MẠNG LƯỚI CÁC CĂN CỨ QUÂN SỰ HOA KỲ VÀ TÁC ĐỘNG TRÊN THẾ GIỚI

Với quyết định phát động cuộc chiến mới chống Nhà Nước Hồi Giáo (IS) ở Iraq và Syria, do người Mỹ lãnh đạo, Hoa Kỳ đã có hành động quân sự xâm lăng ít ra 13 xứ trong vùng Trung Đông Nới Rộng kể từ 1980. Trong khoảng thời gian đó, mỗi một tổng thống Hoa Kỳ đã xâm lăng, chiếm đóng, bỏ bom, hay gây chiến với ít ra là một xứ trong vùng. Tổng số các cuộc xâm lăng, chiếm đóng, các cuộc không tạc hay bỏ bom, các chiến dịch ám sát bằng drone, và tấn công bằng hỏa tiển tầm xa đã lên hàng tá.

Giống như các cuộc hành quân trước đây trong vùng Trung Đông Nới Rộng, các lực lượng chiến đấu Hoa Kỳ lần nầy cũng đã được hỗ trợ qua khả năng tiếp cận và sử dụng một số rất nhiều căn cứ quân sự. Các lực lượng nầy đã chiếm đóng một vùng rộng lớn trên thế giới với trữ lượng dầu và hơi đốt thiên nhiên khổng lồ và từ lâu đã được xem như một vùng có tầm quan trọng địa-chính trị lớn nhất hành tinh.

Thực vậy, kể từ năm 1980, lực lượng quân sự Mỹ đã dần dà xây dựng nhiều căn cứ trong khắp vùng Trung Đông Nới Rộng, không mấy khác số căn cứ ở Tây Âu trong thời Chiến Tranh Lạnh, hay theo mật độ, các căn cứ được xây dựng để hỗ trợ các cuộc chiến ở Triều Tiên và Việt Nam.

Chỉ riêng trong vùng Vịnh Ba Tư, Hoa Kỳ đã có các căn cứ quan trọng trong mọi xứ ngoại trừ Iran. Một căn cứ lớn và lúc một quan trọng hơn ở Djibouti, chỉ vài dặm bên kia Hồng Hải từ Bán Đảo Á Rập. Ngoài ra, còn có các căn cứ, một bên tại Pakistan và phía bên kia trong vùng Balkan, cũng như trên các hải đảo, trong vùng Ấn Độ Dương có tầm quan trọng chiến lược, Diego Garcia và Seychelles. Đôi lúc cũng còn phải kể đến 800 căn cứ ở  Afghanistan và 505 căn cứ ở Iraq.

Gần đây, chính quyền Obama đã ký thỏa ước với Tổng Thống mới của Afghanistan, Ashraf Ghani, theo đó Hoa Kỳ “được phép duy trì 10.000 quân và ít ra 9 căn cứ quan trọng” sau ngày chính thức chấm dứt các cuộc hành quân chiến đấu vào cuối năm 2014.

Các lực lượng quân sự Mỹ, chưa bao giờ hoàn toàn rút khỏi Iraq sau năm 2011, giờ đây cũng đang trở lại một số căn cứ ngày một nhiều và với số quân ngày một lớn.

Tóm lại, hầu như chẳng có gì quá đáng khi nhấn mạnh lực lượng quân sự Hoa Kỳ hiện đã bao phủ toàn vùng với các căn cứ và quân nhân. Các cơ sở hạ tầng cần thiết cho chiến tranh từ lâu đã được thiết kế đâu vào đó, và luôn được xem như chuyện bình thường đến độ hiếm khi được lưu ý và các phóng viên hầu như chẳng bao giờ cảm thấy nhu cầu phải được tường trình. Các thành viên Quốc Hội hàng năm đã phải chấp thuận các ngân khoản lên hàng tỉ mỹ kim dành cho công tác xây cất và bảo quản các căn cứ trong vùng, mà chẳng thấy nhu cầu đặt thành vấn đề tại sao phải cần đến quá nhiều căn cứ như thế, và vai trò của các căn cứ nầy là gì.

Theo một ước tính, trong bốn thập kỷ vừa qua, Hoa Kỳ đã phải chi tiêu trên 10.000 tỉ USD chỉ để bảo vệ số cung dầu khí từ Vịnh Ba Tư.

Tính đến gần ngày kỷ niệm năm thứ 35, chiến lược duy trì một cấu trúc các đồn trại, quân đội, phi cơ, và tàu chiến ở Trung Đông, đã là một trong những tai họa lớn lao trong lịch sử chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.

Sự thiếu vắng và tẻ nhạt của các cuộc tranh luận về cuộc chiến mới và rất có thể phi pháp nhất của Hoa Kỳ tưởng cũng đủ để nhắc nhở người Mỹ: thật là việc dễ dàng mạng lưới các căn cứ khổng lồ nầy đã giúp bất cứ ai trong Tòa Bạch Ốc phát động một cuộc chiến hầu như chắc chắn, không khác các cuộc chiến trước đây, sẽ khởi động các chu kỳ “blowback” hay phản tác dụng mới, để rồi lúc lại càng có nhiều chiến tranh hơn.

Tự chúng, sự hiện diện của hệ thống nầy đã là nguyên nhân ra đời của các phong trào cực đoan và căm hận Mỹ. Cũng như trường hợp Osama bin Laden và quân đội Mỹ ở Saudi Arabia trước đây, các căn cứ nầy sẽ tác-động-xúc-tác  các phong trào chống đối cũng như những cuộc tấn công vào Hoa Kỳ và công dân Hoa Kỳ.

Hệ thống cũng đã phung phí hàng tỉ USD của dân chịu thuế, mặc dù trong thực tế, cũng chẳng mấy cần thiết để đảm bảo các nguồn cung năng lượng toàn cầu. Số thuế thu nhập lẽ ra phải được sử dụng để khai triển các nguồn năng lượng thay thế và tài trợ các chương trình cần thiết cho các nhu cầu thiết yếu quốc nội. Thay vào đó, số thu nhập từ thuế đã được sử dụng để hậu thuẩn các nhà độc tài và các chế độ đàn áp, phản dân chủ — chận đứng quá trình dân chủ hóa trong một vùng từ lâu đã do các nhà cầm quyền thực dân và độc tài ngự trị.

Sau 35 năm xây dựng các căn cứ trong vùng, nhu cầu thẩm định hậu quả của chiến lược giàn trải lực lượng Hoa Kỳ trong vùng Trung Đông Nới Rộng, trong quốc nội, và trên toàn thế giới, tưởng cũng đã khá muộn màng.

TRỮ LƯỢNG DẦU KHÍ LỚN LAO

Trong khi quá trình xây dựng các căn cứ ở Trung Đông đã diễn ra một cách khẩn trương trong thập kỷ 1980, Hoa Thịnh Đốn từ lâu đã nhiều lần sử dụng lực lượng quân sự để kiểm soát vùng Âu-Á giàu năng lượng, và từ đó, kinh tế toàn cầu.

Như Chamers Johnson, một chuyên gia về chiến lược dựa trên các căn cứ hải ngoại của Mỹ, ngay từ lúc sinh thời, năm 2004, cũng đã giải thích: Từ Đệ Nhị Thế Chiến, “Hoa Kỳ đã liên tục quyết tâm thủ đắc các căn cứ quân sự hải ngoại dài lâu với mục đích duy nhất rõ ràng là để khống chế một trong số các khu vực chiến lược quan trọng nhất trên thế giới.”[1]

Năm 1945, sau khi Đức Quốc Xã bại trận, các vị Bộ Trưởng Chiến Tranh, Ngoại Giao, và Hải Quân đã minh thị thúc đẩy hoàn tất một căn cứ được xây dựng dở dang ở Dharan, Saudi Arabia, mặc dù đã được phe quân sự thẩm định là không cần thiết cho cuộc chiến chống Nhật.

Các vị bộ trưởng đã lập luận: “Việc xây cất lập tức “căn cứ không quân” nầy sẽ là bằng chứng mạnh mẽ nhất tỏ rõ sự quan tâm của Hoa Kỳ đối với Saudi Arabia và nhờ đó có khuynh hướng tăng cường quan hệ chính trị với xứ nầy, một xứ với trữ lượng dầu khổng lồ hiện đang nằm trong tay người Mỹ.”[2]

Đến năm 1949, Ngũ Giác Đài đã thiết lập một lực lượng hải quân Trung Đông thường trực (MIDEASTFOR) ở Bahrain. Vào đầu thập kỷ 1960, chính quyền  John F. Kennedy đã bắt đầu xây dựng các lực lượng Hải Quân đầu tiên trong Ấn Độ Dương ngay bên ngoài Vịnh Ba Tư. Trong vòng một thập kỷ, Hải Quân đã tạo dựng nền móng của cái sau nầy đã trở thành căn cứ Hoa Kỳ quan trọng đầu tiên trong vùng – trên hải đảo Diego Garcia do Anh Quốc kiểm soát.

Dù sao, trong những năm đầu Chiến Tranh Lạnh, Hoa Thịnh Đốn nói chung đã tìm cách gia tăng ảnh hưởng trong vùng Trung Đông qua phương cách hậu huẩn và trang bị các cường quốc cấp vùng như Vương Quốc Saudi Arabia, Iran dưới thời Shah, và Do Thái. Tuy nhiên, trong vòng vài tháng sau khi Liên Bang Xô Viết xâm chiếm Afghanistan năm 1979 và cuộc cách mạng 1979 ở Iran lật đổ chính quyền Shah, cách tiếp cận tương đối nhẹ nhàng nầy cũng đã chấm dứt.

XÂY DỰNG CĂN CỨ

Thực vậy, trong tháng 1-1980, T T Jimmy Carter đã loan báo một thay đổi cực kỳ quan trọng trong chính sách ngoại giao, về sau đã được biết dưới tên gọi “Chủ Thuyết Carter.”

Trong bài diễn văn về Tình Trạng Liên Bang, Carter đã cảnh cáo một mất mát tiềm năng một vùng “sở hữu hơn 2/3 lượng dầu khả dĩ xuất khẩu của thế giới” và “nay đang bị quân đội Xô Viết ở Afghanistan đe dọa”, “một đe dọa nghiêm trọng đối với  sự tự do dịch chuyển dầu khí từ Trung Đông.”

Carter đã cảnh cáo, bất cứ một toan tính giành quyền kiểm soát vùng Vịnh Ba Tư bởi một lực lượng bên ngoài nào cũng sẽ được xem như một tấn công vào quyền lợi thiết yếu của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.” Và Tổng Thống còn nói thêm, “một tấn công như thế sẽ bị đẩy lùi bằng bất cứ phương tiện cần thiết nào, kể cả lực lượng quân sự”.[3]

Với những lời lẽ đó, Carter đã phát động một trong những nỗ lực xây dựng căn cứ lớn nhất trong lịch sử. Carter và người kế nhiệm Ronald Regan đã chủ trì làn sóng bành trướng các căn cứ ở Ai Cập, Oman, Saudi Arabia, và nhiều xứ khác trong vùng, kể cả trụ sở của “Lực Lượng Giàn Trải Nhanh Chóng” – a “Rapid Deployment Force”, RDF –  lực lượng thường trực canh chừng nguồn cung cấp dầu lửa từ Trung Đông.

Đặc biệt hơn hết, căn cứ hải-không quân trên đảo Diego Garcia đã được bành trướng nhanh chóng hơn bất cứ căn cứ nào khác kể từ cuộc chiến tranh Việt Nam. Tính đến năm 1986, hơn 500 triệu USD đã được đầu tư. Chẳng bao lâu sau, con số đã tăng lên hàng tỉ USD.

Liền sau đó, RDF đã lớn mạnh và trở thành Bộ Tư Lệnh Trung Ương Hoa Kỳ, U.S. Central Command, giám sát ba cuộc chiến Iraq (1991-2003, 2003-2011, 2014-), cuộc chiến Afghanistan và Pakistan (2001-); can thiệp vào Lebanon (1982-1984); một loạt các cuộc tấn công cỡ nhỏ vào Libya (1981,1986,1989,2011); Afghanistan (1998) và Sudan (1998); và “cuộc chiến bể chứa dầu” hay “tanker war” với Iran (1987-1988), dẫn đến tai nạn bắn hạ một phi cơ hàng không dân dụng Iran, gây tử vong cho 290 hành khách.

Ở Afghanistan, trong thập kỷ 1980, CIA đã giúp tài trợ một cuộc chiến che đậy quan trọng chống đối Liên Bang Xô Viết với hậu thuẩn của Osama bin Laden và lãnh tụ thánh chiến cực đoan khác.

Bộ Tư Lệnh cũng đã giữ một vai trò trong cuộc chiến drone ở Yemen (2002-) và các cuộc chiến công khai và che đậy ở Somalia (1992-1994, 2001-).

Suốt trong và sau Cuộc Chiến Vùng Vịnh Thứ Nhất, Ngũ Giác Đài đã bành trướng nhanh chóng sự hiện diện của mình trong vùng. Hàng trăm ngàn quân nhân đã được giàn trải đến Saudi Arabia, chuẩn bị cho cuộc chiến chống nhà độc tài và cựu đồng minh Saddam Hussein. Sau cuộc chiến, hàng ngàn binh sĩ và cơ sở hạ tầng của căn cứ đã được bành trướng đáng kể và để lại phía sau ở Saudi Arabia và Kuwait.

Ở những nơi khác trong Vùng Vịnh, giới quân sự đã bành trướng sự hiện diện của hải quân tại một căn cứ của Anh ở Bahrain, đặt doanh trại của Đệ Ngũ Hạm Đội ở đó. Các cơ sở không lực lớn đã được xây dựng ở Qatar, và các cuộc hành quân của Hoa Kỳ đã được bành trướng ở Kuwait, United Arab Emirates, và Oman.

Cuộc xâm lăng Afghanistan năm 2001 và Iraq năm 2003, và các cuộc chiếm đóng cả hai xứ kế đó, đã dẫn đến một sự bành trướng lớn lao hơn các căn cứ trong vùng.

Vào cao điểm của các cuộc chiến, đã có trên 1.000 trạm kiểm soát Hoa Kỳ, các đồn bót, và các căn cứ quan trọng trong hai xứ. Giới quân sự cũng đã xây dựng nhiều căn cứ mới ở Kyrgyzstan và Uzbekistan (sau đó đã đóng cữa), đã thăm dò khả năng bành trướng tương tự ở Tajikistan và Kazakhstan, và, ít ra, tiếp tục sử dụng vài quốc gia Trung Á như các tuyến hậu cần tiếp liệu cho quân đội ở Ahghanistan và điều phối chương trình triệt thoái phân bộ hiện nay.

Trong khi chính quyền Obama đã không thành công duy trì 58 căn cứ ở Iraq sau cuộc triệt thoái năm 2011, gần đây người Mỹ cũng đã ký một thỏa ước với Afghanistan cho phép quân đội Hoa Kỳ đồn trú trong xứ cho đến năm 2024 và duy trì khả năng tiếp cận căn cứ không quân Bagram Air Base và ít ra 8 cơ sở quan trọng khác.

CƠ SỞ HẠ TẦNG CẦN THIẾT CHO CHIẾN TRANH

Ngay cả khi không có một cơ sở hạ tầng cho các căn cứ ở Iraq, giới quân sự Mỹ cũng đã có đầy đủ các chọn lựa khi cần khởi động cuộc chiến mới chống IS.

Bên trong Iraq, sự hiện diện đáng kể của Hoa Kỳ vẫn còn hiện hữu sau cuộc triệt thoái 2011 dưới hình thức các cơ sở của Bộ Ngoại Giao tương tự như căn cứ, cũng như tòa đại sứ lớn nhất trên hành tinh ở Baghdad, và một đội hình lớn lao các nhà thầu quân sự tư nhân.

Kể từ khi khởi động cuộc chiến mới, ít ra 1.600 quân nhân đã trở lại và đang hoạt động từ Trung Tâm Hành Quân Liên Ngành ở Baghdad và một căn cứ ở thủ đô Iraqi Kurdistan, Erbil. Vào đầu tháng 11-2014, Tòa Bạch Ốc đã loan báo có thể sẽ yêu cầu Quốc Hội chuẩn y một ngân khoản 5,6 tỉ USD để gửi thêm 1.500 cố vấn và nhân viên các loại đến ít ra hai căn cứ mới ở Baghdad và Tỉnh Anbar.

Các cuộc hành quân đặc biệt và các lực lượng khác cũng hầu như chắc chắn đang hoạt động từ nhiều địa điểm chưa được tiết lộ.

Những cơ sở lớn như Trung Tâm Hành Quân Tổng Hợp tại Căn Cứ Không Quân al-Udeid ở Qatar cũng quan trọng không kém. Trước năm 2003, trung tâm hành quân trong toàn vùng Trung Đông của Bộ Tư Lệnh Trung Đông được đặt tại Saudi Arabia. Trong năm đó, Ngũ Giác Đài đã di chuyển trung tâm đến Qatar và chính thức rút các lực lượng tác chiến ra khỏi Saudi Arabia.

Các động thái nầy đã diễn ra như những quyết định đáp ứng trước vụ nổ bom năm 1996 tại khu quân sự Khobar Towers ở Saudi Arabia, các cuộc tấn công khác của al-Qaeda trong vùng, và thái độ căm phẩn của quần chúng khuấy động bởi al-Qaeda trước sự hiện diện của các quân nhân không phải Hồi Giáo trong lãnh địa thiêng liêng của Hồi Giáo. Al-Udeid hiên nay đang cho phép một phi đạo dài 15.000 bộ, các kho quân nhu quân trang lớn, và khoảng 9.000 quân nhân và nhà thầu phối trí phần lớn cuộc chiến mới chống Nhà Nước Hồi Giáo (IS) ở Iraq và Syria.

Kuwait cũng đã là trung tâm quan trọng đối với các cuộc hành quân của Hoa Thịnh Đốn kể từ khi quân đội Hoa Kỳ chiếm đóng xứ nầy trong Cuộc Chiến Vùng Vịnh Thứ Nhất. Kuwait đã được sử dụng như sân khấu giàn dựng chính yếu và trung tâm hậu cần phục vụ bộ binh trong các cuộc hành quân xâm lăng và chiếm đóng Iraq năm 2003. Hiện vẫn còn có khoảng 15.000 quân Mỹ ở Kuwait, và giới quân sự Mỹ được biết đang mở những cuộc hành quân bỏ bom các vị trí IS sử dụng phi cơ tác chiến từ căn cứ không quân Ali al-Salem Air Base  của Kuwait.

Như một bài báo mang tính khích lệ trên tờ Washington Post vào hồi đầu tháng, nhiều phi cơ oanh tạc đã cất cánh từ al-Dhafra Air Base ở Vương Quốc Á Rập Thống Nhất, United Arab Emirates (UAE), trong chiến dịch dội bom hiện nay, hơn bất cứ từ phi trường nào khác trong vùng. Chỉ riêng UAE cũng đã là nơi đồn trú của khoảng 3.500 quân Mỹ, cũng như hải cảng bận rộn nhất của Hải Quân Hoa Kỳ.

Các pháo đài bay B-1, B-2, và B-52 từ đảo Diego Garcia cũng đã chung sức phát động các cuộc chiến Vùng Vịnh và cuộc chiến Afghanistan. Căn cứ hải đảo nầy cũng có thể giữ một vai trò trong cuộc chiến IS mới. Ngay gần biên giới Iraq, khoảng 1.000 quân nhân và các phản lực cơ chiến đấu cũng đang hoạt động ít ra cũng từ một căn cứ ở Jordan.

Theo con số mới nhất của Ngũ Giác Đài, giới quân sự Hoa Kỳ hiện có 17 căn cứ ở Thổ Nhĩ Kỳ. Trong khi chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ áp đặt các giới hạn sử dụng, ít ra một vài căn cứ vẫn còn được các drone giám sát Syria và Iraq sử dụng. Vào khoảng bảy căn cứ ở Oman cũng đang được sử dụng vào chiến dịch.

Bahrain hiện nay là tổng hành dinh phối trí toàn bộ các hoạt động của Hải Quân ở Trung Đông, kể cả Đệ Ngũ Hạm Đội, và được trao trách nhiệm bảo đảm dòng chảy  dầu khí và các tài nguyên khác trong vùng Vịnh Ba Tư và các tuyến đường biển quanh vùng. Ngoài ra, ít ra một phi đội oanh kích từ hàng không mẫu hạm trang bị các phi cơ oanh kích —  trong thực tế, như một căn cứ nổi khổng lồ trong Vịnh Ba Tư.

Hiện nay, hàng không mẫu hạm U.S.S. Carl Vinson đang neo tại chỗ, như một bệ phóng thiết yếu trong chiến dịch không kích Nhà Nước Hồi Giáo IS. Các tàu hải quân khác hoạt động trong Vùng Vịnh và Hồng Hải đã phóng các tên lửa tầm xa vào Iraq và Syria. Hải Quân còn tiếp cận “một căn cứ tiền phương” như một “lilypad” base dành riêng cho phi cơ trực thăng và các phi cơ tuần tiểu trong vùng.

Do Thái cũng che chở sáu căn cứ bí mật của Hoa Kỳ có thể được sử dụng như tiền trạm các vũ khí và trang bị có thể sử dụng nhanh chóng bất cứ ở đâu trong vùng. Đây cũng là một “de facto U. S. base — một căn cứ Hoa Kỳ trong thực tế” dành cho Hạm Đội Địa Trung Hải của Hải Quân. Và người ta còn nói đến hai địa điểm bí mật khác cũng đang được sử dụng.

Ở Ai Cập, quân đội Hoa Kỳ đã duy trì ít ra hai cơ sở và đóng quân ít ra trong hai căn cứ trên Bán Đảo Sinai từ năm 1982 như một phần của Thỏa Ước giữ hòa bình Camp David Accords.

Ở những nơi khác trong vùng, giới quân sự đã thiết lập một số ít ra năm căn cứ drones ở Pakistan; bành trướng một căn cứ thiết yếu ở Djibouti ngay tại nút chặn giữa kênh đào Suez Canal và Seychelles; thiết lập các căn cứ mới ở Kosovo dọc theo bờ Tây Hắc Hải giàu hơi đốt thiên nhiên.

Ngay tại Saudi Arabia, mặc dù đã công khai triệt thoái, một số nhỏ quân nhân Hoa Kỳ vẫn còn để lại phía sau để huấn luyện nhân viên Saudi và duy trì các căn cứ như tiềm năng dự bị cho các biến cố bất thần  trong vùng hay ngay cả trong chính Saudi Arabia. Trong những năm gần đây, giới quân sự cũng đã thiết lập một căn cứ drone bí mật bên trong Saudi Arabia, mặc dù Hoa Thịnh Đốn trước đây đã từng trải nghiệm bất trắc “blowback” hay  cảnh “gậy ông dập lưng ông” từ các nguy cơ  “Saudi basing ventures.”

LÃNH TỤ ĐỘC TÀI, TỬ THƯƠNG, VÀ TAI HỌA

Sự tiếp tục hiện diện của Hoa Kỳ ở Saudi Arabia, dù khiêm tốn đến đâu, cũng có thể nhắc nhở chúng ta về các nguy cơ duy trì các căn cứ trong vùng. Đóng quân trên lãnh địa thiêng liêng của Hồi Giáo là một yếu tố thuận lợi quan trọng trong công tác tuyển mộ của al-Qaeda và là một phần trong động lực rõ ràng cho các cuộc tấn công 11/9 của Osama bin Laden. Osama đã gọi sự hiện diện của quân đội Mỹ là tấn công lớn nhất đối với dân Hồi Giáo kể từ cái chết của đấng tiên tri.

Thực vậy, các căn cứ và quân đội Hoa Kỳ trong vùng Trung Đông đã là “vật xúc tác hữu hiệu đối với chủ nghĩa bài Mỹ và cực đoan hóa quần chúng” kể từ cài bom cảm tử giết hại 241 lính thủy đánh bộ ở Libanon năm 1983. Các cuộc tấn công khác cũng đã xẩy ra ở Saudi Arabia năm 1996, Yemen năm 2000 đối với tàu U.S.S. Cole, và trong suốt các cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq. Các cuộc nghiên cứu đã chứng tỏ một tương quan mạnh mẽ giữa sự hiện diện của các căn cứ Hoa Kỳ và khả năng tuyển mộ của al-Qaeda.

Một phần của lòng căm hận bài Mỹ đã bắt nguồn từ hậu thuẩn các căn cứ của Hoa Kỳ dành cho các chế độ đán áp, phản dân chủ. Rất hiếm các quốc gia trong vùng Trung Đông Nới Rộng là hoàn toàn dân chủ, và vài xứ còn là những xứ xâm phạm nhân quyền tệ hại nhất thế giới. Đáng lưu ý nhất là chính quyền Hoa Kỳ đã chỉ phê bình một cách tẻ nhạt chính quyền Bahrain khi xứ nầy, với sự trợ lực của người Saudi và Vương Quốc Á Rập Thống Nhất UAE, đã đàn áp hết sức thô bạo các người biểu tình đòi dân chủ.

Ngoài Bahrain, người ta còn tìm thấy một chuổi những xứ “The Economist Democracy Index” gọi là các “chế độ độc tài,” “authoritarian regimes”, kể cả Ahghanistan, Bahrain, Djibouti, Ai Cập, Ethiopia, Jordan, Kuwait, Oman, Qatar, Saudi Arabia, UAE, và Yemen. Duy trì các căn cứ quân sự trong các xứ nầy đang hỗ trợ các nhà độc tài và các chính quyền đàn áp khác, đang biến Hoa Kỳ thành tòng phạm trong tội ác của họ, và làm suy yếu nghiêm trọng các nỗ lực phổ biến dân chủ và cải thiện an sinh của các dân tộc trên khắp thế giới.

Đã hẳn, sử dụng các căn cứ để phát động chiến tranh và các hình thức can thiệp khác cũng có những tác động tương tự, gây căm hờn, chống đối, và các cuộc tấn công chống Mỹ. Một phúc trình gần đây của Liên Hiệp Quốc cũng gợi ý chiến dịch không tạc Nhà Nước Hồi Giáo IS của Hoa Thịnh Đốn đã thúc đẩy các chiến binh ngoại quốc gia nhập phong trào với tầm cỡ vô tiền khoáng hậu.

Và vì vậy, chu kỳ chiến tranh khởi động năm 1980 có khuynh hướng tiếp tục. Đại tá Bộ Binh hưu trí và khoa học gia chính trị Andrew Bacevich đã viết về Nhà Nước Hồi Giáo “IS”: “Ngay cả nếu Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh thành công đánh bại nhóm chiến binh, cũng có rất ít lý do để chờ đợi một kết cục tích cực trong vùng. Cũng như Bin Laden và phong trào thánh chiến Afghan mujahidin trước đây đã biến dạng để trở thành al-Qaeda và Taliban, cũng như các đảng viên Baathists và các thành viên al-Qaeda ở Iraq trước đây đã biến thành IS, theo Bacevich, cũng luôn có một Nhà Nước Hồi Giáo hay IS khác đang chờ sẵn để tiếp tay.”[4]

Các “căn cứ theo chủ thuyết Carter” và “chiến lược vun đắp quân sự và niềm tin một nỗ lực “áp dụng khéo léo sức mạnh quân sự Hoa Kỳ” có thể bảo đảm các số cung dầu khí và giải quyết các vấn đề trong vùng cũng chỉ là những kế hoạch “sai quấy ngay từ đầu.” Thay vì đem lại an ninh, các cơ sở hạ tầng của các căn cứ trong vùng Trung Đông Nới Rộng chỉ làm dễ dàng hơn nỗ lực gây chiến ở một nơi xa xôi. Nó đã làm dễ dàng hơn các cuộc chiến lựa chọn và một chính sách đối ngoại mang tính can thiệp, một chính sách đã đưa đến những tai họa cho vùng, cho Hoa Kỳ, và cho thế giới. Chỉ kể từ 2001, các cuộc chiến do Hoa Kỳ dẫn đầu ở Afghanistan, Pakistan, Iraq, và Yemen đã gây ra hàng trăm nghìn tử vong và có thể trên một triệu thương vong cho riêng Iraq.

Điều oái oăm đáng buồn là bất cứ ý muốn chính đáng nào nhằm duy trì dòng chảy cung cấp năng lượng dầu khí trong vùng đến kinh tế toàn cầu cũng đã có thể được thể hiện qua các phương tiện ít tốn kém tài lực và nhân mạng hơn rất nhiều. Duy trì hàng tá căn cứ tốn kém hàng tỉ USD mỗi năm là không cần thiết để bảo vệ các số cung dầu lửa và bảo đảm hòa bình trong vùng – nhất là trong kỷ nguyên Hoa Kỳ chỉ nhận được khoảng 10% dầu và hơi đốt thiên nhiên từ vùng Trung Đông Nới Rộng. Ngoài số thiệt hại trực tiếp do ngân sách quân sự của Hoa Kỳ đã gây ra, phương cách nầy còn chuyển hướng tiền bạc và sự chú ý khỏi các chương trình phát triển các nguồn năng lượng thay thế có thể giúp Hoa Kỳ và thế giới khỏi phụ thuộc vào dầu Trung Đông – và khỏi chu kỳ chiến tranh các căn cứ quân sự Hoa Kỳ đã và đang nuôi dưỡng.

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

28-11-2014

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[1] Since World War II, as the late Chalmers Johnson, an expert on U.S. basing strategy, explained back in 2004, “the United States has been inexorably acquiring permanent military enclaves whose sole purpose appears to be the domination of one of the most strategically important areas of the world.”

[2] “Immediate construction of this [air] field,” they argued, “would be a strong showing of American interest in Saudi Arabia and thus tend to strengthen the political integrity of that country where vast oil reserves now are in American hands.”

[3] In his State of the Union address, he warned of the potential loss of a region “containing more than two-thirds of the world’s exportable oil” and “now threatened by Soviet troops” in Afghanistan who posed “a grave threat to the free movement of Middle East oil.” Carter warned that “an attempt by any outside force to gain control of the Persian Gulf region will be regarded as an assault on the vital interests of the United States of America.” And he added pointedly, “Such an assault will be repelled by any means necessary, including military force.”

[4]“Even if U.S. and allied forces succeed in routing this militant group,” retired Army colonel and political scientist Andrew Bacevich writes of the Islamic State, “there is little reason to expect” a positive outcome in the region. As Bin Laden and the Afghan mujahidin morphed into al-Qaeda and the Taliban and as former Iraqi Baathists and al-Qaeda followers in Iraq morphed into IS, “there is,” as Bacevich says, “always another Islamic State waiting in the wings.”

Advertisements