castro’s shadow looms large because social and economic conditions throughout Latin America invite opposition to ruling authority and encourage agitation for radical change,” for which his Cuba provides a model. Kennedy feared that Russian aid might make Cuba a “showcase” for development, giving the Soviets the upper hand throughout Latin America.

The State Department Policy Planning Council warned that “the primary danger we face in Castro is… in the impact the very existence of his regime has upon the leftist movement in many Latin American countries… The simple fact is that Castro represents a successful defiance of the U.S., a negation of our whole hemispheric policy of almost a century and a half” — that is, since the Monroe Doctrine of 1823, when the U.S. declared its intention of dominating the hemisphere.

[7] Samuel Huntington: “The architects of power in the United States must create a force that can be felt but not seen. Power remains strong when it remains in the dark; exposed to the sunlight it begins to evaporate.”

[8] …you may have to sell [intervention or other military action] in such a way as to create the misimpression that it is the Soviet Union that you are fighting. That is what the United States has been doing ever since the Truman Doctrine.

[9] In 2007, the British government called on Washington’s colossal spy agency “to analyse and retain any British citizens’ mobile phone and fax addresses swept up by its dragnet. That is a useful indication of the relative significance, in goverment eyes, of the privacy of its own citizens and of Washington’s demand.

[10] …General Lee Butler, … We have so far survived the nuclear age “by some combination of skill, luck, and divine intervention, and I suspect the latter in greatest proportion.”

Advertisements