CHIẾN LƯỢC ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ TRONG VÙNG TRUNG ĐÔNG NỚI RỘNG

Đối với một số quân nhân Hoa Kỳ sau hai đợt phục vụ trong Cuộc Chiến Iraq 1.0 và 2.0,“Iraq không còn hiện hữu.”[1] Đây là ý kiến cơ sở trên trài nghiệm. Là những quân nhân tự nguyện, họ đã từng tham chiến trong hai Cuộc Chiến Iraq 1.0 và 2.0, trước và trong đợt “tăng quân” hay “surge” dưới quyền chỉ huy của Tướng Petraeus. Kinh nghiệm thực tiển của quân nhân đã giúp đem lại cho họ một lợi thế tuyệt vời trong việc thẩm định cuộc khủng hoảng đang tiếp diễn khi Nhà Nước Hồi Giáo “IS”[2] đã khiến người Mỹ khó lòng nuôi ảo tưởng Cuộc Chiến Iraq sẽ sớm chấm dứt.
Đã hẳn, ít ai trong giới lãnh đạo ở Hoa Thịnh Đốn có thể đồng tình với họ về nhận định vừa nói. Trong vòng đai Hoa Thịnh Đốn, các nhà làm chính sách, các chính trị gia, các nhà bình luận… luôn tin: sự hiện hữu của Iraq là một sự thật hiển nhiên. Họ còn đi xa hơn và tin Hoa Kỳ có sứ mệnh phải duy trì sự hiện hữu của chính thực thể đó. Đối với họ, Iraq là chính nghĩa đem lại ý nghĩa cho đời sống của họ. Riêng đối với tập đoàn quân sự-kỹ nghệ, quà tặng đó luôn tiếp diễn.
Xét từ góc cạnh hay viễn tượng đó, chính quyền Iraq đang thực sự trị vì, quân đội Iraq là lực lượng chiến đấu mang tính đại diện quốc gia, và dân tộc Iraq đơn thuần tin tưởng họ chính là cộng đồng cùng chia sẻ một quá khứ và một tương lai dài lâu.
Trên bình diện lập luận, mỗi một mệnh đề trên đây cũng đã có lúc hàm chứa chút ít sự thật. Nhưng ngay sau cuộc xâm lăng của Hoa Kỳ đã làm tan nát xứ sở Iraq vào năm 2003, và như Tướng Colin Powell, Bộ Trưởng Ngoại Giao lúc đó, đã tiên đoán, mọi công trình, mọi giá trị… trước đó đều đã tan biến nhanh chóng. Nỗ lực của người Mỹ chiếm đóng, theo Hoa Kỳ, chỉ với ý định tạo lập một Iraq mới từ đổ nát của một Iraq trước đó, đã không mang lại một chút giá trị và hầu như chẳng còn gì tồn tại lâu dài. Tuy vậy, mãi đến ngày nay, Hoa Thịnh Đốn vẫn duy trì niềm tin dai dẳng: chỉ cần cố gắng nhiều hơn, một cách nào đó, rất có thể mọi chuyện sẽ trở lại như xưa. Thực vậy, niềm tin đó đang là động lực thúc đẩy một tái can thiệp quân sự của Hoa Kỳ trước sự trỗi dậy của IS hay Nhà Nước Hồi Giáo.
Vì vậy, khi David Ignatius, nhà bình luận sáng suốt và khá điềm tĩnh của báo Washington Post, sau nhiều suy tư về những gì Hoa Kỳ cần làm để thành công trong Cuộc Chiến Iraq 3.0, đã đưa ra “bảng liệt kê tinh thần”: Ở Baghdad, Hoa Kỳ cần vun quén một chính quyền trong sạch hơn, ít bè phái hơn; để bảo đảm an ninh, người Mỹ sẽ phải “tái xây dựng một quân đội”; và để chấm dứt tinh thần phe nhóm nội bộ, người Mỹ sẽ phải tìm cách giành cho kỳ được hậu thuẩn của người Kurd và tái xây dựng lòng tin với phe Sunnis.”[3]
Ignatius biết rõ mọi điều trên bảng liệt kê đều cực kỳ khó thể hiện. Ông chỉ đơn thuần đưa ra luận cứ “phải làm cho kỳ được”, và hàm ý “có thể làm”. Trái với mọi người, Ignatius luôn bám chặt các suy diễn chủ quan: Iraq có thể hay phải có đủ ý chí trường tồn chính trị, phải có đủ khả năng quân sự, và phải có tinh thần đoàn kết.
Đã hẳn đây chỉ là “ảo tưởng” hay “wishful thinking”.
Giá trị của trải nghiệm, khác với những người dù thông minh nhưng cố tình tin ở những gì không hiện hữu, là cơ sở trên khả năng đứng vững hay xác thực bên ngoài các giả thiết của người Mỹ về Iraq.
Một khuynh hướng tương tự đầy tưởng tượng hay hoang tưởng đang thẩm thấu, và vì vậy, đang bóp méo các chính sách của Hoa Kỳ trong khắp vùng Trung Đông Nới Rộng.
Sau đây là những niềm tin, gần như những giáo điều, của các giới lãnh đạo bên trong Hoa Thịnh Đốn:
(1) Sự hiện diện của các lực lượng Hoa Kỳ trong thế giới Hồi Giáo sẽ góp phần đem lại ổn định cấp khu vực và tăng cường ảnh hưởng của Hoa Kỳ.
(2) Vịnh Ba Tư là quyền lợi an ninh quốc gia thiết thân của Hoa Kỳ.
(3) Ai Cập và Saudi Arabia là đồng minh quý hiếm của Hoa Kỳ.
(4) Quyền lợi của Hoa Kỳ và quyền lợi của Do Thái luôn trùng hợp.
(5) Khủng bố là đe dọa cốt lõi Hoa Kỳ cần phải triệt tiêu.
Trong nhiều thập kỷ cho đến nay, bốn niềm tin đầu đã tạo thành nền móng cơ bản của chính sách Hoa Kỳ về Trung Đông. Biến cố 11/9 đã đem lại niềm tin thứ năm, mà không mảy may thúc đẩy một nỗ lực xét lại cả bốn niềm tin đầu.
Đối với mỗi một trong bốn nhân tố, không một quan chức cao cấp Hoa Kỳ nào (hay bất cứ ai có tham vọng thành đạt một địa vị quyền lực) dám có ý kiến trái ngược, ít ra trên hồ sơ lý lịch.
Tuy vậy, với chút ít phân tích suy xét, không niềm tin nào có thể đứng vững. Trên danh nghĩa, giá trị của mỗi niềm tin không mấy khác lòng tin ở sự hiện hữu của Santa Claus, hay những câu chuyện thần tiên – hay ngay đến John Boehner và Mitch McConnell cũng khó thể thực sự hy vọng chính quyền Obama và Quốc Hội do đảng Cộng Hòa kiểm soát có thể tìm thấy có đủ đồng thuận để hợp tác.
Chúng ta thử lần lượt thẩm định năm niềm tin.
SỰ HIỆN DIỆN CỦA QUÂN LỰC HOA KỲ
Kể từ ngày Hoa Kỳ can thiệp vào Lebanon với “cực điểm khủng bố tháng 10-1983 ở Beirut”, quân đội Hoa Kỳ đồn trú trong các xứ Hồi Giáo họa hoằng lắm mới đóng góp được chút ít vào ổn định. Trái lại, sự hiện diện của binh sĩ Hoa Kỳ luôn đưa đến những tác động gây bất ổn.
Iraq và Afghanistan là những bằng chứng đau thương. Tác phẩm mới “Tại Sao Chúng Ta Đã Chiến Bại” hay “Why We Lost” của Tướng hưu trí Daniel Bolger, cuối cùng cũng đã được lưu hành trong nội bộ giới lãnh đạo với lời tuyên bố chính thức cả hai cuộc chiến đã thất bại.
Barack Obama, vừa an vị ở Nhà Trắng với giải thưởng Nobel Hòa Bình, và chỉ sau gần ¾ của hai nhiệm kỳ, cũng đã trở thành một tổng thống đang theo đuổi “chiến tranh lựa chọn,” với lính Mỹ vội vàng trở lại sau quyết định triệt thoái khỏi Iraq năm 2011, cũng như chưa kịp rút khỏi Afghanistan vào cuối năm 2014, cũng đã phải bắt đầu quá trình tăng viện.
Ngay cả trong giả thiết một luận cứ, các nỗ lực “xây dựng quốc gia chân thành và trong danh dự” của Hoa Kỳ, như các tổng thống kế tiếp đã luôn mô tả, hậu quả cũng chỉ luôn mang tính xói mòn hơn là xây dựng. Các chiến binh IS đã lan tràn khắp Iraq không mấy khác các đối tác Taliban với tệ nạn nha phiến ngày một gia tăng ở Afghanistan. Trong thực tế, không một ai tỉnh táo có thể nói cả hai xứ đã ngày một ổn định hơn.
Và đó cũng chẳng phải là các trường hợp duy nhất. Quân đội Hoa Kỳ đồn trú ở Saudi Arabia tiếp theo sau “Chiến Dịch Cơn Bảo Sa Mạc” hay “Operation Desert Storm” được mô tả như để mang lại hiệu quả trấn an. Thay vào đó, sự có mặt của đoàn quân chiếm đóng đã là nguyên nhân đưa đến “biến cố bom mìn tàn phá Khobar Towers” – “devastating Khobar Towers bombing”. Gửi lính Mỹ trở lại Somalia trong năm 1992 với ý định chứng tỏ một Hoa Kỳ nhân đạo luôn quan tâm đến người Hồi Giáo nghèo đói. Thay vào đó, sứ mệnh cuả phái bộ đã chấm dứt bởi trận ác chiến Mogadishu, được biết dưới biệt danh “Black Hawk Down”, và sứ mệnh đã hoàn toàn thất bại.
Tuy vậy, kỳ vọng cao xa đóng chốt tại vài điểm nóng ở Trung Đông sẽ mang lại an bình cho khu vực vẫn thượng tồn. Để chính xác hơn, tưởng cần phải nói: hành động ngang tàng kiêu ngạo của người Mỹ đã đem lại cho các phe đối nghịch một môi trường nhiều tiêu điểm — với người Mỹ như mục tiêu.
TẦM QUAN TRỌNG CỦA VỊNH BA TƯ
Mặc dù quyền lợi của Hoa Kỳ trong vùng Vịnh đã có lúc có thể xem như thiết yếu, bức tranh năng lượng toàn cầu đang liên tục thay đổi đã chứng minh quan điểm đó cũng đã lỗi thời.
Những gì có lẽ là tin buồn cho môi sinh lại là tin vui đối với Hoa Kỳ dưới hình thức đang mang lại cho người Mỹ nhiều lựa chọn chiến lược mới. Một lần nữa, các kỹ thuật mới đã giúp Hoa Kỳ trở thành xứ có tài nguyên dầu lửa lớn nhất hành tinh. Hoa Kỳ cũng là xứ sản xuất hơi đốt thiên nhiên lớn nhất thế giới. Rốt cuộc, giai điệu cuồng điên “drill, baby, drill” — “khoan dầu, baby, cứ khoan dầu” — của tập đoàn các đại công ty năng lượng, thế mà đúng. Có lẽ phải nên tung hô “frack, baby, frack’” mới đúng hơn.
Dù sao đi nữa, “giả thiết lệ thuộc vào năng lượng” và “các quyền lợi thiết thân” đã từng gây cảm hứng cho Jimmy Carter, ngay từ năm 1980, khi đã phải thốt lên: “Vùng Vịnh luôn xứng đáng cho Hoa Kỳ phải chiến đấu”, nay không còn xác đáng.
Nhu cầu tiếp cận dầu vùng Vịnh vẫn còn cực kỳ quan trọng đối với vài xứ, nhưng chắc chắn là không phải Hoa Kỳ. Khi cần nâng cao lối sống phóng đãng phung phí của người Mỹ, Texas và North Dakota sẽ được xếp cao hơn Saudi Arabia và Kuwait về tầm quan trọng. Thay vì lo lắng về sản lượng dầu của Iraq, Hoa Thịnh Đốn có lẽ sẽ có lợi nhiều hơn khi chăm lo bảo đảm an ninh và phúc lợi cho Canada, với tiềm năng dầu đá phiến (shale oil) cực kỳ lớn lao. Và nếu giới quân sự những lúc ngứa ngáy muốn gia tăng trữ lượng dầu lúc một khó đề kháng, họ có thể khôn ngoan hơn nếu xâm lăng Venezuela thay vì gây sự với Iran.
Liệu vùng Vịnh Ba Tư còn có nhu cầu trợ giúp cảnh sảt từ thế giới bên ngoài? Cũng rất có thể. Nhưng trong trường hợp nầy, xin hảy nhường cho Trung Quốc đặc ân làm công tác từ thiện của mình. Đỡ cho các quốc gia láng giềng Á châu-Thái Bình Dương khỏi phải âu lo bị nhòm ngó, gây gỗ, hay đe dọa bởi siêu cường đang lên.
CÁC ĐỒNG MINH Á-RẬP
Đã đến lúc Hoa Kỳ cần phải tái định hình quan hệ với Ai Cập và Saudi Arabia. Xếp hai xứ Á rập vào hàng ngũ các đồng minh rõ ràng là dối trá hay gạt gẫm. Cả hai đều không chia sẻ các giá trị Hoa Thịnh Đốn luôn rao giảng Hoa Kỳ luôn tôn thờ.
Qua nhiều thập kỷ, Saudi Arabia, một quốc gia theo đuổi một đế chế tuyệt đối của hành tinh, luôn đề cao khá hiệu quả chủ thuyết thánh chiến cực đoan chống Tây Phương.
Nếu một âm mưu gồm toàn người Nga đã thành công sát hại vài nghìn người Mỹ, liệu nhà cầm quyền Hoa Kỳ có thể nào làm ngơ? Liệu quan hệ Mỹ-Nga có thể nào không bị ảnh hưởng? Câu hỏi đồng thời cũng đã là câu trả lời.
Trong khi đó, sau một thời gian ngắn ngũi ve vãn dân chủ, Ai Cập một lần nữa đã trở lại với tình trạng trước đây: một chế độ độc tài, quân phiệt, tham nhũng, đàn áp, không xứng đáng hàng tỉ mỹ kim viện trợ quân sự Hoa Thịnh Đốn đã phải cung cấp năm nầy qua năm khác.
DO THÁI
Hoa Kỳ và Do Thái cùng chia sẻ một số quyền lợi chung. Một cam kết liên quan đến “giải pháp hai nhà nước cho vấn đề Palestine” không phải là một trong số ít vừa nói. Về đề tài nầy, mục đích của Hoa Thịnh Đốn và Tel Aviv khác xa nhau. Nói chung, các khác biệt không dễ gì hóa giải.
Đối với chính quyền Do Thái, vì an ninh luôn là âu lo hàng đầu, một nhà nước Palestine có thể chấp nhận được sẽ tương đương với một Bantustan, trên căn bản: không thể bảo vệ, chỉ có chủ quyền hạn chế, và chấp hữu một tiềm năng kinh tế hạn chế tối thiểu.
Xâm lấn liên tục bởi Do Thái trong các lãnh thổ bị chiếm đóng, được thể hiện trước sự chống đối của Hoa Kỳ, tất cả đều đã được phản ảnh rõ ràng.
Đã hẳn, đó hoàn toàn là ưu quyền – thực ra là trách nhiệm – của chính quyền Do Thái: phải thăng tiến an sinh của công dân Israel.
Các quan chức Hoa Kỳ cũng có một trách nhiệm tương tự: họ có bổn phận phải hành động theo quyền lợi của các công dân Mỹ. Và điều nầy có nghĩa: phải từ chối các hành động trái với quyền lợi của Hoa Kỳ.
“Diễn tiến hòa bình” chỉ là một giả tưởng. Tại sao Hoa Kỳ lại phải kiên trì giả tưởng ngược lại? Thật là môt điều xấu hỗ và bẽ mặt.
CHỦ NGHĨA KHỦNG BỐ
Cũng như tội phạm và bệnh truyền nhiễm, khủng bố sẽ luôn tồn tại với nhân loại. Đối diện với khủng bố, cần phải hành động nhanh chóng và hữu hiệu, để giảm thiểu nguy cơ và cho phép tiếp tục cuộc sống bình thường.
Túi khôn đòi hỏi phải thể hiện một cân bằng giữa đe dọa thực sự hiện hữu và nỗ lực đối phó với đe dọa. Người trưởng thành hiểu được điều nầy. Không ai có thể chờ đợi triệt tiêu mọi đe dọa xuống số không trong các thành phố hay trên toàn thế giới. Không ai có thể chờ đợi mọi người đều luôn hoàn toàn mạnh khỏe. Chuẩn mực tìm kiếm chỉ có thể là: “có thể chấp nhận” hay “có thể chịu đựng” – tolerable.
Khủng bố đe dọa người Mỹ đã hẳn là điều hiển nhiên, nhất là khi họ hay lai vãng đến vùng Trung Đông Nới Rộng. Nhưng hy vọng loại trừ mọi khủng bố cũng thuộc cùng loại với các chiến dịch chấm dứt nạn mù chữ hay tình trạng vô gia cư: đồng ý là phải nhằm cao, nhưng xin đừng ngạc nhiên hay thất vọng khi kết quả gặt hái không hoàn toàn như ý muốn.
Triệt tiêu khủng bố là điều không tưởng. Khủng bố sẽ luôn tồn tại. Các lãnh đạo Hoa Kỳ, dân sự cũng như quân sự, phải có đủ can đảm và chân thành để chấp nhân thực tế. Tuy nhiên, hình như các quan chức ở Hoa Thịnh Đốn không còn có thì giờ cho thực tế. Vì họ đang lạc lối trong thế giới riêng của mình.
NguyễnTrường Irvine,California,U.S.A. 03-12-2014

[1] “Iraq no longer exists.”

[2] Islamic State

[3] … in Baghdad, the U.S. should foster a “cleaner, less sectarian government”; to ensure security, we will have to “rebuild the military”; and to end internal factionalism, we’re going to have to find ways to “win Kurdish support” and “rebuild trust with Sunnis

Advertisements