TRÍ THỨC HÀNH ĐỘNG, TRÍ THỨC CHÍNH SÁCH, BẤT AN NINH QUỐC

Các nhà “trí thức chính sách”[1] — trong thực tế, thường là những cố vấn của các ứng cử viên vào các chức vụ khác nhau trong  guồng máy Nhà Nước  — đang  là một tai họa cho Hoa Kỳ. Ngay tại Hoa Thịnh Đốn hiện nay, sự hiên diện của họ đang bóp ngạt túi khôn đời thường cũng như khả năng đơn thuần nhân thức được thực tế. Một xuất hiện vô hại  — điều trần trước Quốc Hội, trình bày trên báo chí và vô tuyến truyền hình, hay ngay cả giữ các chức vụ nòng cốt trong hành pháp — cũng đã đem lại một tác động tai hại.

Tất cả đều bắt đầu một cách trong trắng vô tư. Ngay từ 1933, khi kinh tế đang trong Đại Khủng Hoảng, Tổng Thống Franklin Delano Roosevelt lúc đầu chỉ thỉnh cầu một nhóm hàn lâm hăng say, tham dự vào chương trình New Deal. FDR tin, cuộc khủng hoảng kinh tế vô tiền khoáng hậu đang cần đến một số tư duy trong sáng và mới mẽ. Sự đóng góp của “Brains Trust” [Định Chế Tri Thức] đã có một tác động tích cực hay chỉ làm quá trình hồi phục kinh tế thêm chậm trể vẫn còn là đề tài tranh cãi ngay cả hiện nay. Tuy nhiên, ít ra sự góp mặt của Adolph Berle, Raymond Moley, Rexford Tugwell, và nhiều trí thức khác, cũng đã giúp tô điểm thêm sinh hoạt xã hội ở Hoa Thịnh Đốn. Như thành viên thiện chí của giới trí thức, họ đang mang sẵn một dấu ấn đặc biệt.

Rồi Đệ Nhị Thế Chiến, và chẳng bao lâu sau, Chiến Tranh Lạnh, bắt đầu.  Các biến cố nầy đã mang đến Hoa Thịnh Đốn một đợt sóng các nhà tư tưởng sâu sắc thứ hai, nghị trình của họ hiên nay đang tập trung vào “an ninh quốc gia.” Ý niệm co giản cao độ nầy – trung thực hơn, “bất an ninh quốc gia” – bao trùm có thể nói bất cứ những gì liên hệ đến việc chuẩn bị cho chiến tranh, hay sống còn qua các cuộc chiến, kể cả kinh tế, kỹ thuật, thiết kế vũ khí, lấy quyết định, cơ cấu quân lực, và nhiều vấn đề khác có tầm quan trọng thiết thân đến sự sống còn của quốc gia. “Bất an ninh quốc gia”[2] đã trở thành, và ngày nay vẫn là, thế giới chính sách, tương đương với quà tặng liên tục tiếp diễn.

Các vị đặc chuyên tư duy về “bất an ninh quốc gia” đã được biết đến như “trí thức quốc phòng”[3]. Các trí thức quốc phòng tiên phong trong thập kỷ 1950 thường nhận lương từ các “think tanks,” hay các “định chế tư duy”, như RAND Corporation đầu tiên, cũng như từ các định chế hàn lâm cổ điển. Họ là những gương mặt nổi trội, như Herman Kahn, người đã hãnh diện “tư duy những điều bất khả tư duy,” và Albert Wohlstetter, người đã tư vấn Hoa Thịnh Đốn về những vấn đề phức tạp như duy trì “cán cân khủng bố  tế nhị.”[4]

Trong thế giới không đáng tin cậy nầy, đơn vị đo lường luôn là “tính thích ứng của chính sách.” Điều nầy có nghĩa sáng chế những sản phẩm mang ý nghĩa mới lạ, chính yếu là để kéo dài hay duy trì mãi mãi “công trình” đang tiếp diễn. Chẳng hạn,  khám phá của Dr. Strangelove về hố cách biệt mìn bẫy, về oanh tạc cơ và tên lửa , những cách biệt trong thập kỷ 1950 được xem như dấu hiệu Hoa Kỳ còn thua kém Liên Bang Xô Viết  trên bình diện vũ khí và đang tìm mọi cách để bắt kịp. Ngày nay, với nguy cơ nguyên tử hũy diệt hành tinh, theo Strangelove, Hoa Kỳ một lần nữa vẫn hậu tiến, lần nầy trong việc đào các hầm trú ẩn dưới lòng đất nhằm đem lại cho một số nhỏ dân chúng khả năng sống còn.

Với động thái duy nhất và xuất sắc, Strangelove tạo dựng một “raison d’être,” hay lý do tồn tại mới, cho “guồng máy bất an ninh quốc gia”, nhờ đó, bảo đảm trò chơi sẽ tiếp tục ít nhiều dài lâu.

NHÀ NƯỚC BẤT AN NINH RA ĐỜI

Tuy nhiên, cũng phải đợi đến thập kỷ 1960, lúc Dr. Strangelove lần đầu tiên xuất hiện trong các rạp chiếu bóng, các nhà trí thức chính sách mới thực sự lộ diện. Báo chí lúc đó đã nhắc đến họ như những vị “trí thức hành động,”[5] gợi ý: đầy năng lượng và sẵn sàng nhập cuộc. Đó là những nhà tư tưởng, và cùng lúc các nhà hành động, thành viên của một cơ chế ngày một tăng trưởng gồm những vị, theo ngôn từ của Life Magazine vào năm 1967, đã chọn lựa tách khỏi tổ ấm thầm lặng và an toàn trong các khuông viên đại học và dấn thân vào các vấn đề phức tạp đang đối mặt Hoa Kỳ. Vấn đề phức tạp nhất là những gì phải làm ở Việt Nam — những thử thách cần đến một “trí thức hành động”.

Trong vòng một thế kỷ rưỡi vừa qua, Hoa Kỳ đã tham gia vào nhiều cuộc chiến vì nhiều lý do: tham lam, âu lo, hoảng hốt, giận dữ, tự vệ chính đáng… Trong nhiều trường hợp, một  trong những lý do nầy, đơn điệu hay hỗn hợp, đã thúc đẩy người Mỹ lâm chiến.

Việt Nam đánh dấu lần đầu tiên Hoa Kỳ đã gây chiến, ít ra trong một phần rất lớn, đáp ứng một số ý tưởng thực sự ngớ ngẩn, rõ ràng khởi động bởi các nhân vật đang giữ những chức vị quyền lực. Điều đáng ngạc nhiên hơn nữa, các vị trí-thức-hành-động vẫn khăng khăng tiếp tục cuộc chiến sau cả thời điểm cuộc chiến đã chứng tỏ, đối với các dân biểu và nghị sĩ Quốc Hội, thiếu tính chính đáng và đã sai lầm, do đó, sẽ dẫn đến thất bại.

Trong tác phẩm nổi tiếng “American Reckoning: The Vietnam War and Our National Identity, [Hoa Kỳ Tính Sổ: Cuộc Chiến Việt Nam và Diện Mạo của Chúng Ta], Christian G. Appy, một sử-gia-giáo-sư  thuộc các đại học Harvard, MIT, và Massachusetts, đã nhắc nhở các ý tưởng đó ngớ ngẩn hay ngu xuẩn như thế nào.

Trong Phần A, Appy trình diện McGeorge Bundy, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Thống John F. Kennedy, và sau đó, của Tổng Thống Lyndon Johnson. Bundy, sản phẩm của Groton và Yale, người đã lừng danh là vị khoa trưởng trẻ tuổi nhất của Phân Khoa Nghệ Thuật và Khoa Học, Đại Học Harvard, và đã được tấn phong giáo sư thực thụ mà chẳng cần lấy thêm học vị hậu đại học [graduate degree].

Trong Phần B, chúng ta thấy tên Walt Whitman Rostow, người kế nhiệm Bundy trong chức vụ cố vấn an ninh quốc gia. Rostow, cũng tốt nghiệp PhD tại Đại Học Yale. Sau Yale, Rostow đã theo học hai năm ở Oxford như một Rhodes scholar. Là giáo sư dạy môn lịch sử kinh tế tại MIT, Rostow đã được JFK chú ý với tác phẩm năm 1960 “Các Giai Đoạn Tăng Trưởng Kinh Tế: Một Tuyên Ngôn Phi Cộng Sản” [The Stages of Economic Growth: A Non-Communist Manifesto] — một lý thuyết  quan trọng về phát triển có tiềm năng áp dụng phổ quát. Kennedy đã đưa Rostow về Hoa Thịnh Đốn để thực nghiệm các lý thuyết canh tân [theories of “modernization”] của chính mình trong những nơi như Đông Nam Á.

Cuối cùng, trong Phần C, Appy thảo luận vắn tắt các đóng góp của Giáo Sư Samuel P. Huntington trong Chiến Tranh Việt Nam. Huntington cũng theo học Yale, trước khi lấy bằng PhD ở Harvard, và sau đó trở lại dạy tại đây, và trở thành một trong số các khoa học gia chính trị nổi tiếng của kỷ nguyên Hậu-Thế-Chiến-II.

Những gì cả ba tác giả cùng chia sẻ, ngoài vốn liếng kiến thức từ New Haven, là quyết tâm không lay chuyển về các chân lý chi phối Chiến Tranh Lạnh. Chân lý quan trọng nhất  là  Chủ Nghĩa Cộng Sản — một chủ thuyết thuần nhất do một nhóm ý thức hệ cuồng nhiệt nấp sau các bức tường Điện Cẩm Linh —  đã trở thành một đe dọa thực sự không những đối với Hoa Kỳ và đồng minh, mà ngay cả đối với chính ý niệm tự do. Lòng tin nầy đã đưa đến một hệ lụy tất yếu: hy vọng duy nhất để tránh tai họa là Hoa Kỳ phải quyết liệt đề kháng đe dọa Cộng Sản, lộ diện bất cứ ở đâu.

Một khi đã tin vào hai mệnh đề vừa kể, bạn cũng phải chấp nhận quyết định: Hoa Kỳ cần ngăn ngừa Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam, còn được biết dưới tên gọi Bắc Việt, thâu tóm Việt Nam Cộng Hòa, còn được biết như Nam Việt Nam, trở thành một quốc gia thống nhất. Nói một cách khác, Nam Việt Nam là chính nghĩa xứng đáng được bảo vệ bằng vũ lực.

Bundy, Rostow, và Huntington không những vững  tin ở luận cứ nầy, mà còn làm mọi cách để thuyết phục giới lãnh đạo Hoa Thịnh Đốn phải thực thi.

Tuy nhiên, ngay cả khi thúc đẩy phải “Hoa-Kỳ-Hóa” Chiến Tranh Việt Nam năm 1965, Bundy cũng đã nghi ngờ khả năng có thể chiến thắng. Nhưng cũng chẳng cần phải lo xa: dù cho nỗ lực đã chấm dứt trong thất bại, Bundy vẫn luôn khuyến cáo Johnson: “chính sách vẫn xứng đáng được theo đuổi.”[6]

Vì sao phải vậy? Bundy đã viết: “Tối thiểu, nó cũng sẽ làm dịu bớt lời buộc tội: chúng ta đã không làm tất cả những gì chúng ta đã có thể làm; và lời buộc tội nầy sẽ rất quan trọng trong nhiều xứ, kể cả ở Hoa Kỳ.”[7]

Nếu Hoa Kỳ cuối cùng đã “đánh mất Nam Việt Nam”, ít ra người Mỹ cũng đã phải hy sinh để tìm cách ngăn ngừa kết quả đó – và theo một luận lý đồi trụy nào đó, điều nầy, đối với viên khoa trưởng trẻ tuổi nhất Harvard, vẫn là một triển vọng chuộc tội. Điểm thiết yếu, Bundy tin, là phải ngăn ngừa người khác nhìn Hoa Kỳ như một “cọp giấy.” Tránh môt cuộc chiến, dù là một cuộc chiến đang thua, là đã hy sinh tính khả tín. Thay vì phải nghĩ: khi cam kết, chúng ta thực sự tin sẽ không có bất trắc đáng kể — đó là vấn đề cần tránh với bất cứ giá nào.

Rostow còn đi xa hơn ngay cả Bundy về tính diều hâu và hiếu chiến. Ngoài việc luôn chủ trương bỏ bom hoặc tận dụng hỏa lực để khống chế các nhà làm chính sách Bắc Việt, Rostow còn là cha đẻ của “Chương Trình Ấp Chiến Lược” [Strategic Hamlet Program]. Ý tưởng đòi hỏi phải khởi động chương trình chuyển dịch cưởng bách các thôn dân ra khỏi các làng mạc nông thôn, ra định cư trong những trại tập trung được quân sự hóa, nơi chính quyền Sài Gòn có thể cung cấp an ninh, giáo dục, các dịch vụ y tế, và trợ giúp nông nghiệp. Qua phương cách lấy lòng dân nầy, đánh bại phiến loạn Cộng Sản chắc chắn sẽ đến, với nhân dân Nam Việt Nam sẽ được sinh sống trong “kỷ nguyên tiêu thụ cao,”[8] nơi Rostow tin toàn thể nhân loại sẽ đạt đến.

Đó là lý thuyết. Thực tế lại khác xa. Ấp Chiến Lược, trong thực tế, không mấy khác các trại tập trung. Chính quyền Sài gòn quá nhu nhược, quá bất lực, và quá thối nát, để có thể thượng tồn. Thay vì được lòng dân, chương trình không những đã khiến người dân xa lánh, mà còn thường xuyên gây bất ổn xã hội cho dân chúng nông thôn. Một hệ lụy: Dân nông thôn ngày một mất gốc rễ, chen chúc trong những khu nhà ổ chuột trong các thị trấn Nam Việt Nam, không việc làm, chỉ cung cấp các loại dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của đội quân viễn chinh Hoa Kỳ ngày một gia tăng – chẳng dính dấp gì đến các hoạt động phát triển tự cung tự cấp.

Tuy vậy, ngay sau khi Chiến Tranh Việt Nam chấm dứt trong hoàn toàn thất bại, Rostow vẫn huyênh hoang tuyên bố lý thuyết của ông đã thành công. Rostow viết, “Chúng ta và người dân Đông Nam Á đã sử dụng các năm chiến tranh tốt đến độ không hề có hoảng loạn [khi Saigòn sụp đổ], lẽ ra đã phải xẩy ra, nếu trước đó chúng ta đã không can thiệp.”[9]

Thực vậy, trong toàn vùng, Rostow đã thăm dò và được biết nhiều tin tốt: tất cả đều nhờ chiến tranh của người Mỹ.

“Sau năm 1975, mậu dịch giữa các xứ khác trong vùng với Nhật và Tây Phương đã ngày một bành trướng sâu rộng. Ở Thái Lan, chúng ta đã chứng kiến sự trỗi dậy của một tầng lớp doanh nhân mới. Mã Lai Á và Singapore đã trở thành những quốc gia xuất khẩu nhiều loại biến chế phẩm. Chúng ta có thể thấy sự trỗi dậy của một tầng lớp dày đặc hơn các kỹ thuật gia ở Indonesia.”[10]

Như vậy, bạn đã thấy tất cả sự thật. Nếu bạn muốn biết 58.000 binh sĩ Mỹ [không kể hàng triệu người Việt Nam] đã chết vì lý tưởng nào, đó là để khuyến khích tinh thần kinh doanh, xuất khẩu, và sự trỗi dậy của các kỹ thuật gia ở những nơi khác trong vùng Đông Nam Á.

Christian G. Appy cũng đã mô tả Giáo Sư Huntington như một trí thức hành động, luôn có khả năng không bao giờ sai lầm và luôn thấy được các khía cạnh tích cực của tai họa. Theo cách nhìn của Huntington, các biện pháp cưỡng bách tập trung dân quê hay di dân ngay bên trong lãnh thổ Nam Việt Nam do người Mỹ đã sử dụng hỏa lực quá đáng và bừa bãi, cùng với sự thất bại trong chương trình Ấp Chiến Lược của Rostow, trong thực tế, đều là các tin tốt và đáng hoan nghênh. Huntington đã nhấn mạnh, các “tai họa đó” đã hứa hẹn mang lại cho người Mỹ nhiều lợi thế khi đối phó với “phiến quân Cộng Sản” Việt Nam.

Huntington viết: chìa khóa đưa đến chiến thắng cuối cùng là “thành thị hóa và canh tân hóa cưỡng bách, cần thiết để giúp đưa quốc gia liên hệ ra khỏi giai đoạn một phong trào cách mạng nông thôn có thể hy vọng gầy dựng đủ sức mạnh để lên cầm quyền”. Với biện pháp bạch hóa khu vực nông thôn, Hoa Kỳ có thể chiến thắng cuộc chiến trong các thành thị. “Các khu nhà ổ chuột, có vẻ kinh tởm đối với giới trung lưu Mỹ, thường khi trở thành một cánh cửa dẫn đến một cuộc sống mới tốt đẹp hơn cho dân quê nghèo nàn.”[11]

Ngôn từ có vẻ như một thứ thuốc khử trùng, nhưng điểm cần nói đã khá rõ ràng: những thử thách trong đời sống cùng cực ở thị thành, như một phép lạ, đã có thể biến đổi chính những người dân quê mùa đó thành những người thích kiếm tiền hơn là đầu quân làm cách mạng xã hội.

Sau nhiều thập kỷ nhìn lại, các luận điệu trơ trẻn trước đây của những nhân vật như Bundy, Rostow, và Huntington – các trí thức hành động hàng đầu – rõ ràng đã quá lố bịch. Họ đã xúc phạm trí thông minh của mọi người, khiến chúng ta băn khoăn tự hỏi bằng cách nào các phán đoán như thế hay những kẻ sử dụng các luận điệu đó đã có thể được xem như những trí thức nghiêm chỉnh.

Bằng cách nào trong Chiến Tranh Việt Nam, các ý tưởng xấu xa đã gây được ảnh hưởng đồi trụy đến thế? Tại sao các ý tưởng đó lại không hề bị thách thức? Tóm lại, tại sao các ý tưởng vô liêm sĩ như thế lại có thể đã quá khó để nhận thức đối với  người Mỹ?

TẠO DỰNG MỘT-VIỆT-NAM-THẾ-KỶ-XXI-CHIẾU-CHẬM

Các câu hỏi trên đây đã hẳn không phải chỉ có giá trị lịch sử. Đó cũng là các câu hỏi xác đáng khi ứng dụng vào dạng thức “các công trình trong thế kỷ XXI” của các bậc trí thức chính sách, chuyên trách bất an ninh quốc gia — loại “tư duy tắc trách”  chi phối các chính sách thiếu mạch lạc hơn cả loại đã được sử dụng để biện minh và tiến hành Chiến Tranh Việt Nam.

Những vị kế thừa của Bundy, Rostow, và Huntington cũng tin tưởng ở các chân lý đang ngự trị của họ. Chân lý cơ bản không gì khác hơn: một hiện tượng gọi là chủ nghĩa khủng bố hay chủ thuyết Hồi Giáo cực đoan , do một nhóm nhỏ ý thức hệ quá khích ẩn nấp bên trong các tổng hành dinh khác nhau trong Vùng Trung Đông Nới Rộng, đang là mối đe dọa thực sự, không những đối với Hoa Kỳ và các đồng minh, mà ngay cả đối với chính ý niệm tự do.

Sự quyết đoán nầy đã đến cùng lúc với hệ luận thiết yếu du nhập từ Chiến Tranh Lạnh: hy vọng duy nhất tránh khỏi kết quả tai họa nầy là Hoa Kỳ phải đề kháng mạnh mẽ đe-dọa-khủng-bố-Hồi-Giáo, lộ diện ở bất cứ đâu.

Ít ra kể từ biến cố 11-9-2001 và hai thập kỷ trước đó, các nhà làm chính sách  Hoa Kỳ đã chấp nhận hai mệnh đề vừa nói. Sở dĩ họ tin như vậy, một phần vì lẽ rất ít các vị “trí thức chính sách chuyên trách về an ninh quốc gia” đã bỏ công nghiên cứu và phân tích.

Thực vậy, các chuyên gia nầy giữ nhiệm vụ giúp tách biệt nhà nước khỏi phải bận tâm đến các vấn đề tương tự. Bạn cứ tin ở họ như các nhà trí thức chuyên lo tránh né các hoạt động tinh thần hay trí thức. Dù ít hay nhiều như Herman Kahn và Albert Wohlstetter [hay Dr. Strangelove], “trách nhiệm chính của họ là mãi mãi duy trì ‘công trình’ hiện hữu.”[12]

Thực tế công trình đã trở thành bất khả định hình có thể thực sự làm dễ dàng các nỗ lực như thế. Một khi đã được quần chúng biết như “Cuộc Chiến Chống Khủng Bố Toàn cầu” [Global War on Terror hay GWOT], nó đã biến thái để trở thành “Cuộc Chiến Không Tên” [The War with No Name]. Không mấy khác với ý kiến nổi danh của Tối Cao Pháp Viện về sách báo khiêu dâm: chúng ta không thể định nghĩa, chúng ta chỉ biết khi nhìn thấy; với ISIS, biểu hiện mới nhất đang chiếm trọn sự chú ý của Hoa Thịnh Đốn.

Tất cả những gì chúng ta có thể đoan chắc là “công trình không tên nầy” sẽ được tiếp tục bất tận. Nó đã trở thành một loại phim Việt-Nam-chiếu-chậm, kích thích rất ít suy tư chân chính liên quan đến diễn tiến cho đến nay hay triển vọng trong tương lai. Nếu có một “Brains Trust” thực sự đang hoạt động ở Hoa Thịnh Đốn, “ định chế nầy đang sinh hoạt tự động”[13]. Ngày nay, các hậu duệ thế hệ-thứ-hai và thứ-ba của RAND phía Tây Bắc Hoa Thịnh Đốn — Trung Tâm nầy, Viện kia – luôn bàn luận những đề tài tương đương với Ấp Chiến Lược, không một ý nghĩ được dành cho các ưu tư cơ bản hơn.

Điều gợi nhớ các nhận xét trên đây là sự trở lại Ngũ Giác Đài của Ashton Carter trong tư cách Bộ Trưởng Quốc Phòng thứ tư của Tổng Thống Obama. Cá nhân Carter cũng là một trí thức hành động cùng lò với Bundy, Rostow, và Huntington, đã theo đuổi một sự nghiệp luân lưu giữa các chức vụ ở Harvard và Hoa Thịnh Đốn. Carter cũng tốt nghiệp từ Yale và một Rhodes scholar, với cấp bằng PhD từ Oxford. Ashton là tác giả nhiều tác phẩm, làm báo, kể cả một “op-ed” viết chung với nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng William Perry năm 2006 kêu gọi một cuộc chiến phòng ngừa chống lại Bắc Triều Tiên. Vào thời điểm đó, Ashton đã can đảm công nhận: “hành động quân sự” đã hẳn luôn lôi kéo theo nhiều bất trắc. Nhưng bất trắc do bất hành động liên tục trước đe dọa của Bắc Triều Tiên đối với Hoa Kỳ còn có thể lớn lao hơn”[14] – loại lý luận lâu lâu được phô trương bởi Herman Kahn và Albert Wohlstetter.

Sau khi nhận chức ở Ngũ Giác Đài, Carter cũng đã chịu khó gửi đi ấn tượng mình cũng là một nhà tư tưởng lớn — như biểu hiện bởi một tiêu đề nhiệt tình trên Wall Street Journal: “Ash Carter Đang Tìm Kiếm Những Cách Nhìn Tươi Trẻ đối với Các Đe Dọa Toàn Cầu” [Ash Carter Seeks Fresh Eyes on Global Threats]. Đã hẳn, luôn có nhiều đe dọa toàn cầu và đương nhiên Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ luôn có sứ mệnh phải đối phó với từng đe dọa. Bộ trưởng tiền nhiệm, Chuck Hagel, [không có bằng cấp Yale] là một quan chức cần cù dè dặt. Ngược lại, Carter đã tỏ rõ ý muốn khuấy động mọi chuyện.

Chẳng hạn, ngày thứ hai tại chức, Ashton Carter đã có bửa tiệc tối với Kenneth Pollack, Michael O’Hanlon, và Robert Kagan, các trí thức bất an ninh quốc gia hàng đầu ở Hoa Thịnh Đốn. Tất cả đều là nhân viên của Brooking Institution, cả ba cùng chia sẻ thành tích ủng hộ cuộc chiến Iraq từ năm 2003 và kêu gọi tăng cường nỗ lực chống đối ISIS ngày nay. Cầm chắc chiều hướng căn bản của chính sách của Hoa Kỳ là lành mạnh – chúng ta chỉ cần cố gắng nhiều hơn nữa – còn ai tốt hơn Pollack, O’Hanlon, và Kagan để tham khảo?

Phải chăng Carter hy vọng có thể tìm được một cái nhìn bên trong mới mẻ từ các bạn cùng dự tiệc tối? Hay Carter muốn thông báo cho các bạn trong mạng lưới các đồng môn, các đàn anh, và các nhân vật xuất sắc: dứới quyền lãnh đạo của ông, các chân lý cơ bản hiện hữu về “bất an ninh quốc gia” vẫn luôn bất khả xâm phạm?

Xin bạn tự tìm lấy câu trả lời.

Sau đó không lâu, chuyến công du hải ngoại đầu tiên đã đem lại một cơ hội khác cho Carter gửi tín hiệu về các ý định của riêng mình. Ở Kuwait, tân bộ trưởng đã triệu tập một hội đồng chiến tranh gồm các viên chức quân sự và dân sự cao cấp để kiểm điểm chiến dịch chống ISIS. Trong một thay đổi can đảm bên ngoài chuẫn mực, tân bộ trưởng đã cấm sử dụng Power Point trong các phiên họp phổ biến các chỉ thị. Một tham dự viên đã mô tả sự kiện kế tiếp như một “hội thảo hàn lâm dài 5 tiếng đồng hồ” – ngay thẳng và tự do. Một quan chức cao cấp Ngũ Giác Đài kinh ngạc ghi nhận: “Đây là một mẫu mực đảo ngược. Carter đã thách thức các viên chức dưới quyền phải nhìn  cùng vấn đề  một cách khác.”

Đã hẳn, Carter đã có thể nói, “Chúng ta hãy xét một vấn đề khác.” Tuy nhiên, đây là điều quá cấp tiến để cứu xét – không mấy khác trong thập kỷ 1960 một gợi ý cần tái thẩm định các giả thiết Hoa Kỳ phải can thiệp ở Việt Nam.

Trong mọi trường hợp – và không ai ngạc nhiên – lối nhìn khác đã không đem lại một kết luận khác. Thay vì đảo ngược phương thức, Carter đã tái xác nhận và loan báo: phương thức tiếp cận ISIS hiện hữu là lành mạnh. Nó chỉ cần được sửa đổi chút ít – kết quả chỉ đem lại cho Pollack, O’Hanlon, và Kagan một chút gì để viết, trong khi tiếp tục trò chuyện thay vì bàn luận nghiêm chỉnh.

Phải chăng chúng ta thật sự cần trò chuyện? Phải chăng trò chuyện giúp cải thiện chính sách của Hoa Kỳ? Nếu các vị trí thức chính sách, quốc phòng, hành động, đều giữ im lặng, liệu Hoa Kỳ có thể sẽ thiếu an ninh hơn?

Bạn thử đề nghị một thử nghiệm. Cho họ tạm nghỉ việc ít lâu. Gửi họ trở lại Yale để tái huấn luyện. Đợi xem chúng ta có thể có đủ khả năng tiếp tục sinh hoạt bình thường trong thời gian họ vắng mặt một hay hai tháng.

Trong lúc chờ đợi, thử mời các cựu quân nhân từ các Cuộc Chiến Iraq và Afghanistan giúp tìm kiếm phương cách tốt nhất để đối phó với ISIS. Thử trao cho các thầy giáo dạy môn xã hội học cấp trung học trách nhiệm phụ trách các trang “op-ed” của các nhật báo lớn. Thử mời các sinh viên trong Mười Trường Lớn [Big Ten] tham dự các “talk shows” ngày chủ nhật. Đố ai biết có thể thu thập được đôi chút  khôn ngoan đời thường?

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

21-3-2015

[1] Policy intellectuals

[2] National insecurity

[3] defense intellectuals

[4] maintaining “the delicate balance of terror.”

[5] action intellectuals

[6] Yet even as he was urging the “Americanization” of the Vietnam War in 1965, Bundy already entertained doubts about whether it was winnable.  But not to worry:  even if the effort ended in failure, he counseled President Johnson, “the policy will be worth it.”

[7] How so?  “At a minimum,” Bundy wrote, “it will damp down the charge that we did not do all that we could have done, and this charge will be important in many countries, including our own.”

[8] age of high mass consumption

[9] “We and the Southeast Asians,” he wrote, had used the war years “so well that there wasn’t the panic [when Saigon fell] that there would have been if we had failed to intervene.”

[10] ”Since 1975 there has been a general expansion of trade by the other countries of that region with Japan and the West.  In Thailand we have seen the rise of a new class of entrepreneurs.  Malaysia and Singapore have become countries of diverse manufactured exports.  We can see the emergence of a much thicker layer of technocrats in Indonesia.”

[11] The key to final victory was “forced-draft urbanization and modernization which rapidly brings the country in question out of the phase in which a rural revolutionary movement can hope to generate sufficient strength to come to power.”  By emptying out the countryside, the U.S. could win the war in the cities.  “The urban slum, which seems so horrible to middle-class Americans, often becomes for the poor peasant a gateway to a new and better way of life.”

[12] …their function is to perpetuate the ongoing enterprise.

[13] …it operates on autopilot.

[14]Military action “undoubtedly carries risk,” he bravely acknowledged at the time. “But the risk of continuing inaction in the face of North Korea’s race to threaten this country would be greater.”

 

 

 

 

 

Advertisements