NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO VÀ CÁCH MẠNG XANH

Các sử gia tương lai có thể nhìn lại năm 2015 như thời điểm năng lượng tái tạo khởi động quá trình thăng tiến, khi nhân loại quyết định bắt đầu tách dần khỏi tình trạng lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Đã hẳn, các nhiên liệu như dầu lửa, hơi đốt thiên nhiên, và than đá, sẽ tiếp tục địa vị áp đảo trên bình diện năng lượng trong nhiều năm sắp tới, do đó, sẽ làm gia tăng hàng tỉ tấn khí thải các-bon giữ nhiệt trong bầu khí quyển.

Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên một dịch chuyển rõ rệt qua các nguồn năng lượng tái tạo đang diễn tiến ngày một tăng tốc. Nếu bền lâu, khuynh hướng hàm chứa nhiều tác động sâu rộng lên kinh tế thế giới, không mấy khác quá trình chuyển dịch từ củi gỗ qua than đá hay từ than đá qua dầu lửa trong các thế kỷ trước đây. Cố nhiên, tăng trưởng kinh tế toàn cầu từ lâu đã ngày một lệ thuộc nhiều hơn vào số cung nhiên liệu hóa thạch, nhất là dầu lửa.

Bắt đầu với Hoa Kỳ, nhiều xứ đã thành công trong quá trình khai thác và sử dụng dầu lửa như phương cách chiếm giữ quyền lực kinh tế và chính trị lớn lao, trong khi nhiều xứ khác với số dự trữ dầu khổng lồ có thể khai thác và bán trên thị trường, như Kuwait và Saudi Arabia, đã trở thành vô cùng giàu có. Các đại công ty dầu cũng đã vun quén vai trò then chốt của dầu lửa để thủ đắc những doanh lợi kếch sù, tích lũy những số tài sản lớn lao, và ngày một nắm nhiều quyền lực.

Vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà nước giàu trữ lượng dầu lửa và các đại công ty năng lượng vẫn luôn tiếp tục giấc mơ một tương lai trong đó họ sẽ giữ vai trò áp đảo.

Tháng 4-2013,  Bộ Trưởng Dầu Lửa và Tài Nguyên Khoáng Sản Saudi Arabia, Ali Al-Naimi, đã tuyên bố: “Nhiên liệu hóa thạch là nguồn năng lượng lâu dài nhất của chúng ta. Đó là nguồn lực chi phối phát triển kinh tế ở Hoa Kỳ, Saudi Arabia, và phần đông thế giới đã và đang phát triển, và có khả năng hỗ trợ chúng ta lâu dài trong tương lai.”[1]

Tuy nhiên, các biến chuyển mới, kể cả tiến triển đáng ngạc nhiên trong các cơ sở năng lượng gió và năng lượng mặt trời, đã có nhiều dấu hiệu cho thấy vai trò khống chế của dầu lửa không còn dài lâu như thường tưởng. Nhà phân tích năng lượng Nick Butler gần đây đã viết trong Financial Times: “kỹ thuật năng lượng mặt trời đang ngày một phổ cập nhanh chóng. Bằng chứng ngày một rõ ràng vài thay đổi cơ bản đã diễn ra và qua thời gian sẽ gieo rắc hoài nghi đối với các quyết định đầu tư vào các hệ thống năng lượng cũ.”[2]

Thời gian chuyển tiếp bình thường từ hệ thống năng lượng nầy qua hệ thống năng lượng khác cũng phải mất nhiều thập kỷ. Theo Vaclav Smil, thuộc Đại Học Manitoba, thời gian chuyển tiếp từ gỗ qua than đá và từ than đá qua dầu lửa mỗi đợt cũng đã kéo dài khoảng 50 năm. Vaclav Smil đã đưa ra luận cứ: cùng một khoảng thời gian tương tự cũng sẽ cần thiết để hoàn tất quá trình chuyển tiếp qua các năng lượng tái tạo, có thể đẩy lùi kỷ nguyên năng lượng xanh vào một tương lai xa xôi hơn. Smil đã viết trong Scientific American: “Tốc độ chuyển tiếp năng lượng chậm chạp lần nầy không có gì đáng ngạc nhiên. Trong thực tế, điều đó đang được chờ đợi”.[3]

Tuy nhiên, phân tích của Smil đã cơ sở trên hai giả thiết: trước hết, môi trường kinh doanh thường lệ — theo đó các quyết định đầu tư vào năng lượng phần lớn sẽ được quyết định theo cùng một nhãn quan tìm kiếm doanh lợi như trong quá khứ — luôn tiếp diễn không thay đổi; và thứ đến, cũng sẽ phải mất nhiều thập kỷ trước khi các năng lượng tái tạo đem lại nhiều lợi nhuận hơn các nhiên liệu hóa thạch trên hai bình diện phí tổn và thực tiễn.

Nhưng cả hai giả thiết đều đã tỏ rõ lúc một sai lầm. Âu lo về biến đổi khí hậu đang làm thay đổi môi trường chính trị và quy luật điều hành, trong khi các tiến bộ trong kỹ thuật năng lượng gió và năng lượng mặt trời đang diễn ra với nhịp độ khác thường, loại bỏ lợi thế giá cả của nhiên liệu hóa thạch.

Theo Butler, “chiều hướng thay đổi đã khá rõ ràng. Với phí tổn các cơ sở năng lượng tái tạo sụt giảm, năng lượng mặt trời đã chuyển dịch từ một nguồn cung giới hạn không đáng kể và đã trở thành nguồn cung cạnh tranh cấp vùng quan trọng [so với nhiên liệu hóa thạch].”[4] Các chuyên gia  phần lớn đều đồng ý năng lượng tái tạo sẽ chiếm một phần ngày một lớn hơn trong ngân sách năng lượng toàn cầu trong những năm sắp đến.

Tuy nhiên, hầu hết các nhà phân tích dòng chính vẫn tiếp tục tin: nhiên liệu hóa thạch sẽ là hình thức năng lượng áp đảo trong nhiều thập kỷ sắp tới. Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ [DoE] tiên đoán thị phần năng lượng trên thế giới của năng lượng tái tạo, nguyên tử, và thủy lực, sẽ chỉ gia tăng từ 17% trong năm 2015 lên 22% năm 2040 – một tỉ suất thay đổi khó lòng đe dọa địa vị áp đảo của nhiên liệu hóa thạch.

Trong thực tế, tuy vậy, bốn khuynh hướng then chốt có thể tăng tốc nhịp độ chuyển tiếp qua nhiên liệu tái tạo theo nhiều phương cách đáng ngạc nhiên: (1) ý chí kiềm hãm tốc độ gia tăng của hiện tượng biến đổi khí hậu ngày một lớn mạnh trên toàn cầu; (2) thay đổi lớn lao trong lập trường tăng trưởng và cải thiện môi trường của Trung Quốc; (3) chấp nhận năng lượng xanh ngày một gia tăng mạnh mẽ  của thế giới đang phát triển; và (4) giá cả năng lượng tái tạo ngày một hạ thấp.

HIỂM HỌA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Sức đề kháng trước tiến bộ của khoa học biến đổi khí hậu hiện đã được phổ biến sâu rộng và đã bám trụ. Như đã được Naomi Klein chứng minh trong tác phẩm mới nhất  “Điều Nầy Đang Thay Đổi Mọi Thứ” [This Changes Everything], các đại công ty nhiên liệu hóa thạch đã phát động nhiều chiến dịch được tài trợ dồi dào trong nhiều năm để gieo rắc nghi ngờ về thực tế biến đổi khí hậu, trong khi các chính trị gia, thường được các đại công ty tài trợ, cũng đã ngăn cản các nỗ lực kiềm hãm khí thải carbon.

Cùng lúc, dân chúng thường tỏ ra ngần ngại xác quyết những gì đang xẩy ra và do đó, để xét xem cần phải làm gì để kiểm soát tình hình [một hiện tượng đã được George Marshall xét đoán trong bài “Đừng Ngay Cả Nghĩ Về Điều Nầy” [Don’t Even Think About It].

Trong khi đó, tác động tàn phá của thời tiết cực kỳ khắc nghiệt, kể cả hạn hán, lũ lụt, và bảo tố ngày một dữ dội, cũng đang ngày một rõ nét trong đời sống hàng ngày. Tình hình, tuy vậy, vẫn rõ ràng đang luôn thay đổi. Chúng ta có thể tóm tắt các bằng chứng lớn lao hậu thuẩn cho lượng định nầy, kể cả các cuộc thăm dò gần đây, nhưng có lẽ chỉ dấu ấn tượng nhất  của dịch chuyển có thể được tìm thấy trong các kế hoạch tiết giảm khí thải các-bon các quốc gia quan trọng đang đề nghị với giới lãnh đạo Liên Hiệp Quốc, hiện đang chuẩn bị một hội nghị thượng đỉnh về khí hậu toàn cầu ở Paris vào tháng 12 sắp tới.

Theo một biện pháp đã được chấp thuận bởi các đại biểu tham dự hội nghị thượng đỉnh gần đây nhất ở Lima, Peru, trong tháng 12-2014, tất cả các phái đoàn tham dự “Quy Ước Khung Liên Hiệp Quốc về Biến Đổi Khí Hậu [The U.N. Framework Convention on Climate Change – UNFCCC] đều cam kết đệ nạp các kế hoạch hành động chi tiết, được biếtnhư “các đóng góp ấn định với chủ ý bởi các quốc gia” [intended nationally determined contributions – INDCs] vào các dự án khí hậu toàn cầu. Các kế hoạch nầy, trong phần lớn, đã chứng tỏ khá ấn tượng, mạnh mẽ, và đầy tham vọng. Còn quan trọng hơn nữa, các con số đề nghị liên quan đến cắt giảm “khí thải các-bon”– một điều khó thể quan niệm chỉ cách đây vài năm.

Kế hoạch của Hoa Kỳ, chẳng hạn, hứa hẹn mức khí thải “các-bon” ở Mỹ sẽ sụt giảm 26%-28% dưới mức 2005 vào năm 2025, tượng trưng cho một sụt giảm đáng kể. Đã hẳn, vẫn còn có nhiều trở lực cho việc thành đạt mục tiêu nầy, nhất là vì lập trường cực lực đề kháng của giới lập pháp Cộng Hòa có nhiều dây liên hệ mật thiết với kỹ nghệ nhiên liệu hóa thạch. Tuy nhiên, Tòa Bạch Ốc cũng đã nhấn mạnh, nhiều biện pháp hứa hẹn trong INDC có thể sẽ thành tựu bằng hành động của ngành hành pháp, bao gồm các cắt xén khí thải các-bon từ các nhà máy chạy bằng than đá và các cải tiến luật định liên quan đến hiệu suất nhiên liệu dành cho xe hơi và xe vận tải.

Các quốc gia khác cũng đã đệ nạp các INDCs không kém tham vọng. Chẳng hạn, Mexico đã cam kết mức trần khí thải các-bon vào năm 2026, và tỉ lệ sụt giảm 22% mức khí thải nhà kính vào năm 2030. Cam kết của Mexico được xem như đặc biệt có ý nghĩa, vì đó là cam kết đầu tiên như thế bởi một quốc gia đang phát triển quan trọng. Tòa Bạch Ốc, trong một tuyên bố khen ngợi của Tổng Thống Obama, đã ghi nhận: “Mexico đã nêu gương cho phần còn lại của thế giới qua việc đệ nạp một INDC đúng lúc, rõ ràng, tham vọng, và được hậu thuẩn bởi các cam kết chính sách mạnh mẽ, vô điều kiện.”[5]

Không ai có thể tiên đoán kết quả của Hội Nghị Thượng Đỉnh về khí hậu vào tháng 12-2015, nhưng rất ít quan sát viên chờ đợi các biện pháp hội nghị có thể chấp thuận đủ mạnh mẽ để giữ mức gia tăng nhiệt độ toàn cầu trong tương lai dưới 2 độ Celsius, con số tối đa hầu hết các khoa học gia tin hành tinh có thể hấp thụ mà vẫn tránh được tai họa biến đổi khí hậu khi hiện tượng hâm nóng toàn cầu vượt quá những gì đã được chứng kiến cho đến ngày nay. Tuy nhiên, thực thi các INDCs, hay ngay cả một phần đáng kể các INDCs, ít ra cũng có thể đem lại một sụt giảm đáng kể trong số nhiên liệu hóa thạch tiêu thụ và có thể dẫn đến một tương lai tươi sáng hơn.

ĐỔI THAY LỚN TRONG CHÍNH SÁCH NĂNG LƯỢNG TRUNG QUỐC

Quyết tâm giảm thiểu trình độ lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch của Trung Quốc — một thay đổi mang tính quyết định, nhất là trước dự phóng nhu cầu năng lượng trong những thập kỷ sắp tới — cũng là một sự kiện quan trọng không kém.

Theo DoE, bách phân tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc trên thế giới được chờ đợi sẽ gia tăng từ 19% trong năm 2010 lên đến 27% năm 2040, với hầu hết số năng lượng gia tăng sẽ đến từ năng lượng hóa thạch. Nếu điều nầy thực sự xẩy ra, Trung Quốc có thể tiêu thụ 88 triệu tỉ BTU [88 quadrillion British thermal units] năng lượng hóa thạch nhiều hơn trong vòng 30 năm sắp tới, hay 43% số tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch gia tăng trên toàn thế giới.

Vì vậy, bất cứ những động thái có ý nghĩa nào của Trung Quốc nhằm tiết giảm lệ thuộc vào các nguồn nhiên liệu hóa thạch, như hiện nay đã được các quan chức cao cấp của chính quyền hứa hẹn, đều có thể có một tác động lớn lao trên phương trình năng lượng toàn cầu.

Trung Quốc vẫn chưa đệ nạp INDC của mình, nhưng kế hoạch của Trung Quốc được chờ đợi hàm chứa toàn bộ các cam kết bởi Chủ Tịch Tập Cận Bình trong buổi họp mặt với Tổng Thống Obama ở Bắc Kinh trong tháng 11-2014. Họ Tập đã hứa hẹn mức trần khí thải các-bon của Trung Quốc vào năm 2030 và gia tăng bách phân “nhiên liệu phi-hóa-thạch” trong tổng số năng lượng tiêu thụ cơ bản lên khoảng 20% vào lúc đó.

Tập Cận Bình “cũng đã nhất trí sẽ làm việc với phía Hoa Kỳ nhằm bảo đảm các cuộc thương nghị quốc tế về biến đổi khí hậu sẽ đạt thỏa hiệp đúng hẹn tại hội nghị Paris trong năm 2015.”[6]

Mặc dù kế hoạch của Trung Quốc cho phép số khí thải các-bon tiếp tục gia tăng thêm 15 năm, kế hoạch vẫn tiết giảm đáng kể ngạch số năng lượng mới từ nhiên liệu hóa thạch. Theo một tuyên bố của Tòa Bạch Ốc, “Kế hoạch sẽ đòi hỏi Trung Quốc triển khai một số 800-1.000 gigawatts hạt nhân, gió và mặt trời, và các nguồn zero-khí-thải khác vào năm 2030 — nhiều hơn tất cả các nhà máy điện chạy bằng than hiện hữu ở Trung Quốc ngày nay.”[7]

Hơn nữa, hình như giới lãnh đạo Trung Quốc cũng đang chuẩn bị hành động nhanh chóng hơn các cam kết của chính họ trong quá trình chuyển tiếp ra khỏi các nhiên liệu hóa thạch. Dưới áp lực từ giới thị dân cần cắt giảm mức ô nhiễm bởi khói và sương mù độc hại, nhà cầm quyền đã loan báo nhiều kế hoạch đầy tham vọng giảm bớt lệ thuộc vào than đá trong quá trình sản xuất điện lực, và thay vào đó, sẽ sử dụng thủy điện, điện hạt nhân, năng lượng gió và mặt trời, cũng như hơi đốt thiên nhiên.

Trong tháng 3 vừa qua, Thủ Tướng Lý Khắc Cường cũng đã tuyên bố trước Quốc Hội Nhân Dân, cơ quan lập pháp Trung Quốc: “Chúng ta sẽ cố gắng không gia tăng tiêu thụ than đá trong nhiều khu vực then chốt của đất nước.”[8]

Cũng như ở Hoa Kỳ, giới lãnh đạo Trung Quốc cũng sẽ phải đối đầu với giới đặc quyền đặc lợi nhiên liệu hóa thạch, cũng như các cơ cấu chính quyền địa phương. Tuy nhiên, sự quyết tâm rõ ràng của họ cần giảm bớt lệ thuộc vào dầu lửa và than đá đã phản ảnh một thay đổi thực sự trong tâm thức và tư duy. Khuynh hướng đổi thay rất có thể sẽ đưa đến một quang cảnh năng lượng khác hơn là tâm thức và tư duy của Bộ Năng Lượng và cho đến gần đây, của hầu hết giới chuyên gia.

Mặc dù rất nhiều tiên đoán được lặp lại nhiều lần về khuynh hướng tiêu thụ than đá luôn gia tăng, Trung Quốc, trong thực tế, chẳng hạn, đã đốt than đá ít hơn trong năm 2014 so với các năm trước, một sụt giảm lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ. Cùng lúc, Trung Quốc cũng đã gia tăng chi tiêu về các hình thức năng lượng tái tạo với một tỉ suất ấn tượng 33% trong năm 2014 — đầu tư một tổng số 83,3 tỉ: con số đầu tư lớn nhất bởi một xứ trong một năm vào tương lai nhiên liệu tái tạo. Nếu Trung Quốc dẫn đầu trên toàn cầu và những khuynh hướng như thế tiếp tục, quá trình chuyển tiếp từ năng lượng hóa thạch qua năng lượng tái tạo sẽ xẩy ra sớm hơn rất nhiều hơn là chờ đợi.[9]

CÁCH MẠNG XANH TRÊN TOÀN CẦU

Các đại công ty dầu từ lâu đã phải xác nhận các quốc gia tiền tiến như Hoa Kỳ, Nhật, và Âu châu, rất có thể sẽ chuyển tiếp từ nhiên liệu hóa thạch qua năng lượng tái tạo, nhưng vẫn tiếp tục nhấn mạnh các xứ đang phát triển — đang nóng lòng bành trướng kinh tế nhưng còn quá nghèo để đầu tư  vào năng lượng thay thế — sẽ phải tiếp tục lệ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch.

Quan điểm nầy đã thúc đẩy ExxonMobil và các đại công ty năng lượng khác, luôn đầu tư vào các nhà máy lọc dầu, các tuyến ống dẫn chuyển tải, và các hạ tầng cơ sở khác nhằm thỏa mãn số cầu nhiên liệu hóa thạch tiên đoán của thế giới phương Nam. Nhưng điều đáng ngạc nhiên vẫn là: các quốc gia nầy cũng đã có nhiều dấu hiệu hướng về nhiên liệu tái tạo trong nỗ lực bành trướng sản ngạch năng lượng.

Tài liệu đầy ấn tượng về thái độ nhiệt thành với các hình thức năng lượng tái tạo một cách đáng ngạc nhiên của thế giới phương Nam đã được thu thập trong tập “Các Khuynh Hướng Toàn Cầu Đầu Tư Vào Năng Lượng Tái Tạo 2015” [Global Trends in Renewable Energy Investment  2015], một công trình hợp tác gần đây giữa “Frankfurt School of Finance and Management” và  “Chương Trình Môi Trường Liên Hiệp Quốc [U.N. Environment Programme]”. Tài liệu cho biết các quốc gia đang phát triển, ngoại trừ Trung Quốc, đã chi tiêu 30 tỉ USD cho các năng lượng tái tạo trong năm 2014, một gia tăng lớn lao so với năm trước. Cùng với Trung Quốc, số đầu tư vào năng lượng tái tạo trong thế giới đang phát triển đã gần bằng với số đầu tư của các xứ phát triển trong cùng năm.

Các số gia tăng đầu tư đáng kể vào năng lượng tái tạo cũng đã được ghi nhận ở Brazil [7,6 tỉ USD], ở Ấn Độ [7,4 tỉ], và South Africa [5,5 tỉ]; số đầu tư 1 tỉ hay nhiều hơn đã được ghi nhận ở Chile, Indonesia, Kenya, Mexico, và Turkey. Với số đầu tư không đáng kể vào năng lượng tái tạo của các xứ nầy cách đây vài năm, chúng ta có thể nói đây là dấu hiệu của thời kỳ đang thay đổi hay chuyển tiếp.

Cũng đáng ngạc nhiên không kém khi các xứ sản xuất dầu lửa cũng bắt đầu quan tâm nhiều hơn vào năng lượng xanh. Chẳng hạn, vào tháng 1-2015, Cơ Quan “Dubai Electricity and Water Authority” đã dành một hợp đồng xây cất một nhà máy điện dùng năng lượng mặt trời 200 megawatts, trị giá 330 triệu USD, cho công ty “ACWA Power International” của Saudi Arabia. Hợp đồng đã thu hút sự chú ý rộng rãi khi ACWA  hứa: nhà máy sẽ cung cấp điện với giá 58,50 USD mỗi megawatt-hour, rẻ hơn đến 1/3 phí tổn nhà máy phát điện sử dụng hơi đốt thiên nhiên.

Theo “Mark Lewis of Kepler Cheuvreux”, một công ty dịch vụ tài chánh Âu Châu, “đây là một thành công lớn lao trong các Vương Quốc sử dụng dầu lửa và một biểu hiện rõ ràng của thời kỳ chuyển tiếp năng lượng toàn cầu đang diễn tiến. Chúng tôi nghĩ: đây là hợp đồng mốc giới cả trên bình diện phí tổn cực kỳ cạnh tranh của dự án phát điện và tiềm năng chuyển tiếp qua hình thức năng lượng tái tạo lớn lao hơn rất nhiều trong các xứ cho đến nay luôn tỏ ra cực kỳ ngần ngại chấp nhận các năng lượng tái tạo.”[10]

GIÁ THÀNH NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO SỤT GIẢM

Như thỏa hiệp Dubai đã cho thấy, giá cả luôn giữ một vai trò quyết định trong quá trình chuyển tiếp từ nhiên liệu hóa thạch qua nhiên liệu tái tạo. Nếu cứ nghe theo giới lãnh đạo kỹ nghệ năng lượng than đá và dầu lửa, các bạn sẽ luôn nghĩ các xứ nghèo sẽ không có lựa chọn nào khác và luôn phải tùy thuộc vào hình thức năng lượng đã chọn lựa [hóa thạch] vì giá thấp so với các hình thức năng lượng khác [tái tạo].

Theo Rex Tillerson, CEO và Chủ Tịch ExxonMobil,  “hiện vẫn còn hàng trăm triệu và ngay cả  hàng tỉ người, đang sống trong nghèo khó cùng cực trên thế giới. Họ cần điện lực có thể tin cậy, họ có thể có đủ khả năng để thanh toán…, và họ ưa thích sử dụng năng lượng hóa thạch vì lẽ chất lượng đời sống của họ có thể được cải thiện lớn lao, và sức khỏe của họ và con cái của họ, cũng như tương lai của họ, có thể được cải thiện cực kỳ.”[11]

Cho đến gần đây, điều nầy luôn là một “phúc âm” đối với các chuyên gia dòng chính, nhưng phí tổn của các nhiên liệu tái tạo, đặc biệt là của năng lượng mặt trời, đã sụt giảm nhanh chóng đến độ, ngay vào lúc giá dầu lửa đang sụt giảm còn một nửa, tin tức khắp nơi không thể nào rõ ràng hơn: các nhiên liệu hóa thạch không còn được bảo đảm một lợi thế về giá cả khi phân phối năng lượng đến các xứ đang phát triển. Trong số các dấu hiệu báo trước thay đổi nầy: giá các “solar photovoltaic cells” [PVs] đã sụt giảm 50% trên toàn cầu kể từ 2010.

Nói một cách khác, năng lượng mặt trời hiện nay đang cạnh tranh hữu hiệu với dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên, ngay cả vào lúc giá nhiên liệu hóa thạch cực thấp hiện nay. Một phúc trình trong tháng 3-2015 của “National Bank of Abu Dhabi” đã kết luận: “Giá cả không còn là lý do để từ chối các hình thức năng lượng tái tạo”. Lewis of Kepler Cheuvreux cũng đã phát biểu: “Qua thời gian, trong khi phí tổn kỹ thuật tái tạo tiếp tục sụt giảm và “tiết kiệm nhờ kích cỡ” tiếp tục gia tăng, tính cạnh tranh tương đối của năng lượng tái tạo trên  thị trường năng lượng toàn cầu sẽ chỉ có thể gia tăng ngày một nhiều hơn.”[12]

Các bạn cũng nên nhớ các quốc gia đang phát triển còn có một lý do thuyết phục khác để lựa chọn nhiên liệu tái tạo thay vì năng lượng hóa thạch, không vì lý do giá cả,  mà vì lý do các phí tổn thuộc một loại khác. Như các phúc trình gần đây nhất của “Hội Đồng Liên Chính Phủ về Biến Đổi Khí Hậu của Liên Hiệp Quốc” [U.N.’s Intergovernmental Panel on Climate Change — IPCC] đã làm rõ: các xứ nghèo trong thế giới phương Nam sẽ bị tàn phá nhiều hơn [và sớm hơn] bởi tai họa biến đổi khí hậu,  hơn các quốc gia thuộc “thế giới phương Bắc”.

Sở dĩ như vậy là vì các xứ nghèo thuôc thế giới phương Nam được chờ đợi phải trải nghiệm nhiều sụt giảm quan trọng trong vũ lượng và nhiều hạn hán khắt khe, đe dọa số cung thực phẩm đối với hàng trăm triệu dân cư. Tổng hợp các âu lo đó với giá cả sụt giảm của năng lượng tái tạo, hậu quả rõ ràng là quá trình chuyển tiếp ra khỏi nhiên liệu hóa thạch sẽ xẩy ra nhanh hơn dự đoán trong các vùng các đại công ty năng lượng luôn chờ đợi sẽ mang lại nhiều doanh lợi cho chính họ trong tương lai.

MỘT THẾ GIỚI MỚI ĐANG DẦN LỘ DIỆN

Các nhân tố kể trên, tất cả đều tương đối bất ngờ, đã đưa đến một kết luận khá rõ ràng: chúng ta đang chứng kiến sự khởi đầu của một chuyển tiếp năng lượng toàn cầu, một chuyển tiếp có thể đảo lộn mọi chờ đợi trên mọi bình diện chính trị, môi trường, và kinh tế.

Đã hẳn, các biến đổi nầy sẽ không xẩy ra trong đầu hôm sáng mai, và sẽ phải đối đầu với một đối lực mãnh liệt từ giới đặc quyền đặc lợi truyền thống và hùng cường đang sở hữu toàn bộ các nhiên liệu hóa thạch. Theo các giới nầy, thời gian chuyển tiếp có thể sẽ phải mất hàng thập kỷ, hay theo nhiều chuyên gia như Vaclav Smil, phải mất ít ra một nửa thế kỷ.

Tuy vậy, giai đoạn chuyển tiếp cũng đã chứng tỏ nhiều dấu hiệu tăng tốc, có nghĩa lòng tin của của giới nầy khó thể đứng vững. Nhiên liệu hóa thạch — và các đại công ty, các chính trị gia, và các nhà-nước-dầu-lửa từ lâu đã thủ lợi — sẽ sớm mất đi quy chế áp đảo của mình và sẽ sớm bị thay thế bởi các giới cung cấp năng lượng tái tạo một cách chóng vánh.

Ngay cả với nhịp độ tăng tốc đầu tư vào kỹ thuật xanh, cơ may nhiệt độ của thế giới được duy trì ở mức gia tăng 2 độ Celsius — bậc thềm tối quan trọng trước tai biến do thảm họa biến đổi khí hậu — không may lại quá nhỏ bé. Điều nầy có nghĩa: con cái, cháu chắt của chúng ta sẽ phải sinh sống trong một thế giới rõ rệt kém may mắn hơn nhiều.

Nhưng trong khi các hậu quả thảm họa của biến đổi khí hậu trở nên rõ rệt và bám chặt vào đời sống hàng ngày trên khắp hành tinh, áp lực thúc đẩy phải kiềm hãm mạnh mẽ hiện tượng hâm nóng toàn cầu sẽ chỉ có thể gia tăng cường độ. Điều nầy có nghĩa: áp lực thúc đẩy và áp đặt các biện pháp cắt xén nghiêm ngặt các nhu cầu tiêu thụ dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên và các biện pháp chế tài đối với các hình thức kích cầu năng lượng hóa thạch của các đại công ty hậu thuẩn cũng sẽ ngày một gia tăng.

Nói một cách khác, chúng ta đang nói đến nhu cầu vun đắp một  ý chí và xung lực yểm trợ quá trình chuyển tiếp năng lượng, có nghĩa: đa số nhân loại sống trên hành tinh ngày nay sẽ trải nghiệm sự thăng tiến của năng lượng tái tạo.

Cũng như các đợt chuyển tiếp năng lượng trước đây, đợt chuyển tiếp nầy sẽ đem lại kẻ thắng người thua. Các quốc gia và các công ty đảm nhiệm vai trò lãnh đạo trong quá trình phát triển và thiết kế các kỹ thuật xanh tiền tiến có nhiều cơ may phát đạt và thành công trong những năm trước mặt, trong khi những ai nhất quyết duy trì mãi mãi năng lượng hóa thạch sẽ phải trải nghiệm suy sụp về tài sản và quyền lực. Riêng đối toàn thể nhân loại trên hành tinh, một chuyển tiếp như thế cũng khó thể diễn ra đủ sớm.

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

24-4-2015

[1] “Fossil fuels are our most enduring energy source,” said Ali Al-Naimi, Saudi Arabia’s minister of petroleum and mineral resources, in April 2013.  “They are the driving force of economic development in the U.S., Saudi Arabia, and for much of the developed and developing world [and] they have the capacity to sustain us well into the future.”

[2]   “Rapidly spreading solar technology could change everything,” energy analyst Nick Butler recently wrote in the Financial Times.  “There is growing evidence that some fundamental changes are coming that will over time put a question mark over investments in old energy systems.”

[3] “The slow pace of this energy transition is not surprising,” he wrote in Scientific American.  “In fact, it is expected.”

[4]   “The direction of change is clear,” Butler writes.  With the cost of renewable installations falling, solar power has moved “from being a niche supplier to being a major regional competitor [to fossil fuels].”

[5] “Mexico is setting an example for the rest of the world by submitting an INDC that is timely, clear, ambitious, and supported by robust, unconditional policy commitments,” the Obama White House noted in a congratulatory statement.

[6] He also agreed to work with the U.S. “to make sure international climate change negotiations will reach agreement as scheduled at the Paris conference in 2015.”

[7]“It will require China to deploy an additional 800-1,000 gigawatts of nuclear, wind, solar, and other zero-emission generation capacity by 2030 — more than all the coal-fired power plants that exist in China today.”

[8] “We will strive for zero-growth in the consumption of coal in key areas of the country,”

[9]Despite repeated predictions of ever-increasing coal consumption, for instance, China actually burned less coal in 2014 than in the previous year, the first such decline in decades.  At the same time, it increased its spending on renewable forms of energy by an impressive 33% in 2014, investing a total of $83.3 billion — the most ever spent by a single country in one year — to a renewable future.  If China leads the way globally and such trends continue, the transition from fossil fuels to renewables will occur far sooner than expected.

[10] “This is a major breakthrough in the oil-fired Emirates and a clear demonstration of the ongoing global energy transition,” suggested Mark Lewis of Kepler Cheuvreux, a European financial services company.  “We think this is a landmark deal both in terms of the extremely competitive cost at which the project will generate power and the potential for a much greater take-up of renewables in countries that have so far been slow to embrace them.”

[11] “There are still hundreds of millions, billions of people living in abject poverty around the world,” said Rex Tillerson, the CEO and Chairman of ExxonMobil.  “They need electricity they can count on, that they can afford… They’d love to burn fossil fuels because their quality of life would rise immeasurably, and their quality of health and the health of their children and their future would rise immeasurably.”

[12] “Over time, as renewable-technology costs continue to come down and economies of scale continue to increase, the relative competitiveness of renewables in the global energy mix will only increase further.”

 

Advertisements