TẬP ĐOÀN XÍ NGHIỆP NĂNG LƯỢNG VÀ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Sự sụp đổ thảm hại trong giá dầu lửa xuống còn trên dưới 60 mỹ kim mỗi thùng đã xẩy ra vì nhiều lý do: số cầu ngày một chậm lại vì suy thoái kinh tế toàn cầu; sản xuất nhiên liệu đá phiến quá lạm trong các khu vực “shale fields” ở Hoa Kỳ; quyết định duy trì ngạch số sản xuất hiện nay của Saudi Arabia và các xứ thành viên OPEC khác ở Trung Đông [để trừng phạt các nhà sản xuất với giá thành cao ở Hoa Kỳ và nhiều nơi khác]; và giá trị tăng cao của đồng mỹ kim so với đơn vị tiền tệ trong nhiều xứ .

Tuy nhiên, một lý do không được bàn tới và có thể là lý do quan trọng nhất: sự sụp đổ hoàn toàn của “mô hình sản xuất tối đa”của tập đoàn các đại công ty năng lượng.

Mãi đến mùa thu năm 2014, khi giá cả dầu khí ngày một sụt giảm, các đại công ty năng lượng vẫn luôn hoạt động tối đa, và số dầu khí sản xuất hàng ngày lúc một lên cao. Đã hẳn, họ hành động như vậy một phần để trục lợi khi giá dầu vẫn còn ở mức cao. Trong sáu năm qua, giá dầu-thô-chuẩn-quốc-tế “Brent crude” thường ở mức 100 USD hay cao hơn. Và tập đoàn các đại công ty năng lượng vẫn luôn hoạt động theo mô hình kinh doanh dựa trên giả thiết: số cầu nhiên liệu hoá thạch ngày một gia tăng, dù phí tổn sản xuất và tinh lọc đắt đến bao nhiêu chăng nữa. Điều nầy có nghĩa: không một trữ lượng hoá thạch hay một nguồn cung tiềm năng nào — dù khó tiếp cận hay khó khai thác, dù ngoài biển xa hay vùi sâu dưới lòng đất, dù che lấp bởi nhiều địa tầng hay lớp đá — cũng vẫn không được xem như không thể khai thác trong cuộc tranh đua cuồng nhiệt gia tăng sản ngạch và doanh lợi.

Trong những năm gần đây, “chiến lược tối-đa-hóa sản ngạch” cũng đã đem lại mức doanh lợi lịch sử cho các đại công ty năng lượng. Exxon, xí nghiệp năng lượng có trụ sở ở Hoa Kỳ, đã có số thu lên đến 32,6 tỉ riêng trong năm 2013, nhiều hơn bất cứ công ty nào khác ở Mỹ, ngoại trừ Apple. Số thu nhập của Chevron, xí nghiệp năng lượng lớn thứ hai, cũng đã đạt mức 21,4 tỉ trong cùng năm. Các công ty quốc doanh như Saudi Aramco và Rosneft của Nga cũng đã ghi nhận những số doanh thu khổng lồ .

Nhưng tình trạng lại thay đổi chỉ trong vòng vài tháng. Với số cầu ngưng trệ và sản xuất gia tăng quá nhanh hiện nay, ngay chính chiến lược đã đem lại số doanh lợi vượt kỷ lục cũng đã bất thần đánh mất tính thích ứng.

Để giúp thẩm định tình trạng khó khăn của kỹ nghệ năng lượng, chúng ta cần bước lùi một thập kỷ trở lại năm 2005, khi “chiến lược sản ngạch tối đa” lần đầu tiên được chấp thuận. Vào lúc đó, tập đoàn các đại công ty năng lượng đang đối diện một thời vận hết sức căng thẳng. Một đằng, trữ lượng hiện hữu trong nhiều khu vực đang cạn kiệt nhanh chóng, do đó, các chuyên gia hàng đầu đã phải tiên đoán “sản xuất năng lượng toàn cầu sẽ đạt đỉnh điểm” bất cứ lúc nào”, và sau đó sẽ liên tục giảm sụt. Một mặt khác, tỉ suất tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở Trung Quốc, Ấn Độ, và nhiều quốc gia đang phát triển, sẽ đẩy số cầu nhiên liệu hoá thach lên tận trời xanh. Trong cùng thời gian, âu lo về thay đổi khí hậu cũng đã bắt đầu ngày một lan tràn, đe doạ tương lai của tập đoàn các đại công ty năng lượng và gây áp lực ngày một gia tăng cần phải đầu tư ngày một nhiều hơn vào các hình thức năng lượng thay thế .

THẾ GIỚI MỚI CAN ĐẢM VÀ DẦU KHÓ KHAI THÁC

Không ai nhạy bén với thời cơ lúc đó bằng David O’Reilly, chủ tịch và CEO công ty Chevron. O’Reilly đã nói trước một phiên họp các quản trị viên trong tháng 2-2014: “Kỹ nghệ của chúng ta đang ở một điểm ngoặt chiến lược, một vị trí duy nhất trong lịch sử. Yếu tố rõ ràng nhất trong phương trình nầy”, ông đã giải thích trong bài nói chuyện các quan sát viên gọi là ‘Thế Giới Mới Can Đảm’ của ông, “là so với số cầu, số cung dầu lửa không còn dồi dào như trước”. Mặc dù Trung Quốc đã thu tóm hầu hết số cung dầu lửa, than đá, và hơi đốt thiên nhiên, trong một bách phân lớn lao, O’Reilly cũng đã nhắn gửi một thông điệp cho Trung Quốc và thế giới: “Kỷ nguyên tiếp cận dễ dàng với năng lượng đang cáo chung.“

O’Reilly giải thích tiếp, để tiếp tục phồn vinh trong một môi trường như thế, kỹ nghệ dầu lửa có thể phải chấp nhận một chiến lược mới. Tập đoàn có thể phải nhìn ra xa bên ngoài các “nguồn năng lượng dễ tiếp cận,” cơ bản của kỹ nghệ trước đây, và phải dồn khả năng đầu tư vào kỹ thuật khai thác “dầu phi quy ước” [unconventional oil], hay nói theo Michael Klare, “dầu khó khai thác” [tough oil]. Đó là các tài nguyên hay trữ lượng xa bờ hay ngoài biển sâu, trong các môi trường đầy bất trắc như vùng Arctic Cực Bắc, trong các xứ chính trị bất ổn như Iraq, hay dầu đá phiến dưới nhiều địa tầng đá cứng. O’Reilly nhấn mạnh, các nguồn cung tương lai ngày một nhiều cần phải tìm kiếm đều tọa lạc trong những vùng biển cực sâu và những khu vực xa xôi, và các dự án khai triển đòi hỏi kỹ thuật tân tiến và hàng nghìn tỉ mỹ kim đầu tư vào hạ tầng cơ sở mới.”

Đối với các lãnh đạo hàng đầu như O’Reilly, tập đoàn các đại công ty năng lượng hình như rõ ràng đã không còn sự lựa chọn nào khác. Họ sẽ phải đầu tư hàng nghìn tỉ mỹ kim vào các dự án “dầu khó khai thác,” hay sẽ phải nhường chỗ cho các nguồn năng lượng khác, làm khô cạn dòng lợi nhuận của chính mình. Thực vậy, phí tổn khai thác dầu phi quy ước có thể lớn hơn rất nhiều so với các trữ lượng dầu quy ước dễ tiếp cận [chưa nói gì đến nguy cơ cho môi trường], nhưng đó là vấn đề của thế giới nói chung, không phải của riêng họ..
O’Reilly tuyên bố: “Trên bình diện tập thể, chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với thử thách nầy. Kỹ nghệ đang đầu tư đáng kể để xây dựng khả năng phụ trội cần thiết cho công tác sản xuất trong tương lai.”

Trên căn bản đó, Chevron, Exxon, Royal Dutch Shell, và nhiều xí nghiệp quan trọng khác, cũng đã phải dành nhiều tài nguyên khổng lồ cho cuộc chạy đua khai thác hơi đốt thiên nhiên và dầu phi quy ước, như Michael Klare đã mô tả trong cuốn “The Race for What’s Left” [Cuộc Đua Giành Những Gì Còn Sót Lại]. Một số khác, kể cả Chevron và Shell, cũng đã bắt đầu khoan dầu ngoài biển sâu trong Vịnh Mexico. Một vài công ty khác, kể cả Exxon, cũng đã bắt dầu hoạt động trong Vùng Arctic Bắc Cực và Đông Siberia. Và hầu như tất cả đều đã khởi động khai thác trữ lượng dầu đá phiến của Hoa Kỳ — sử dụng kỹ thuật “hydro-fracking”.

Chỉ có một quan chức hàng đầu nghi ngờ “cách tiếp cận khai thác dầu tối đa” [drill-baby-drill approach]. Đó là John Browne — “chief executive” của BP.

Hiểu rõ khoa học biến đổi khí hậu đã quá thuyết phục để có thể chối bỏ, Browne lập luận: tập đoàn các đại công ty năng lượng cần phải nhìn ra “bên ngoài dầu lửa” và dồn tài nguyên vào các nguồn năng lượng thay thế. Ngay từ năm 2002, Browne đã tuyên bố: “Biến đổi khí hậu là đề tài và nguyên nhân của nhiều vấn đề cơ bản trong quan hệ giữa các công ty và xã hội nói chung, và giữa thế hệ nầy và các thế hệ kế tiếp.”

Theo Browne, đối với BP, điều nầy có nghĩa: cần phải phát triển năng lượng gió, năng lượng mặt trời, và nhiên liệu sinh học.

Tuy nhiên, vào năm 2007, Browne đã phải rời khỏi BP, đúng lúc mô hình tối đa hoá ngạch số sản xuất khởi động; và người kế nhiệm, Tony Hayward, lập tức từ bỏ “cách tiếp cận các nguồn năng lượng bên ngoài dầu lửa”.

Năm 2009, Hayward đã tuyên bố: “Vài người có thể đặt câu hỏi, phải chăng phần lớn số gia tăng [trong năng lượng toàn cầu] sẽ phải đến từ nhiên liệu hoá thạch? Nhưng ở đây, vần đề sinh tử là chúng ta phải đối mặt với thực tế khắc nghiệt [sự hiện diện của năng lượng]. Dù cho các nhiên liệu tái tạo ngày một được nhấn mạnh nhiều hơn, “chúng ta vẫn thấy trước 80% năng lượng sẽ còn phải đến từ nhiên liệu hoá thạch trong năm 2030.”

Dưới quyền lãnh đạo của Hayward, BP đã chấm dứt hầu hết các dự án nghiên cứu các hình thức năng lượng thay thế và đã tái xác quyết tiếp tục sản xuất dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên. Cũng như nhiều xí nghiệp khổng lồ khác, BP đã khởi đầu khai thác dầu trong vùng Arctic Bắc Cực, các vùng nước sâu trong Vịnh Mexico, và dầu tar-sands ở Canada — một hình thức năng lượng dơ bẩn khó khai thác khác.

Trong nỗ lực sớm trở thành công ty sản xuất hàng đầu trong Vùng Vịnh Mexico, BP đã vội vã thăm dò các trữ lượng ngoài biển sâu xa bờ mang tên Macondo — đề án đã khởi động các biến cố Deepwater Horizon vào tháng 4-2010 và tai nạn loang dầu tai họa sau đó.

VỰC THẲM GIÁ DẦU VÀ CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG TƯƠNG LAI

Vào cuối thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, Tập Đoàn Năng Lượng đã thống nhất trong cách tiếp cận mới “tối đa hoá sản xuất”, “drill-baby-drill approach.” Tập đoàn đã chấp nhận các ngân khoản đầu tư cần thiết, hoàn thiện kỹ thuật mới trong quá trình khai thác dầu phi quy ước, và quả thật đã vượt qua hay chiến thắng “đà suy giảm của các trữ lượng dầu dễ khai thác”. Trong những năm nầy, Tập Đoàn đã gia tăng sản ngạch bằng nhiều phương cách táo bạo, qua quá trình mang vào khai thác ngày một nhiều các trữ lượng dầu phi quy ước .

Theo Cơ Quan Thông Tin Năng Lượng EIA thuộc Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ, sản lượng dầu trên thế giới đã gia tăng từ 85,1 triệu thùng mỗi ngày trong năm 2005 lên 92,9 triệu thùng năm 2014, mặc dù đà sụt giảm liên tục trong nhiều trữ lượng kế thừa ở Bắc Mỹ và Trung Đông. Với thành tích đầu tư của kỹ nghệ dầu vào các kỹ thuật khoan dầu mới giúp đánh bại bóng ma khan-hiếm-dầu, CEO mới nhất của BP, Bob Dudley, trong năm trước, đã quả quyết với thế giới: “Tập Đoàn Dầu Khí đã đến nhiều nơi và điều duy nhất đã lên đỉnh điểm là ‘lý thuyết dầu đỉnh điểm’.”

Đã hẵn, điều đó chỉ xẩy ra ngay trước khi giá dầu rơi xuống vực thẳm, cùng lúc đã nhen nhúm lòng nghi ngờ sự khôn ngoan của quyết định tiếp tục bơm dầu đến mức kỷ lục. Chiến lược tối đa hoá sản xuất của O’Reilly và các CEO thân hữu, đã cơ sở trên ba giả thiết căn bản: (1) từ năm nầy qua năm khác, số cầu luôn gia tăng; (2) số cầu luôn gia tăng sẽ bảo đảm mức giá cao, đủ để biện minh các số đầu tư khổng lồ vào dầu phi quy ước một cách quá tốn kém; và (3) âu lo biến đổi khí hậu sẽ không làm thay đổi phương trình một cách đáng kể.

Ngày nay, cả ba giả thiết đều đã chứng tỏ hoàn toàn sai lầm.

Số cầu sẽ tiếp tục gia tăng — điều đó không ai có thể phủ nhận, trước sự tăng trưởng chờ đợi trong lợi tức của toàn thế giới và dân số gia tăng — nhưng không cùng nhịp độ Tập Đoàn đã quen chờ đợi.

Tuy vậy, chúng ta cũng không nên quên sự kiện: Năm 2005, trong khi nhiều số đầu tư lớn lao vào dầu phi quy ước đang diễn ra, EIA đã ước tính số cầu toàn cầu có thể lên đến 103,2 triệu thùng vào năm 2015; ngày nay, con số đã được điều chỉnh xuống còn 93,1 triệu thùng.

Số 10 triệu thùng sụt giảm mỗi ngày trong số tiêu thụ chờ đợi hình như có thể không mấy quan trọng so với tổng số, nhưng nên nhớ con số nhiều tỉ USD đầu tư vào dầu khó khai thác đã cơ sở trên lòng tin: tất cả số cầu gia tăng chờ đợi sẽ được thể hiện, do đó, có thể đưa giá dầu lên mức cao cần thiết để bù vào phí tổn khai thác gia tăng. Tuy nhiên, với 10 triệu thùng dầu trong số cầu chờ đợi đã tan biến, giá dầu, vì vậy, đã sụt giảm.

Trái với sự mong đợi trước đây, các chỉ dấu hiện nay đã cho thấy số tiêu thụ sẽ tiếp tục sụt giảm trong nhiều năm sắp tới. Trong một thẩm định các khuynh hướng tương lai được công bố trong tháng 2-2015, EIA đã báo cáo: do điều kiện kinh tế toàn cầu ngày một xấu đi, nhiều xứ sẽ trải nghiệm hoặc một tỉ suất tăng trưởng chậm lại hay một giảm thiểu thực sự trong số dầu tiêu thụ. Chẳng hạn, trong khi vẫn còn nhích lên đôi chút, số dầu tiêu thụ bởi Trunq Quốc được chờ đợi sẽ chỉ gia tăng ở mức 0,3 triệu thùng mỗi ngày trong năm nay và năm tới — kém xa con số 0,5 triệu thùng gia tăng trong năm 2011 và 2012, và một triệu thùng gia tăng trong năm 2010. Trong lúc đó, ở Âu châu và ở Nhật, số tiêu thụ, trong thực tế, được chờ đợi sẽ sụt giảm trong hai năm sắp tới.

Và theo IEA, thuộc Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế [Organization for Economic Cooperation and Development — câu lạc bộ các quốc gia giàu và kỹ nghệ hoá], đà chậm lại trong số cung có thể kéo dài quá năm 2016. Trong lúc giá dầu thấp hơn có thể kích thích tiêu thụ gia tăng ở Hoa Kỳ và một số ít các quốc gia khác, IEA đã tiên đoán, hầu hết các quốc gia sẽ trải nghiệm không phải một sự gia tăng như thế, và vì vậy, “sự suy sụp giá cả gần đây được chờ đợi chỉ có một tác động không đáng kể trên số gia tăng trong số cầu toàn cầu trong những năm còn lại của thập kỷ.”

Theo những phân tích trên đây, IEA tin, giá dầu lửa sẽ chỉ ở mức trung bình khoảng 55 USD một thùng trong năm 2015, và sẽ không thể trở lại mức 73 USD mỗi thùng mãi cho đến năm 2020. Những con số trên đây đang xuống quá thấp, dưới mức cần thiết đủ để biện minh tiếp tục đầu tư và khai thác các giải pháp chọn lựa dầu phi quy ước, như tar sands-Canada, dầu Arctic Bắc Cực, và nhiều dự án “shale oil.”

Thực vậy, thông tin phổ biến trong các giới tài chánh hiện nay đã cho biết nhiều phúc trình về các dự án năng lượng khổng lồ đã bị ngưng chỉ hay huỷ bỏ. Chẳng hạn, Shell, trong tháng 1-2015, loan báo đã huỷ bỏ các kế hoạch nhà máy hoá dầu [petrochemical plant] trị giá 6,5 tỉ USD ở Qatar, với lý do “tác động của tình hình kinh tế đối với kỹ nghệ năng lượng hiện nay.” Cùng lúc, Chevron cũng đã dẹp bỏ kế hoạch khoan dầu trong vùng Arctic Bắc Cực trong Biển Beaufort, trong khi Statoil của Na Uy cũng đã quay lưng lại với dự án khoan dầu ở Greenland.

Ngoài ra, một yếu tố khác cũng đang đe doạ tình hình kinh doanh của Tập Đoàn Dầu Khí: biến đổi khí hậu không còn có thể xem thường trong mô hình doanh thương năng lượng tương lai. Áp lực đối phó với một hiện tượng có thể tàn phá văn minh nhân loại ngày một gia tăng nghiêm trọng. Mặc dù Tập Đoàn Năng Lượng trong nhiều năm nay đã chi tiêu những món tiền khổng lồ trong chiến dịch gieo rắc nghi ngờ đối với khoa học biến đổi khí hậu, dân chúng toàn cầu ngày một đông đảo đã bắt đầu âu lo về các hậu quả — thời tiết lúc một khắc nghiệt, bảo tố cực đoan, hạn hán bất thường, mực nước biển dâng cao, và nhiều tai ương tương tự — và đã đòi hỏi nhà cầm quyền phải hành động để kiềm chế tầm mức đe dọa.

Âu châu đã chấp nhận các kế hoạch hạ thấp 20% “khí thải carbon” từ 1990 đến 2020 và thành đạt những tỉ suất giảm sụt lớn hơn trong những thập kỷ sau đó. Trung Quốc, tuy trình độ lệ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch vẫn còn gia tăng, ít ra cuối cùng cũng đã cam kết mức trần gia tăng khí thải carbon trước năm 2030, và gia tăng bách phân các nguồn năng lượng tái tạo lên 20% tổng số năng lượng sử dụng vào lúc đó. Ở Hoa Kỳ, chuẫn mực hiệu năng trong việc sử dụng nhiên liệu dành cho xe hơi ngày một khắt khe hơn, cũng đã đòi hỏi các loại xe bán ra thị trường vào năm 2025 phải đạt hiệu năng trung bình 54,5 miles mỗi gallon, giảm thiểu số cầu xăng nhớt khoảng 2,2 triệu barrels mỗi ngày.

[Đã hẳn, Quốc Hội do đảng Cộng Hoà chiếm đa số — một đảng đang lệ thuộc nhiều vào vai trò yểm trợ tài chánh của Tập Đoàn Năng Lượng và vận động hành lang — sẽ làm mọi cách có thể để triệt tiêu mọi hạn chế tiệu thụ nhiên liệu hoá thạch].

Tuy vậy, mặc dù phản ứng đối với nguy cơ biến đổi khí hậu cho đến nay bất cập đến đâu, đề tài cũng đã và đang hiện diện trên bản đồ năng lượng, và tác động đối với chính sách trên toàn cầu chỉ có thể ngày một gia tăng. Dù Tập Đoàn Năng Lượng đã sẵn sàng chấp nhận hay chưa, năng lượng thay thế hiện nay cũng đang hiện diện trên nghị trình toàn cầu và sẽ không thể đảo ngược.

Nhắc lại đại suy thoái kinh tế năm 2008, giám đốc điều hành IEA, Maria van der Hoeven, trong tháng 2-2015, đã cho biết: “Tình hình thế giới hiện nay hoàn toàn khác với thời điểm giá dầu sụp đổ lần trước. Các nền kinh tế đang lên, nhất là Trung Quốc, đã bước vào giai đoạn phát triển không lệ thuộc quá nhiều vào năng lượng như trước đây…Quan trọng hơn nữa, âu lo về biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến chính sách năng lượng, và vì vậy, năng lượng có thể tái tạo sẽ ngày một lan tràn.”

Đã hẳn, kỹ nghệ năng lượng đang hy vọng: sự sụp đổ của giá dầu hiện nay và mô hình tối đa hoá sản xuất hiện đang suy sụp sẽ sớm tự đảo ngược, cùng với mức giá 100 USD một barrel.

Trong mọi trường hợp, trở lại tình trạng bình thường trước đây cũng chỉ là một hy vọng hảo huyền, mang tính ảo tưởng.

Như van der Hoeven đã gợi ý: thế giới đã đổi thay trong nhiều phương cách đầy ý nghĩa, trong quá trình xoá bỏ chính nền móng cơ sở của chiến lược tối đa hoá sản xuất của Tập Đoàn Các Đại Công Ty Năng Lượng. Tập Đoàn sẽ phải hoặc thích ứng với hoàn cảnh mới, cắt xén bớt các nghiệp vụ, hoặc phải đối diện với các thách thức thay thế bởi các xí nghiệp thức thời và tích cực tháo vát hơn.

Nguyễn Trường
Irvine, California, U.S.A.
03-4-2015

[1] production-maximizing business model

[2] output-maximizing strategy

[3] an imminent “peak” in global oil production

[4]“Our industry is at a strategic inflection point, a unique place in our history,” David O’Reilly told a gathering of oil executives that February. “The most visible element of this new equation,” he explained in what some observers dubbed his “Brave New World” address, “is that relative to demand, oil is no longer in plentiful supply.” Even though China was sucking up oil, coal, and natural gas supplies at a staggering rate, he had a message for that country and the world: “The era of easy access to energy is over.”

[5] “Collectively, we are stepping up to this challenge,” O’Reilly declared. “The industry is making significant investments to build additional capacity for future production.”

[6] Big Energy would have to look “beyond petroleum” and put major resources into alternative sources of supply. “Climate change is an issue which raises fundamental questions about the relationship between companies and society as a whole, and between one generation and the next,”John Browne had declared as early as 2002“

[7] “Some may question whether so much of the [world’s energy] growth needs to come from fossil fuels,”Tony Hayward  said in 2009. “But here it is vital that we face up to the harsh reality [of energy availability].” Despite the growing emphasis on renewables, “we still foresee 80% of energy coming from fossil fuels in 2030.”

[8] Bob Dudley, assured the world only a year ago that Big Oil was going places and the only thing that had “peaked” was “the theory of peak oil.”

[9] “It is a different world than it was the last time we saw an oil-price plunge,” said IEA executive director Maria van der Hoeven in February, referring to the 2008 economic meltdown. “Emerging economies, notably China, have entered less oil-intensive stages of development… On top of this, concerns about climate change are influencing energy policies [and so] renewables are increasingly pervasive.”

[10] As van der Hoeven suggests, the world has changed in significant ways, in the process obliterating the very foundations on which Big Oil’s production-maximizing strategy rested. The oil giants will either have to adapt to new circumstances, while scaling back their operations, or face takeover challenges from more nimble and aggressive firms.

Advertisements