QUAN HỆ MỸ-NGA-TRUNG QUỐC VÀ HIỂM HỌA THẾ CHIẾN

 

Theo học gỉả Noam Chomsky, Thế Chiến Thứ Ba có thể có nghĩa nhân loại sẽ diệt vong. Mikhail Gorbachev, nguyên lãnh tụ Liên Bang Xô Viết , cũng đã phát biểu: tình hình thế giới thật sự bi thảm. Cả hai đều đồng ý thái độ gây hấn của Tây Phương đối với Nga đang ngày một leo thang cực kỳ nguy hiểm.

CHIẾN TRANH LẠNH 2.0

Như báo Chicago Tribune ngày 8-11-2014 đã tường trình, trong buổi lễ kỷ niệm Bức Tướng Bá Linh ngày thứ bảy trước đó, Gorbachev đã nói rõ “ thái độ hồ hởi và đắc thắng đã ám ảnh giới lãnh đạo Tây Phương.”[1]

Điều đáng ngạc nhiên là học giả, triết gia, và bình luận gia lừng danh thế giới, Noam Chomsky, cũng đã đồng tình với nguyên lãnh tụ Xô Viết. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây dành cho Sophie Shevardnadze trên kênh Russia Today, Chomsky đã nói rõ Nga và Tây Phương một lần nữa rõ ràng đang rơi vào tình huống một Chiến Tranh Lạnh mới, bởi lẽ, như Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel đã phát biễu, “Hoa Kỳ cần phải đối phó với quân đội Nga ngay trên ngưỡng cửa NATO.”[2]

Ngưỡng cửa đó trước đây là Bức Tường Bá Linh chia đôi Đông và Tây Đức. Sau sự sụp đổ của Bức Tường Bá Linh năm 1989, NATO đã bành trướng qua Đông Đức và trong thập kỷ kế tiếp, đến Kossovo và Serbia.

“NATO nguyên thủy đã được thiết lập để bảo vệ Tây Âu trước một Liên Bang Xô Viết sau Đệ Nhị Thế Chiến, và theo Chomsky, là một lực lượng can thiệp và xâm lăng do Hoa Kỳ kiểm soát.”[3]

Trong bài nói chuyện tại Bức Tường Bá Linh, nguyên lãnh tụ Xô Viết Mikhail Gorbachev cũng đã buộc tội Tây Phương, và đặc biệt là Hoa Kỳ, đã không giữ lời hứa sau năm 1989. Gorbachev đã chống đối cả chiến dịch dội bom Yugoslavia năm 1999 và cuộc chiến Iraq do Hoa Kỳ lãnh đạo năm 2003.

Tổng Thống Bush (Bush Sr.) đã cam kết với Gorbachev: “NATO sẽ không bành trướng dù chỉ một ‘inch’ về phía Đông”.[4]

Nhưng ngay sau khi cam kết, NATO đã bành trướng ra khắp Đông Đức. Khi lãnh tụ Xô Viết bày tỏ sự giận dữ đối với hành động tiến dần về phía Nga của NATO, Gorbachev đã được Tổng Thống Bush và Bộ Trưởng Ngoại Giao James Baker cho biết: “Họ chỉ đã hứa miệng và chẳng có thỏa ước nào trên giấy tờ”.[5]

Dưới thời Tổng Thống Clinton, NATO cũng đã bành trướng ngày một đến gần Nga hơn.

Vào ngày 9-11-1989, tại Bức Tường Bá Linh, Gorbachev đã thông báo chấm dứt Chiến Tranh Lạnh. Lần nầy, vị lãnh tụ, nay đã 83 tuổi, cũng đã cảnh cáo một Chiến Tranh Lạnh mới và  nhiều hậu quả nghiêm trọng khác.

“Thế giới đang ở trên bờ một Chiến Tranh Lạnh mới. Vài người còn nói Chiến Tranh Lạnh Mới đã bắt đầu. Và tuy vậy, trong khi tình hình khá bi thảm, chúng ta vẫn chưa thấy định chế quốc tế chính yếu, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, đang giữ vai trò gì hay có hành động cụ thể nào.”[6]

Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã được tạo lập ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến và đã được trao nhiệm vụ duy trì hòa bình thế giới. Tuy nhiên, thái độ bất động đã tạo cơ hội để Tây Phương lợi dụng tình hình thế giới ngay sau ngày Liên Bang Xô Viết tan rã năm 1991, với hành động độc chiếm quyền lãnh đạo và khống chế toàn cầu.

“Gorbachev đã cho biết Tây Phương đã phạm nhiều lỗi lầm gây bức xúc cho Nga với quyết định bành trướng NATO, với các hành động ở Nam Tư trước đây, ở Iraq, Libya và Syria, và với các kế hoạch thiết kế hệ thống tên lửa phòng vệ.”[7]

Khi ra tranh cử tổng thống, Obama đã hứa hẹn thay đổi, giàn trải ít quân hơn trong các xứ khác, và giải giới nguyên tử toàn cầu.

Nhưng trong một cuộc phỏng vấn với Chomsky gần đây, Sophie Shevardnadze đã cho biết: “Vâng, nay đang có nhiều kế hoạch chi tiêu 1.000 tỉ USD để tăng  cường  vũ khí hạt nhân trong vòng 30 năm tới. Thay vì can thiệp vào các xứ khác ít hơn, các quan hệ quốc tế hiện nay đang được định hình bởi “các đường ranh đỏ”, “không loại trừ bất cứ giải pháp có thể lựa chọn nào”, “viện trợ vũ khí giết người”, và “tăng thêm lính đánh bộ”.[8]

Obama đã biện minh quyết định gia tăng chi tiêu về vũ khí  nguyên tử  cùng lúc với lời loan báo kho vũ khí hạt nhân của Nga đã vượt quá Hoa Kỳ. Đối với Gorbachev 83 tuổi và Chomsky 85 tuổi, lời nói và việc làm của Obama là một nhắc nhở thái quá Chiến Tranh Lạnh trước đây, và một lần nữa, các nguy cơ tiến dần đến quá gần Thế Chiến Thứ Ba và một cuộc chiến hạt nhân.

Gorbachev gọi nguy cơ Thế Chiến Thứ Ba như “một tình trạng bi thiết”, Noam Chomsky mô tả như “đang đe dọa.”[9]

Từ đó, chúng ta ngày một tiến gần đến tai họa một cách đáng sợ. Thực vậy, sử gia Arthur Schlesinger, một cộng sự viên thân cận của Kennedy, đã mô tả cuộc khủng hoảng tên lửa năm 1962 như “thời khắc nguy hiểm nhất trong lịch sử nhân loại.”[10] Và ông ta đã nói đúng, chúng ta đã tiến đến rất gần một cuộc chiến nguyên tử.

Ngoài ra, cũng đã có nhiều trường hợp, tuy chưa gần đến thế, nhưng cũng đã khá gần, khi can thiệp của con người, chỉ trong vài phút còn lại, đã kịp thời ngăn chặn một chiến tranh hạt nhân.

Không ai có thể bảo đảm: may mắn loại nầy sẽ luôn có nhiều khả năng được tiếp tục. Rất khó có thể có cơ may tương tự với xác suất tiếp diễn cao, và khi bạn cứ tiếp tục trò chơi  may rủi, dù với xác suất nguy cơ tai họa thấp, bạn cũng sẽ thua cuộc.

Và trong tình hình hiện nay, nhất là với khủng hoảng Ukraine và các hệ thống tên lửa tự vệ gần biên giới Nga, các tai họa rình rập quả thật đã là một đe dọa cực kỳ nguy hiểm.

CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ KINH TẾ RỖNG RUỘT

Lãnh tụ Trung Quốc Tập Cận Bình đã hiểu rõ một điều mà Barack Obama đã không hiểu: uy tín của Hoa Kỳ trên thế giới không còn nữa. Kinh tế Hoa Kỳ không mấy khác một tàu biển đã bị thủng đáy. Trong phòng khánh tiết ban nhạc vẫn cứ tiếp tục diễn xuất, nhưng trên cầu tàu và buồng lái, hậu quả đã quá rõ ràng.

Sau ngày Liên Bang Xô Viết tan rã, Hoa Kỳ là Đại Cường đang trên đà tuột dốc nhanh chóng nhất trong lịch sử.

Tính theo bách phân của sản lượng quốc gia, số nợ nước ngoài của Hoa Kỳ đã lớn hơn số nợ của bất cứ Đại Cường nào khác, kể từ đế quốc Ottoman cách đây một thế kỷ. Đối với những ai cần được nhắc nhở, đế quốc Ottoman, sau hơn sáu thế kỷ thịnh vượng, cuối cùng cũng đã sụp đổ chỉ trong vòng một thập kỷ.

Vì lẽ mỗi một mỹ kim khuy khiếm trong tài khoản vãng lai (hay cân thương mãi —  mực thước đo lường lớn nhất và có ý nghĩa nhất về mậu dịch) là một “mỹ kim nhập siêu” phải được tài trợ bởi khu vực ngoại quốc. Và với số nợ nước ngoài hiện đang tích lũy với nhịp độ trên một tỉ mỹ kim mỗi ngày, Hoa Kỳ chẳng có cách nào có thể gia tăng xuất khẩu (xuất siêu) đủ để vãn hồi khả năng thanh toán nợ.

Như Tập Cận Bình đã hiểu rất rõ, đây là một vấn đề kỹ thuật.

Mỗi khi thiết kế được bất cứ kỹ thuật sản xuất mới hữu hiệu nào, các đại công ty Hoa Kỳ thường đã phải chuyển giao đến Trung Quốc hay các xứ hải ngoại để giúp nâng cao năng suất của nhân công trong các xứ nầy. Và trong thực tế, các công ty muốn bán sản phẩm ở Trung Quốc đều phải thỏa mãn điều kiện: không những sản phẩm phải được sản xuất ngay tại chỗ, mà còn vì vậy, đã phải chuyển giao công nghệ tân tiến đến Trung Quốc, trước khi có thể tái xuất khẩu trở lại Hoa Kỳ — outsourcing.

Toàn bộ quá trình có nghĩa: kinh tế Hoa Kỳ hiện nay đang đơn thuần quá rỗng ruột để có thể phục hồi. Ngay cả các công ty chế biến với bề ngoài khá vững mạnh như Boeing, Caterpillar, và Corning Glass, từ lâu cũng đã phải sản xuất phần lớn các bộ phận rời và vật liệu tiền tiến ở Nhật, Đại Hàn, Đức, và các quốc gia đặc chuyên chế biến khác.

Chính vì vậy, phần lớn các công nghệ tiền tiến quý giá nhất của Boeing từ lâu đã được chuyển giao qua các quốc gia trong vùng Đông Á.

Quá trình dồn toàn lực chuyển giao công nghệ dẫn đến tình trạng một Hoa Kỳ phá sản là nguyên nhân cơ bản, trong lịch sử thế giới, đưa đến sự toàn thắng của ý thức hệ đối với tục thức và túi khôn đời thường.

Khởi đầu với kỷ nguyên Eisenhower, các chính quyền kế tiếp ở Hoa Thịnh Đốn đã luôn tận lực thuyết giảng và theo đuổi “chính sách mậu dịch ngày một tự do hơn”.

Trên nguyên tắc, điều nầy được tin có thể tăng cường vai trò lãnh đạo kinh tế của Hoa Kỳ trên thế giới. Nhưng ít nhất các giới cầm quyền ở Tokyo, Seoul, và Đài Loan, cũng như ở Bonn, Frankfurt, và Tây Bá Linh, đã cười thầm trước thái độ ngây thơ của thời đại.

Không một quốc gia nào hiểu rõ sự khờ khạo trong chính sách mậu dịch của Hoa Kỳ hơn một Trung Quốc thời hậu-Mao.

Trên một bình diên, cấp lãnh đạo Hoa Kỳ đã mở rộng cửa thị trường đón nhận  hàng xuất khẩu của Trung Quốc. Một mặt khác, giới lãnh đạo Mỹ đã làm ngơ trước hành động công khai ngăn chặn hầu hết các sản phẩm chế biến xuất khẩu đến Trung Quốc. Hoa Kỳ đã luôn là nạn nhân nghiêm trọng nhất của chính sách bảo vệ mậu dịch của Trung Quốc.

Như các lãnh đạo Trung Quốc đều biết rõ hơn bất cứ ai, tham nhũng là vấn đề mang tính quyết định  ở Hoa Kỳ. Tình trạng tham nhũng ở Hoa Thịnh Đốn, trong thực tế, đã  rõ ràng nghiêm trọng hơn ở Bắc kinh rất nhiều. Nếu bạn muốn làm được một việc gì đó ở Hoa Thịnh Đốn, bạn hảy làm những gì bạn phải làm ở Indonesia: chỉ cần chuồi tiền vào túi đúng người.

Đây là điều đã được một nhà bình luận và tác giả  danh tiếng Nhật cách đây một thế hệ, Shintaro Ishihara, làm sáng tỏ. Theo quan điểm người Đông Á, và theo động lực chính trị học, Hoa Kỳ luôn là một xứ thuộc Thế Giới Thứ Ba.

Ngay cả Nam Hàn, với một dân số chỉ bằng 1/7 dân số Mỹ, cũng đã là một xứ xuất khẩu qua Trung Quốc lớn hơn Hoa Kỳ. Tính theo đầu người, xuất khẩu của Hàn Quốc qua Trung Quốc cũng đã gấp tám số xuất khẩu của Hoa Kỳ. Hơn nữa, xuất khẩu của Nam Hàn hầu như gồm toàn  những sản phẩm hàng đầu của Thế Giới Thứ Ba như các “linh kiện điện tử” cực nhỏ, trong khi hàng xuất khẩu chính yếu của Hoa Kỳ đến Trung Quốc lại gồm toàn những sản phẩm Thế Giới Thứ Ba, nhưng chỉ  như “quặng sắt, than, và lúa mì …”

Điều nầy không có nghĩa các biến chế phẩm của Hoa Kỳ đã vắng mặt trên thị trường Trung Quốc. Trong thực tế. các loại hàng nầy đang đầy dẩy ở khắp nơi. Nhưng hầu hết các sản phẩm biến chế Mỹ  bán cho Trung Quốc đều được sản xuất ngay tại Trung Quốc, sử dụng kỹ thuật sản xuất của Mỹ — loại công nghệ, trong vài trường hợp, đã do nhiều thế hệ người Mỹ thiết kế.

Với khuynh hướng phản bội quyền lợi quốc gia một cách khờ khạo, các đại công ty Hoa Kỳ hiện nay luôn tuân thủ, như một phản xạ tự nhiên, các đòi hỏi chuyển giao công nghệ của Trung Quốc.

Không như những đồng nghiệp Hàn Quốc, Nhật, Đức, và Đài Loan, người Mỹ đã không còn nhiều lựa chọn: trong khi chính quyền các quốc gia khác luôn yểm trợ các công ty của họ và tích cực hành động nhằm chận đứng nạn thất thoát các công nghệ then chốt ra nước ngoài, Hoa Thịnh Đốn luôn để bàn tay vô hình của  thị trường lèo lái.

Như báo The New York Times đã nêu rõ, một thí dụ hiện nay liên quan đến Intel và Qualcomm, cả hai đều sở hữu những công nghệ khá tương tự những gì Trung Quốc đang thèm muốn thủ đắc. Theo quan điểm của Bắc Kinh, điều nầy cũng khá dễ dàng — chẳng mấy khác lấy kẹo từ tay một đứa trẻ. Cả hai công ty Hoa Kỳ có thể  kình chống lẫn nhau và đều tin chắc công ty nầy hay công ty kia sẽ sớm chịu đầu hàng. Đây là trường hợp quyền lợi tập thể (các đại công ty đa quốc gia Hoa Kỳ) xung đột với quyền lợi cá nhân (the group versus the individual), và  trong một xã hội các đại công ty được tổ chức chặt chẽ,  tập thể  luôn nắm phần thắng.

Đây chính là “one-way valve” hay “van một chiều”: Công nghệ sản xuất then chốt của Hoa Kỳ luôn thất thoát ra nước ngoài. Ngược lại, vì quyền lợi quốc gia, hầu hết các nước khác trên thế giới thường có chính sách bảo quản và sử dụng các kỹ thuật tân tiến trong khu vực kỹ nghệ quốc nội.

Nói một cách khác, các đại công ty đa quốc gia ngày nay  không mấy quan tâm đến quyền lợi của xứ sở và luôn có đủ lý do để chuyển giao công nghệ đến các quốc gia đối tác. Trong chiều hướng đó, các đại công ty Hoa Kỳ đã dễ dàng “được lòng các chính quyền bản địa”, kể cả nhà cầm quyền Bắc Kinh. Và giới lãnh đạo và CEO các đại công ty đa quốc gia Hoa Kỳ cũng nhờ đó mà đã có thể tối đa hóa phần “stock options” của chính họ.

Đã hẳn, trong trường kỳ, tình trạng nầy đã có tác động tai họa đến kinh tế Hoa Kỳ.

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

12-12-2014

 

[1] Euphoria and triumphalism went to the heads of Western leaders.

[2] …the U.S. needs to deal with “Russia’s  army on NATO’s doorsteps”.

[3] NATO, which was originally designed to protect Western Europe from Russia after World War II, is according to Chomsky, a U.S. – run intervention force.

[4] NATO would not expand one inch to the East.

[5] …they had only made a verbal agreement and there was nothing on paper.

[6] “The world is on the brink of a new Cold War. Some say that it has already begun. And yet, while the situation is dramatic, we do not see the main international body, the U.N. Security Council, playing any role or taking any concrete action.”

[7] “Gorbachev said the West had made mistakes that upset Russia with the enlargement of NATO, with its actions in the former Yugoslavia, Iraq, Libya and Syria and with plans for a missile defense system.”

[8]  “Well, now there are plans to spend one trillion dollars on nuclear arms in the next 30 years,” said Sophie Shevardnadze in her interview with Chomsky. Instead of less interference in other countries, the international relationships are now defined by “red lines”, “no options off the table”, “lethal aid”, and “troops on the ground.”

[9] Gorbachev calls the dangers of a looming World War 3 a “dramatic situation.” Chomsky describes it as “threatening.”

[10] … “the most dangerous moment in human history”.

Click here to Reply or Forward

 

Advertisements